Bản án số 1455/2026/DS-PT ngày 30/07/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1455/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1455/2026/DS-PT ngày 30/07/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1455/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn. Xác định một phần nhà tranh chấp thuộc quyền của nguyên đơn, công nhận nguyên giá trị phần nhà do nguyên đơn xây. Sửa bản án dân sự sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1455/2026/DS-PT Bản án số 1455/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1455/2026/DS-PT Bản án số 1455/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 1455/2026/DS-PT
Ngày: 30-7-2026
V/v tranh chấp về thừa kế tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trúc.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Huỳnh;
Ông Bùi Ngọc Thạch.
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Mỹ Dung Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23 30 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ
số 1296/2025/TLPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2025 về việc “tranh chấp về
thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử số 1935/2026/QĐ-PT ngày 30 tháng
3 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 5597/2026/QĐ-PT ngày 20
tháng 4 năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số 7214/2026/QĐ-
PT ngày 14 tháng 5 năm 2026; Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số
8998/2026/QĐ-PT ngày 12 tháng 6 năm 2026; Thông báo mở lại phiên tòa số
9648/TB-TA ngày 25 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Thanh T, sinh năm 1972; địa chỉ: Số A ấp N,
xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Phạm Thị Thúy H, sinh năm 1970; địa chỉ: số C, tổ C, khu phố B, Đ,
Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: H, khu phố D, xã H, Thành phố Hồ Chí
Minh, là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền ngày 09/7/2025);
mặt.
2
Nguyễn Thị N, sinh năm 1991 bà Đỗ Thanh T1, sinh năm 1988; cùng
địa chỉ liên hệ: số B, đường L, ấp B, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại
diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền ngày 02/12/2025); có mặt.
- Bị đơn: Nguyễn Thục H1, sinh năm 1974; địa chỉ: số D, khu phố T,
phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, (nay phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Trần Phạm Hải Đ, sinh năm 2000;
địa chỉ liên hệ: số C, T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
phường Đ, Thành ph Hồ Chí Minh), là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy
ủy quyền ngày 25/12/2024); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Đức T2
Luật sư của ng ty L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Lê H2, sinh năm 1995; địa chỉ: số A, ấp N, xã B, huyện H,
Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
2. Nguyễn Thị M, sinh năm 1977; địa chỉ: số A, ấp N, B, huyện H,
Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh); có đơn đề nghị
giải quyết vắng mặt.
3. Cháu Trương Anh T3, sinh ngày 29/9/2011; địa chỉ: số A, ấp N, B,
huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp ca cháu Trương Anh T3: Ông Trương Thanh T,
sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1977; cùng đa chỉ: số A, ấp N, xã
B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là B, Thành phố Hồ Chí Minh),
người đại diện theo pháp luật (cha, mẹ); đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trương Thanh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Trương Thanh T người đại diện hợp pháp của nguyên
đơn trình bày:
Ông Trương Công T4, sinh năm 1948 (chết ngày 21/5/1972) và bà Nguyễn
Thị T5, sinh năm 1950 (chết ngày 26/4/2022) là vợ chồng, kết hôn ngày
16/5/1972. Quá trình chung sống, ông T4 và T5 01 người con chung tên
Trương Thanh T, sinh năm 1972. Sau khi ông T4 chết, Thủy sinh thêm 01
người con tên Nguyễn Thục H1, sinh năm 1974. Ngoài 02 người con trên thì
T5 không còn người con nào khác kể cả con nuôi. Bà T5 là trẻ mồ côi nên không
rõ cha mẹ bà T5 là ai, bà T5 không có cha mẹ nuôi.
Nguồn gốc quyền sử dụng đất tranh chấp diện tích 64m
2
tọa lạc tại ấp N,
B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là B, Thành phố Hồ Chí Minh) do
ông T bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng của ông Ba N1 vào năm 1999. Hiện ông N1
3
đã chết nên không thể làm chứng. Tuy nhiên, do bận đi làm việc nên tất cả thủ tục
từ việc hợp đồng mua bán với ông N1, việc trả tiền làm thủ tục cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đều do mẹ ông là bà Nguyễn Thị T5 tiến hành và
đứng tên bà T5.
Đến năm 2004, T5 được Ủy ban nhân dân (sau viết tắt là UBND) huyện
H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 112 QSDĐ/Q5 với diện tích 64m
2
thuộc thửa số 470
-1
, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Năm 2016, T5 được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ cấp Giấy chứng
nhận: CH 01160 do UBND huyện H cấp ngày 08/12/2016 đối với thửa đất số 635,
tờ bản đồ số 55, tọa lạc tại xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích đất
64m
2
và nhà diện tích xây dựng 32,3m
2
. Đến năm 2018, ông T xây dựng
diện tích nhà ở 24 m
2
. Ông T là người quản lý, sử dụng toàn bộ căn nhà, đất này.
Năm 2022, T5 chết không để lại di chúc. Do ông T H1 không thống
nhất được việc phân chia căn nhà và đất số 11/3 nêu trên. Vì vậy, ông T yêu cầu
Tòa án xác nhận và chia di sản thừa kế do mẹ ông là bà Nguyễn Thị T5 để lại căn
nhà và đất số A, ấp N, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh giá trị khoảng
500.000.000 đồng. Ông T xin được hưởng giá trị 430.000.000 đồng xin nhận
hiện vật là toàn bộ nhà đất trên, ông T sẽ giao cho bà H1 70.000.000 đồng.
Theo kết quả đo đạc thực tế phần diện tích đất tranh chấp là 64,4m
2
nhiều
hơn so với phần diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 0,4m
2
là do quá trình xây dựng có lợp mái tôn lấn ra hẻm xi măng 0,4m
2
. Đối với phần
diện tích đất này ông không tranh chấp, trường hợp được nhận di sản là hiện vật
thì ông T tự nguyện tháo dỡ phần diện tích lấn chiếm 0,4m
2
.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là
Phạm Thị Thúy H trình bày: Trích lục bộ Khai sanh, lập ngày 25/3/1974 của
Nguyễn Thục H1 do ông Tâm giao N2 nguồn gốc ông T nhặt được. Tại Chứng
thư không tái giá số 996/TTN do T, quận H, tỉnh Gia Định cấp ngày 15/10/1974
thể hiện từ ngày chồng chết đến nay bà Nguyễn Thị T5 không bỏ nhà chồng
không đương nhiên ăn với người nào khác vẫn vậy đến nay”. H1 không
cung cấp được cho Tòa án chứng cứ chứng minh ông Lưu Chấn S chồng thứ
hai của T5. Đối với phần nhà xây dựng trên đất bà H1 khai vào năm 2018,
H1 đang ở Bình Dương nên ông T tự tiện xây hết toàn bộ diện tích đất 32m
2
còn
lại. Lời khai của bà H1 phù hợp với hóa đơn ông T mua vật liệu xây dựng nhà đã
nộp cho Tòa án, do đó toàn bộ giá trị căn nhà của ông T. Đối với quyền sử dụng
đất là do ông T và bà T5 góp tiền mua chung. Bà H1 không chứng minh được là
con ruột của bà T5 nên H1 không được hưởng thừa kế phần tài sản là ½ quyền
sử dụng đất, ông T là người thừa hưởng duy nhất.
Bị đơn Nguyễn Thục H1 người đại diện hợp pháp của bà H1 trình
bày:
4
Cha bà Nguyễn Thục H1 là ông Lưu Chấn S (đã chết năm 1994, không có
thông tin) và mẹ Nguyễn Thị T5, sinh năm 1950 (chết ngày 26/4/2022).
Ngoài ông T H1 thì T5 không còn con ruột hay con nuôi nào khác.
T5 là trẻ mồ côi nên không biết cha mẹ ruột là ai và cũng không có cha mẹ nuôi.
Vào khoảng năm 2000, T5 nhận chuyển nhượng quyền sdụng đất
diện tích 64m
2
tọa lạc tại số A, ấp N, B, huyện H, với số tiền 18.000.000 (mười
tám triệu) đồng. Do không đủ tiền nên T5 mua theo hình thức trả góp, trtrước
9.000.000 đồng, còn 9.000.000 đồng trả dần. Khi T5 lấy ông S 02 người đã
tích góp được một khoản tiền, bà không rõ số tiền cụ thể là bao nhiêu, thời điểm
đó bà cũng đi làm công nhân và đưa tiền cho mẹ. Tổng số tiền H1, ông S bà
T5 tích cóp được 9.000.000 đồng dùng trả trước tiền đất. Ông T không đi làm,
không đóng góp đồng nào. Số tiền 9.000.000 đồng còn nợ, bà H1 đi làm được bao
nhiêu thì đưa hết cho T5 tiền T5 đi làm tích cóp được, số nợ trên được
trả hết vào năm 2002.
Tháng 10/2002, căn nhà được xây dựng khi H1, ông T T5 mỗi
người đóng góp 6.000.000 đồng, tổng giá trị xây nhà là 18.000.000 đồng với diện
tích 32m
2
, còn lại 32m
2
T5 mong muốn để lại cho H1, bà H1 còn chi 01 chỉ
vàng để làm giếng nước cho căn nhà. Ngoài ra, bà H1 còn góp 20.000.000 đồng
chi phí làm sổ hồng căn nhà. Trước đây H1 sống chung với T5, đến năm
2004 bà H1 kết hôn và chuyển về Bình Dương sống với gia đình chồng, đến năm
2011 T5 ông H2 về sống chung với ông T tại căn nhà số A ấp N, B, huyện
H. Năm 2018, bà H1 đang ở Bình Dương, do ở xa không có thông tin nên ông T
tự tiện xây hết toàn bộ diện tích 32m
2
còn lại mà bà T5 muốn để lại cho bà H1.
Thời điểm T5 bị bệnh H1 người chăm sóc lo tiền thuốc men,
viện phí chủ yếu, ông T chỉ lo phần nhỏ. Hiện nay, T5 chết không đlại di
chúc, ông T nhiều lần yêu cầu bà H1 phải sang tên cho vợ chồng ông T đứng tên
và chia cho bà H1 70.000.000 đồng nhưng H1 không đồng ý quyền sử dụng
đất và căn nhà này có sự đóng góp của bà nên bà yêu cầu chia đôi di sản thừa kế
theo pháp luật.
Theo kết quả đo đạc thực tế phần diện tích đất tranh chấp là 64,4m
2
nhiều
hơn so với phần diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 0,4m
2
là do quá trình xây dựng có lợp mái tôn lấn ra hẻm xi măng 0,4m
2
. Đối với phần
diện tích đất này bà không tranh chấp, trường hợp được nhận di sản hiện vật thì
H1 tự nguyện tháo dỡ phần diện tích lấn chiếm 0,4m
2
.
Tại phiên tòa thẩm, H1 đnghị Tòa án chia đôi giá trị di sản nhà
đất đồng ý trả lại cho ông T một nửa số tiền 14.927.850 đồng tiền thuế
ông T đã đóng thay cho bà T5.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Lê H2 trình bày:
Ông Nguyễn Lê H2 có mẹ tên Nguyễn Thục H1 và cha tên Lê Văn D (năm
sinh không rõ, chết năm 1995). Từ khi ông H2 02 tuổi thì sống với bà ngoại
(Nguyễn Thị T5) cậu Trương Thanh T cho đến hiện nay tại căn nhà số A ấp N,
5
B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2022, T5 chết không để lại di
chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của T5 02 người gồm: Ông Trương Thanh T
Nguyễn Thục H1, ngoài ra không còn ai khác. Đối với yêu cầu khởi kiện
của ông T thì ông H2 đnghị chia đôi vì quyền sử dụng đất và căn nhà đang tranh
chấp có công sức đóng góp của bà H1, thời điểm bà T5 bị bệnh thì ông H2 và bà
H1 đều công chăm sóc. Do ông H2 không công sức đóng góp, tôn tạo đối
với tài sản thừa kế do bà ngoại để lại nên không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án
này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M trình bày:
Giữa bà với ông Trương Thanh T có mối quan hvợ chồng, có đăng ký kết
hôn năm 2008. Sau khi kết hôn bà chuyển về sống cùng ông T tại địa chỉ số A, ấp
N, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2008 cho đến nay. Hiện nay,
tại địa chỉ trên có vợ chồng bà, con trai tên Trương Anh T3 cháu tên Nguyễn
Lê H2, ngoài ra không còn ai sinh sống trên đất. Quá trình chung sống, bà không
công sức đóng góp, tôn tạo gì nên không có yêu cầu độc lập trong vụ án. Đối
với yêu cầu khởi kiện của ông T thì bà thống nhất. Hàng thừa kế thứ nhất của bà
Nguyễn Thị T5 gồm 02 người: Ông Trương Thanh T và bà Nguyễn Thục H1.
Người đại diện hp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu
Trương Anh T3 ông Trương Thanh T Nguyễn Thị M trình bày: Thống
nhất với lời khai của ông Trương Thanh T với tư cách là nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 29/7/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trương Thanh T v vic
yêu cầu chia di sản tha kế của bà Nguyễn Thị T5.
Chia di sản của bà Nguyễn Thị T5 để lại quyền sử dụng đất diện tích
64m
2
thuộc thửa đất số 635, tờ bản đồ số 55 căn nhà gắn liền với đất diện
tích 56,6m
2
tọa lạc tại ấp N, B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là
B, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở tài sản gắn liền với đất số CE157387, số vào sổ cấp GCN: CH01160
do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/12/2016 cụ
thể như sau:
Ông Trương Thanh T và bà Nguyn Thc H1 mi người được hưởng phần
di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị T5 là 32m
2
quyền sử dụng đất tương đương số
tiền 1.037.888.000 đồng và giá tr tài sản là căn nhà gắn liền với đất 203.844.971
đồng: trong đó ông T được hưởng 60% tương đương số tiền 122.306.983 đồng
H1 được hưởng 40% tương đương số tiền 81.537.988 đồng. Tổng cộng, giá trị
phần di sản ông Trương Thanh T được hưởng 1.160.194.983 Nguyễn
Thục H1 được hưởng là 1.119.425.988 đồng.
Công nhận cho ông Trương Thanh T được quyền quản lý sử dụng phần đất
diện tích 64m
2
và căn nhà gắn liền với đất tọa lạc tại ấp N, xã B, huyn H, Thành
ph H Chí Minh (nay xã B, Thành ph H Chí Minh) theo ranh giy chng
6
nhn cp nht theo bng lit tọa độ góc ranh trên GCN s CE 157387 do UBND
huyn H cp ngày 08/12/2016 (vị trí (1) + (3) sơ đồ bn v kèm theo).
Buộc ông Trương Thanh T phải tháo dở phần diện tích xây dựng lấn chiếm
0,4m
2
(vị trí (2) + (4) sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Ông Trương Thanh T được quyền đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.
Ông Trương Thanh T trách nhiệm thanh toán cho Nguyễn Thục H1
giá trị kỷ phần thừa kế được chia (sau khi cấn trừ tiền thuế 14.927.850 đồng) là:
1.104.498.138 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án nếu người
phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất
quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền
và thời gian chậm thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng
cáo, trách nhiệm thi hành án của đương sự.
Ngày 31 tháng 7 năm 2025, nguyên đơn ông Trương Thanh T kháng cáo
toàn bbản án thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, không
rút kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Theo đơn khởi kiện thì ông T khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung và chia
thừa kế đối với nhà, đất tranh chấp nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ giải quyết yêu
cầu chia thừa kế, không giải quyết yêu cầu chia tài sản chung là vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng. Nguồn gốc đất tranh chấp do ông T nhận chuyển nhượng
của vợ chồng ông Nguyễn Văn N3 Trần Thị T6, T5 chỉ người đứng
tên dùm. Tòa án cấp thẩm xác định nhà, đất của T5 không có cơ sở. Tại
phiên tòa phúc thẩm, ông T cung cấp được chứng cứ chứng minh là Giấy cam kết
ngày 17/3/2000 Văn bản xác nhận ngày 04/5/2026 của Trần Thị T6 đề
nghị Tòa án đưa bà Trần Thị T6 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan nhưng chưa được xem xét, việc Tòa án thẩm không xác
minh nguồn gốc đất, không đưa T6 tham gia tố tụng vi phạm nghiêm
trọng.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản ca T5, trong khi ông T chứng minh
được nguồn gốc tài sản của ông T, do đó đề nghị Tòa án công nhận giao dịch
chuyển nhượng đất giữa ông N3 ông T hiệu lực, công nhận diện tích đất
64m
2
thuộc quyền sử dụng đất của ông T.
Đối với căn nhà trên đất tranh chấp là do ông T bỏ tiền ra xây dựng, Tòa án
cấp sơ thẩm chia cho H1 40% không sở. Ông T chứng minh được bằng
7
Hợp đồng dịch vụ ngày 14/9/2016, ông T bra 10.000.000 đồng để thuê người
làm thủ tục giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nộp thuế trước bạ 29.000.000
đồng. Lời khai của H1 cũng thừa nhận ông T người xây nhà đối với phần
nhà xây dựng năm 2018, đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đề nghị Tòa án công nhận quyền sở hữu nhà cho
ông T.
Ông T chưa bao giờ công nhận H1 con của Nguyễn Thị T5. Do
Tòa án cấp thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục ttụng, đnghị Tòa án cấp
phúc thẩm giải quyết theo hướng công nhận nhà, đất cho nguyên đơn hoặc hủy
bản án sơ thẩm.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn sự mâu thuẫn ban đầu, ông
Trương Thanh T khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với nhà, đất tranh chấp, đồng
thời cho rằng tài sản là của riêng ông T. Đến cấp phúc thẩm, nguyên đơn thay đổi
yêu cầu theo hướng đề nghị công nhận toàn b quyền sử dụng đất thuộc ông T
cho rằng ông T người trực tiếp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ
Trần Thị T6 và ông Nguyễn Văn N3. Tuy nhiên, bị đơn không đồng ý ý kiến ca
nguyên đơn toàn bộ hồ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận, hướng dẫn khai và giải quyết theo
đúng trình tự, thủ tục cấp cho bà T5; không có căn cứ xác định bà Nguyễn ThT5
đứng tên giùm cho ông T. Bản cam kết ngày 17/3/2000 và văn bản xác nhận của
Trần Thị T6 chỉ là lời xác nhận một phía, không đủ căn cứ để xác định quyền
sử dụng đất thuộc về ông T.
Đối với nguồn gốc căn nhà trên đất tranh chấp, bị đơn xác định người trực
tiếp xây dựng căn nhà ban đầu Nguyễn Thị T5. Việc bị đơn biết vào năm
2018 hoạt động xây dựng, sửa chữa trên đất không đồng nghĩa với việc thừa
nhận ông T là người bỏ tiền xây dựng toàn bộ căn nhà. Các hóa đơn mua vật liệu
xây dựng do nguyên đơn xuất trình chỉ thể hiện việc mua vật liệu, không đương
nhiên chứng minh nguồn tiền là của ông T. Trước đây bị đơn có trình bày ông T
người xây dựng biết thực tế việc xây dựng diễn ra nhưng không thừa nhận
quyền sở hữu nhà thuộc về ông T; đồng thời bà H1 từng gửi đơn đến cơ quan có
thẩm quyền phản ánh việc tự ý xây dựng nhưng sau đó đã rút đơn do thời điểm
đó bà T5 và ông H2 vẫn đang sinh sống trên phần đất này.
Bị đơn không đồng ý phương án giao toàn bộ nhà, đất cho ông T nhận
tiền thanh toán gtrị tài sản. Phía bị đơn ginguyên quan điểm cho rằng nhà, đất
tranh chấp là tài sản do bà Nguyễn Thị T5 đứng tên và tạo lập hợp pháp, nguyên
đơn không chứng minh được đây là tài sản riêng của mình. Do đó, tài sản này
di sản của bà Nguyễn Thị T5 để lại, phát sinh căn cứ chia thừa kế theo quy định
pháp luật không căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc công
nhận toàn bộ nhà, đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Trương Thanh T.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
8
Đối với phần nhận định của cấp sơ thẩm xác định ông Trương Thanh T
người bỏ tiền xây dựng căn nvào năm 2018 là chưa khách quan. Bị đơn không
thừa nhận việc ông T xây dựng nthay cho bà T5. Các phiếu mua vật liệu do
ông T xuất trình bản photo nếu được xem chứng cứ cũng chỉ giá trị
chứng minh việc ông T mua vật liệu xây dựng vào năm 2018, không đủ căn cứ để
xác định toàn bộ phần nhà xây dựng thêm năm 2018 thuộc quyền sở hữu riêng
của ông T hoặc làm căn cứ để chia cho ông T tỷ lệ giá trị căn nhà cao hơn bà H1
như bản án sơ thẩm. Trường hợp xác định ông T người xây dựng thì cũng chỉ
thể hiểu việc xây dựng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt của chính gia đình ông
T đang trú trên đất, không làm phát sinh quyền được hưởng phần giá trị nhà
nhiều hơn trong khối di sản.
Về quá trình quản lý, sử dụng tài sản, do mối quan hệ giữa ông T và bà H1
không hòa thuận nên ông Nguyễn Lê H2 người trực tiếp thay bà H1 chăm sóc
T5 trong thời gian cuối đời, đồng thời bỏ tiền sửa chữa nhà, thanh toán tiền
điện, nước quản việc sinh hoạt tại căn nhà. Nguyện vọng của T5 trước
khi qua đời là để căn nhà cho các cháu.
Nếu giao toàn bộ nhà, đất cho ông T thì trên thực tế H1 sẽ không còn
điều kiện quay trở lại căn nhà để thờ cúng mẹ là bà T5. Trong khi đó, ông H2
người đang sinh sống tại đây, có quan hệ hòa thuận với ông T. Nếu giao hiện vật
cho H1 thì vẫn bảo đảm điều kiện để ông T tiếp tục trở về thờ cúng mẹ
không ảnh hưởng đến quyền lợi của ông. Mặt khác, ông T đã sử dụng nhà, đất
trong thời gian dài nên thực tế không phải bỏ chi phí thuê chỗ khác nên việc
chia giá trị cho ông T lớn hơnH1 là không phù hợp.
Đề nghị Hội đồng xét xử giao toàn bnhà, đất tranh chấp cho Nguyễn
Thục H1 quản lý, sử dụng; chia di sản theo tỷ lệ mỗi người được hưởng một nửa,
không chấp nhận yêu cầu của ông T được hưởng 60% giá trị căn nhà. Trường hợp
H1 được nhận hiện vật thì bà H1 tự nguyện thanh toán thêm cho ông T số tiền
100.000.000 đồng trả một lần ngay sau khi bản án hiệu lực. Trường hợp ông
T được hưởng hiện vật thì ông T cũng phải thanh toán thêm cho bà H1
100.000.000 đồng phải trả một lần ngay sau khi bản án hiệu lực. Toàn bộ
lời khai trong hồ sơ đều thể hiệnH1 đã giao toàn bộ giấy tờ liên quan cho ông
T quản lý nên hiện nay chỉ còn lưu giữ được bản sao giấy khai sinh. Việc không
cung cấp được bản chính giấy khai sinh xuất phát từ việc sáp nhập đơn vị hành
chính, ảnh hưởng đến thủ tục trích lục giấy tờ hộ tịch. Mặt khác, trong quá trình
giải quyết vụ án, chính ông T đã giao nộp bản sao giấy khai sinh của H1; đồng
thời, tại cấp phúc thẩm đã kết luận giám định ADN xác định ông T H1
là anh, em cùng mẹ. Do đó, việc ông T không thừa nhận quan hệ huyết thống với
H1 không có căn cứ làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án và phát sinh chi
phí tố tụng không cần thiết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Lê H2 trình bày: Nhà,
đất tranh chấp do bà Nguyễn Thị T5 tạo lập. Thống nhất ý kiến của bị đơn.
9
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham dự phiên
tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Kết luận giám định ADN số 350/26/KLGĐADN-
PYQG ngày 18/6/2026 của V kết luận: “Trương Thanh T quan hệ huyết thống
theo dòng mẹ với Nguyễn Thục H1”. Do đó, ông T và H1 người thừa kế của
Nguyễn Thị T5.
Về quyền sử dụng đất tranh chấp: căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất năm 2004, cấp đổi năm 2016 cho bà Nguyễn Thị T5 đều thể hiện bà
T5 người nhận chuyển nhượng đất của ông Nguyễn Văn N3 vào ngày
03/5/2000. Ông T khai đất do ông T nhận chuyển nhượng tại phiên tòa cung
cấp Giấy cam kết ngày 17/3/2000 Văn bản xác nhận ngày 04/5/2026 của
Trần Thị T6 nhưng xét thấy các văn bản này không sự xác nhận của ông N3
mà do bà T6 ký xác nhận, trong khi đó chứng cứtrong hồ sơ cấp đất không có
thông tin của bà T6, cho nên chứng cứ này không có giá trị chứng minh, lời khai
của ông T là không có căn cứ.
Đối với căn nhà trên đất tranh chấp: ông T xác định nhà của ông T xây dựng
nhưng không chứng cứ chứng minh đối với phần nhà được xây dựng năm 2002
hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà T5 đứng tên, trong đó thể
hiện phần căn ndiện tích xây dựng 32,3m
2
. Đối với phần căn nhà xây thêm vào
năm 2018 diện tích 24,3m
2
có căn cứ xác định do nguyên đơn xây.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định nhà, đất tranh chấp là di sản của bà T5 để lại,
tính công sức nhà cho ông T và chia di sản là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, Luật sư, Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Thanh T hợp lệ, nộp trong
hạn luật định, phù hợp theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo thủ tc phúc thm.
Tại phiên tòa, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị M,
ông Trương Thanh T người đại diện hợp pháp của cháu Trương Anh T3 yêu
cầu vắng mặt nên căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Thanh T, thấy rằng:
[2.1] Về hàng thừa kế của bà Nguyễn Thị T5:
10
Nguyên đơn và bị đơn thống nhất thừa nhận: bà Nguyễn Thị T5 (chết năm
2022) ông Trương Công T4 (chết năm 1972) vợ chồng có đăng ký kết hôn
01 con chung ông Trương Thanh T; T5 trẻ mồ côi nên không xác
định được cha, mẹ và không có con nuôi nào khác.
Theo Đơn khởi kiện và lời khai ban đầu, ông Trương Thanh T xác định là
Nguyễn Thục H1 là con của bà Nguyễn Thị T5. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm
tại Tòa án cấp phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định
H1 không phải con bà Nguyễn Thị T5 và yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định
dòng mẹ giữa ông Trương Thanh T và bà Nguyễn Thục H1.
Căn cứ kết luận giám định theo Kết luận giám định ADN số
350/26/KLGĐADN-PYQG ngày 18/6/2026 của V kết luận: “Trương Thanh T
quan hệ huyết thống theo dòng mẹ với Nguyễn Thục H1”. Như vậy, có đầy đủ
sở pháp xác định ông Trương Thanh T Nguyễn Thục H1 quan hệ huyết
thống là anh – em do cùng một mẹ là bà Nguyễn Thị Thủy S1 ra.
Mặt khác, căn cứ “Trích lục bộ khai sanh” lập ngày 25/3/1974 của
Nguyễn Thục H1 chỉ ghi họ tên mẹ Nguyễn Thị T5, không ghi tên cha, đồng
thời H1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh giữa ông Lưu
Chấn S Nguyễn Thị T5 quan hệ hôn nhân và giữa ông S với H1 là cha
con; H1 cũng xác định ông Lưu Chấn S đã chết. Cho nên, không có căn cứ xác
định ông Lưu Chấn S là chồng của bà T5.
Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 651 Bluật Dân sự, xác định hàng thừa
kế thứ nhất theo pháp luật của Nguyễn Thị T5 gồm: ông Trương Thanh T
Nguyễn Thục H1.
[2.2] Về tài sản tranh chấp:
Các đương sự xác định tài sản tranh chấp thửa đất số 635, tờ bản đồ số
55, tọa lạc tại B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay B, Thành phố
Hồ Chí Minh), diện tích 64m
2
(diện tích xây dựng là 32,3m
2
) theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất
số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CH 01160 do UBND huyện H cấp ngày
08/12/2016 đứng tên bà Nguyễn Thị T5.
Kết quả đo đạc thực tế theo Bản đhiện trạng vị trí áp ranh của Trung
tâm Đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên Môi trường Thành phố H lập ngày
28/8/2023, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/8/2023 Chứng thư
thẩm định giá số 304/2025/1893HCM/CT-TĐG/AAVC thể hiện: Diện tích đất
tranh chấp là 64m
2
, giá đất 32.434.000 đồng/m
2
và tài sn gn lin với đất có nhà
din tích xây dng 56,6m
2
, kết cấu: tường gch, mái tôn, ca st, la phông, trn
thạch cao, hàng rào kéo lưới B40, trị giá 203.844.971 đồng.
[2.3] Về nguồn gốc tài sản tranh chấp:
[2.3.1] Đối với quyền sử dụng đất:
11
Nguyên đơn xác định quyền sử dụng đất tranh chấp do nguyên đơn bỏ tiền
ra nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn N3 vào năm 1999, với giá
18.000.000 đồng, tiền được thanh toán nhiều lần do bận công việc nên giao
cho Nguyễn Thị T5 trực tiếp thực hiện các thủ tục nhận chuyển nhượng
đứng tên quyền sử dụng đất.
Đối chiếu tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án thể hiện: Tại hồ cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s112 QSDĐ/Q5 ngày 07/6/2004 do Ủy ban
nhân dân huyện H cấp cho bà Nguyễn Thị T5 Đơn xin đăng ký quyền sử dụng
đất của Nguyễn Thị T5 (bút lục 184), Đơn xin sử dụng đất xây dựng nhà
nhân dân ngày 16/02/2000 của bà Nguyễn Thị T5 (bút lục 181), Đơn xin thỏa
thuận địa điểm sử dụng đất để làm nhà ở ngày 16/02/2000 của bà Nguyễn Thị T5
(bút lục 183), Giấy thỏa thuận bồi hoàn để lập hồ sử dụng đất Giấy xác nhận
đã bồi hoàn được Ủy ban nhân dân xã B chứng thực chữ ký ca bà Nguyễn Thị
T5 và ông Nguyễn Văn N3 (bút lục 179, 180) Báo cáo xác minh nguồn gốc,
diễn biến sử dụng đất s32 ngày 07/3/2000 của Ủy ban nhân dân B xác định
(bút lục 182): Nguồn gốc đất thuộc địa bộ 532 tờ 2, T, DT: 880m
2
do Nguyễn Thị
M1 đăng tịch sau 1975, cháu nội Nguyễn Văn N3 thừa hưởng DT: 400m
2
Ông N3
đăng ký sử dụng cho đến nay. Nay ông N3 đồng ý chuyển quyền cho Nguyễn Thị
T5 DT 62m
2
, bản đồ số 6480 ngày 3.2.200 do đoàn đo đạc bản đồ sở địa chính
nhà đất Tp lập”. Điều này, căn cứ xác định giao dịch chuyển nhượng quyền sử
dụng đất được xác lập giữa bà Nguyễn Thị T5 và ông Nguyễn Văn N3. Cho nên,
nội dung Giấy xác nhận đề ngày 04/5/2026 do Trần Thị T6 nội dung vợ
chồng bà chỉ chuyển nhượng đất cho ông T, đã nhận đủ số tiền 18.000.000 đng,
không chuyển nhượng cũng như không biết Nguyễn Thị T5 ai do nguyên
đơn cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm là không phù hợp với chứng cứ được viện
dẫn nêu trên. Ông T, bà H1 đều không chứng minh được số tiền đã bỏ ra cùng bà
T5 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có tranh chấp nên không có cơ sở để
xem xét. Việc ông T cho rằng năm 2016, ông T bỏ tiền ra để thực hiện thủ tục cấp
đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xuất trình Hợp đồng dịch vụ ngày
14/9/2016 (bút lục 193a) và Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước ngày
21/12/2016 (bút lục 192), tuy nhiên Hợp đồng dịch vụ này chỉ bản phô tô, không
bản chính đối chiếu nên không gtrị chứng cứ không chứng cứ chứng
minh tiền do ông T bỏ ra và ông T là chủ sử dụng đất.
Từ các tài liệu, chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở xác định Nguyễn Thị T5
người trực tiếp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn N3
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đứng tên mình theo hồ
địa chính được lập từ năm 2000. Do đó, nội dung xác nhận của bà T6 nộp tại
cấp phúc thẩm về việc vợ chồng T6, ông N3 thực hiện lập Bản cam kết ngày
17/3/2000 thể hiện vợ chồng T6, ông N3 chỉ chuyển nhượng đất cho ông T với
giá 18.000.000 đồng và ông T đã thanh toán đủ số tiền này cho vợ chồng bà T6,
vợ chồng bà chưa từng gặp bà Nguyễn ThT5 không biết bà Nguyễn Thị T5
mâu thuẫn với hồ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã liệt kê nêu trên
và bà T6 cũng không nộp bất kỳ tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho nội dung
12
T6 xác nhận tại Giấy xác nhận đề ngày 04/5/2026. Đồng thời, việc ông T cho
rằng bận đi làm việc nên mới nhT5 đứng tên dùm nhưng tại phiên tòa, người
đại diện hợp pháp của ông T cho rằng mọi thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị T5 do chính ông T thực hiện là không
phù hợp.
Như vậy, có căn cứ xác định quyền sử dụng đất nêu trên do bà Nguyễn Thị
T5 tạo lập, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà T5.
[2.3.2] Về tài sản gắn liền với đất tranh chấp:
Nguyên đơn xác định toàn bộ căn nhà gắn liền với đất do nguyên đơn bỏ
tiền ra xây dựng, cụ thể: vào năm 2002 xây dựng nhà có diện tích 32,3m
2
và đến
năm 2018, xây dựng tiếp thêm diện tích 24,3m
2
. Tuy nhiên, bị đơn không đồng ý
với lời khai của nguyên đơn, cho rằng phần nhà diện tích 32,3m
2
do Nguyễn
Thị T5 xây dựng năm 2002 với sự đóng góp tiền của bị đơn; riêng phần diện tích
xây dựng 24,3m
2
là do ông T tự ý xây dựng năm 2018.
Thời điểm xây dựng nhà vào năm 2002 thì bà Nguyễn Thị T5 còn sống và
theo Đơn xin đăng quyền sử dụng đất (dùng cho khu vực đô thị) ngày
19/4/2004 do bà Nguyễn Thị T5 đứng tên cũng thể hiện căn nhà có diện tích xây
dựng 32,3m² do bà T5 tự xây dựng vào năm 2002.
Nguyên đơn bị đơn đều không chứng cứ để chứng minh phần diện
tích xây dựng 32,3m
2
do nguyên đơn hay bị đơn bỏ tiền ra xây dựng, cho nên
không căn cứ xác định phần nhà này là tài sản của ông T, hay công sức đóng
góp của ông T và H1. Riêng phần diện tích xây dựng 24,3m
2
bổ sung vào năm
2018, căn cứ lời khai của nguyên đơn, bị đơn và chứng cứ nguyên đơn cung cấp
các hoá đơn bán lcùng ngày 22/9/2018 (bút lục 193b, 194a) chứng minh được
trình bày là phù hợp. Đồng thời, chính bà H1 cũng thừa nhận phần diện tích xây
dựng 24,3m
2
là do ông T tự ý xây dựng năm 2018 tại Bản tự khai ngày 26/4/2023
(bút lục 109, 110).
Như vậy, đủ căn cứ xác định ông T người bỏ tiền ra để xây dựng thêm
phần nhà có diện tích 24,3m
2
.
[2.4] Ông Trương Thanh T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng
minh việc ông người trực tiếp nhận chuyển nhượng đất hoặc nguồn tiền nhận
chuyển nhượng đất xây dựng căn nhà năm 2002 là của mình, không tài liệu,
chứng cứ nào thể hiện Nguyễn Thị T5 chỉ là người đứng tên giùm cho ông T
quyền sử dụng đất căn nhà được tạo lập vào năm 2002 việc nhận chuyển
nhượng được thực hiện bằng tài sản riêng của ông T. Trong quá trình giải quyết
vụ án, xác định quyền sử dụng đất di sản do Nguyễn Thị T5 để lại yêu
cầu được nhận toàn bộ di sản bằng hiện vật vì ông người con duy nhất của
T5. Do đó, không có căn cứ xác định toàn bộ tài sản tranh chấp của ông T.
[2.5] Nguyễn Thục H1 cho rằng số tiền 18.000.000 đồng dùng để nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Nguyễn Thục H1 cùng cha mẹ
Nguyễn Thị T5ông Lưu Chấn S tích góp để thanh toán, ông Trương Thanh T
13
không đóng góp. Đối với căn nhà trên đất là do H1, T5 và ông T góp tiền
xây dựng mỗi người góp 6.000.000 đồng, tổng cộng chi phí 18.000.000 đồng để
xây dựng 32m
2
, H1 còn chi 01 chỉ vàng để làm giếng nước cho căn nhà và góp
20.000.000 đồng chi phí làm sổ hồng. Tuy nhiên, bị đơn không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ chứng minh cho các khoản tiền tài sản mà bị đơn cho rằng mình
đã đóng góp. Mặt khác, bị đơn cũng không yêu cầu phản ttrong vụ án, chỉ
yêu cầu chia đôi di sản thừa kế và được nhận bằng hiện vật.
[2.6] Tnhững phân tích nêu trên xét thấy, việc Tòa án cấp thẩm xác
định phần xây dựng thêm 24,3m
2
do ông T xây dựng nhưng lại tính toàn bộ
công trình xây dựng (nhà) là di sản của bà Nguyễn Thị T5, chỉ tính công sức cho
ông T 10% giá trị nhà là chưa phù hợp. Đồng thời, có đủ căn cứ xác định quyền
sử dụng đất diện tích 64m
2
01 phần căn nhà diện tích 32,3m² tài sản
do bà Nguyễn Thị T5 trực tiếp tạo lập, được Nhà nước công nhận quyền sử dng
đất và quyền sở hữu hợp pháp, T5 chết không để lại di chúc. vậy, sau khi
Nguyễn Thị T5 chết, quyền sử dụng đất và căn nhà (phần công trìnhy dựng
có diện tích 32,3m
2
) nêu trên được xác định là di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị
T5 chết để lại chưa chia được chia theo pháp luật theo quy định tại khoản 2
Điều 651 Bộ luật Dân sự thì ông Trương Thanh T Nguyễn Thục H1 mỗi
người được hưởng một phần di sản bằng nhau.
[2.7] Đối với kháng cáo của nguyên đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa
giải quyết yêu cầu chia tài sản chung và không đưa bà Trần Thị T6 vào tham gia
tố tụng thấy rằng:
Tại Đơn khởi kiện ngày 19/8/2022 (bút lục 42) Bản tự khai ngày
15/02/2023 (bút lục 108), ông Trương Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết: Chia
thửa đất số 635, tờ bản đồ số 55, diện tích 64m
2
căn nhà tọa lạc trên đất số 11/3
ấp N, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó phần đất ông T và T5
góp tiền mua chung nên ông T được hưởng 50% giá trị tương đương 200.000.000
đồng và toàn bộ giá trị căn nhà trên đất. Xác định giá trị di sản thừa kế là nhà, đất
nêu trên là 200.000.000 đồng, ông T yêu cầu được hưởng 30% công sức giữ gìn;
phần còn lại đồng ý chia đôi với bà Nguyễn Thục H1.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 07/5/2025 (bút lục 195 - 196) thì ông Trương
Thanh T trình bày: Tôi vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Đề nghị Tòa án chia
di sản thừa kế quyền sử dụng đất nhà tại số A ấp N, B, huyện H, Thành
phố Hồ Chí Minh thành 02 phần. Do tôi bỏ tiền ra mua đất nên đnghị được
hưởng 50% giá trị quyền sử dụng đất, căn nhà do tôi bỏ tiền ra xây dựng toàn bộ
nên yêu cầu được hưởng toàn bộ giá trị nhà. Do đó, phần di sản T5 để lại
50% giá trị đất tôi đnghị chia cho tôi 30% công sức đóng góp, phần còn lại mới
chia đôi cho tôi với H1”.
Tại phiên tòa thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi
một phần yêu cầu khởi kiện là không đồng ý chia thừa kế cho H1.
Xét thấy, như phân tích trên, Tòa án đủ sở xác định tài sản tranh
chấp nhà, đất di sản do Nguyễn Thị T5 để lại, không phải tài sản chung
14
của ông T T5, cho nên việc nguyên đơn xác định quyền sở hữu 50%
quyền sử dụng đất và toàn bộ nhà gắn liền với đất là không được chấp nhận, đồng
thời yêu cầu khởi kiện của ông T đã bao hàm cả nhà, đất nêu trên. Trường hợp
này, Tòa án cấp thẩm xác định tranh chấp di sản thừa kế và chia thừa kế theo
pháp luật là phù hợp.
[2.8] Về
giá trị tài sản được xác định theo Chứng thư Thẩm định giá số
304/2025/1893HCM/CT-TĐG/AAVC ngày 24/4/2025 do Công ty TNHH H3
thực hiện, cụ thể:
Về giá trị quyền sử dụng đất mỗi người được hưởng 64m
2
: 2 = 32m
2
x
đơn giá
32.434.000 đồng = 1.037.888.000 đồng.
Về giá trị tài sản gắn liền với đất mỗi người được hưởng 32,3m
2
: 2 =
16,15m
2
x đơn giá 6.776.761 đồng x chất lượng còn lại 47% = 51.438.004 đồng.
Tổng giá trị kỷ phần mỗi người được hưởng 1.037.888.000 đồng +
51.438.004 đồng = 1.089.326.004 đồng (một tỷ không trăm tám mươi chín triệu
ba trăm hai mươi sáu nghìn không trăm lẻ bốn) đồng.
[2.9] Ông Trương Thanh T và bà Nguyễn Thục H1 đều yêu cầu được nhận
bằng hiện vật, xét thấy ông T người trực tiếp quản lý, sử dụng đối với di sản
thừa kế từ khi hình thành đến nay, gia đình ông T sinh sống tại nhà, đất tranh chấp
người tạo lập thêm một phần tài sản trên đất. Do vậy, Tòa án cấp thẩm
giao cho ông Trương Thanh T được nhận hiện vật trách nhiệm thanh toán
cho Nguyễn Thục H1 giá trị kỷ phần được chia phù hợp H1 không
kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.
Do Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tính công sức đóng góp đi với căn nhà trên đất
tranh chấp cho ông T chưa phù hợp, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần ông
T đã đầu tư xây dựng sau khi khấu trừ 01 phần căn nhà có diện tích 32,3m
2
là di
sản của Nguyễn Thị T5 như tính toán cụ thể tại mục [2.6] nêu trên, cho nên
ông T nghĩa vụ thanh toán cho H1 giá trị di sản thừa kế khấu trừ với một
nửa số tiền thuế sử dụng đất bà H1 đồng ý chịu là: 1.089.326.004 đồng -
14.927.850 đồng = 1.074.398.154 (một tỷ không trăm bảy mươi bốn triệu ba trăm
chín mươi tám nghìn một trăm năm mươi bốn) đồng. Sau khi thanh toán xong số
tiền nêu trên ông T được quyền đăng biến động quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở theo quy định pháp luật.
[2.10] Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy kháng cáo của nguyên đơn
là có căn cứ chấp nhận một phần. Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh tại phiên tòa phù hợp một phần, đối với toàn bộ gtrị nhà xây
dựng tính thêm 10% công sức cho nguyên đơn như bản án thẩm chưa phù
hợp. Do đó, cần sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng phân tích nêu trên.
[3] Vchi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Trương Thanh T phải chịu được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã np.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định.
15
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Trương Thanh T không phải
nộp do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 164, Điều 296, khoản 2 Điều
308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều: 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 của B luật Dân
sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Thanh T.
2. Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 29 tháng
7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương
Thanh T đối với bị đơn Nguyễn Thục H1 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài
sản”.
2.1.1. Xác định di sản thừa kế do bà Nguyễn Thị T5 để lại quyền sử dụng
đất diện tích 64m
2
thuộc thửa đất số 635, tờ bản đồ số 55 và căn nhà gắn liền với
đất có diện tích 32,3m
2
tọa lạc tại ấp N, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh
(nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CE157387, số vào sổ cấp GCN:
CH01160 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày
08/12/2016
2.1.2. Chia di sản thừa kế do bà Nguyễn Thị T5 để lại, cụ thể như sau:
Ông Trương Thanh T Nguyn Thc H1, mỗi người được hưởng kỷ
phần thừa kế của Nguyễn Thị T532m
2
quyền sử dụng đất (tương đương số
tiền 1.037.888.000 đồng) và 16,15m
2
căn nhà gắn liền với đất (tương đương số
tiền 51.438.004 đồng). Tổng giá trị kỷ phần thừa kế của ông Trương Thanh T
Nguyễn Thục H1, mỗi người được hưởng 1.089.326.004 đồng (một tỷ không
trăm tám mươi chín triệu ba trăm hai mươi sáu nghìn không trăm lẻ bốn) đồng.
Ông Trương Thanh T được quyền sử dụng đất diện tích 64m
2
sở hữu căn
nhà gắn liền với đất diện tích 56,6m
2
tọa lạc tại p N, xã B, huyn H, Thành ph
H Chí Minh (nay là xã B, Thành ph H Chí Minh) theo ranh giy chng nhn
cp nht theo bng lit tọa độ góc ranh trên GCN s CE 157387 do y ban
nhân dân huyn H, Thành ph H Chí Minh cp ngày 08/12/2016 (vị trí (1) + (3)
sơ đồ bn v kèm theo bản án sơ thẩm).
16
Ông Trương Thanh T trách nhiệm thanh toán cho Nguyễn Thục H1
giá trị kỷ phần thừa kế được chia (đã cấn trừ tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp)
1.074.398.154 (một tỷ không trăm bảy mươi bốn triệu ba trăm chín mươi tám
nghìn một trăm năm mươi bốn) đồng.
Sau khi ông Trương Thanh T thanh toán đầy đủ số tiền nêu trên cho
Nguyễn Thục H1, ông Trương Thanh T được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước
thẩm quyền để đăng ký biến động đứng tên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án nếu người
phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất
quy đnh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền
thời gian chậm thi hành án.
2.1.3. Buộc ông Trương Thanh T phải tháo dỡ phần diện tích xây dựng lấn
chiếm 0,4m
2
(vị trí (2) + (4) sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án sơ thẩm).
3. Chi phí tố tụng:
3.1. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá tài sản: Ông
Trương Thanh T chịu 17.500.000 (mười bảy triệu năm trăm nghìn) đồng được
khấu trừ tạm ứng đã nộp. Ông Trương Thanh T đã nộp đủ. Bà Nguyễn Thục H1
chịu 17.500.000 (mười bảy triệu năm trăm nghìn) đồng, do ông Trương Thanh T
đã tạm ứng số tiền này nên Nguyễn Thục H1 nghĩa vụ thanh toán lại cho
ông Trương Thanh T.
3.2. Chi phí giám định: Ông Trương Thanh T phải chịu 11.600.000 (mười
một triệu sáu trăm nghìn) đồng.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Ông Trương Thanh T phải chịu 44.679.780 đồng án phí dân sự thẩm
được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.000.000 đồng theo Biên lai
thu tiền tạm ứng án phí số 0015468 ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi
hành án Dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (nay Phòng Thi hành
án Dân sự Khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh), ông Trương Thanh T còn phải
nộp 34.679.780 (ba mươi bốn triệu sáu trăm bảy mươi chín nghìn bảy trăm tám
mươi) đồng.
4.2. Nguyễn Thục H1 phải chịu 44.679.780 (bốn mươi bốn triệu sáu
trăm bảy mươi chín nghìn bảy trăm tám mươi) đồng.
5. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trương Thanh T không phải chịu. Trả lại
ông Trương Thanh T 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo Biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số 0006993 ngày 01/8/2025 của Thi hành
án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7. Trường hp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lut Thi hành
án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s
17
quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án
hoc b ng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6, 7, 8 36 Lut Thi
hành án dân s năm 2025; thời hiệu thi hành án được thc hiện theo quy định ti
Điu 34 Lut Thi hành án dân s năm 2025.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 16 Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 8 Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phố
Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thanh Trúc
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1455/2026/DS-PT Bản án số 1455/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1455/2026/DS-PT Bản án số 1455/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất