Bản án số 968/2026/HS-PT ngày 14/10/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 968/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 968/2026/HS-PT ngày 14/10/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 968/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/10/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Ngô Văn L - Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 968/2026/HS-PT Bản án số 968/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 968/2026/HS-PT Bản án số 968/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm
có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Nam.
Các Thẩm phán: 1. Ông Trần Minh Châu.
2. Ông Trương Công Huấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Minh Quốc Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Lê Thị Mỹ V- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 10 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh; tại điểm cầu thành phần phòng xét xử trực tuyến trại
tạm giam Số A, Công an Thành phố H, xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến
vụ án hình sự thụ lý số: 833/HSPT ngày 21 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo
Ngô Văn L và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự
sơ thẩm số 175/2026/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Ngô Văn L, sinh năm 1957 tại Khánh Hòa; nơi thường trú: 26B/27 khu
phố F, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là khu phố A, phường L,
thành phố Đ); nơi ơ: tổ C khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
(nay là phường T, thành phố Đ); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn:
09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Ngô Văn S và bà Nguyễn Thị L1; có vợ và 05 con; tiền án: không; tiền
sự: không; nhân thân: tại bản án số 49/2012/HSST ngày 14/2/2012 bị Toà án
nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội
“Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”, đến ngày 30/8/2013 chấp hành
xong án phạt tù; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2025, có mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 968/2026/HS-PT
Ngày 14 - 10 - 2026
2
2. Nguyễn Văn K, sinh năm 1975 tại Nam Định (nay là Ninh Bình); nơi
thường trú: 96C/34, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là
phường L, thành phố Đ); nghề nghiệp: Dạy lái xe; trình độ học vấn: 11/12; dân
tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ và 04 con; tiền án: không; tiền sự:
không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2025 đến ngày 29/8/2025 được
thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng Cấm đi khỏi nơi cư trú; tại ngoại,
có mặt.
3. Lê Thị H, sinh năm 1980 tại Nam Định (nay là Ninh Bình); nơi thường
trú: ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ
học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Lê Văn K1 và bà Trần Thị H1; có chồng và 05 con; tiền án:
không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2025 đến ngày
29/8/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng Cấm đi khỏi nơi
cư trú; tại ngoại, có mặt.
4. Nguyễn Danh P, sinh năm 1976 tại Hải Dương (nay là Hải Phòng); nơi
thường trú: tổ A, ấp P, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự
do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh C1 và bà Phạm Thị N; có vợ và 01
con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2025
đến ngày 29/8/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng Cấm đi
khỏi nơi cư trú; tại ngoại, có mặt.
5. Nguyễn Thanh L2, sinh năm 1987 tại Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Thành
phố Hồ Chí Minh); nơi thường trú: ấp M, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề
nghiệp: Kế toán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc Đ1 và bà Phạm Thị T; có
chồng và 02 con (có 01 con sinh năm 2024); tiền án: không; tiền sự: không; bị
áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; tại ngoại, có mặt.
6. Nguyễn Văn B, sinh năm 1981 tại Gia Lai; nơi thường trú: ấp L, xã L,
Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Nguyễn C2 và bà Trần Thị N1; có vợ và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không;
bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; tại ngoại, có mặt.
- Người bào chữa:
1. Ông Nguyễn Thái H2, Luật sư của Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư
Thành phố H bào chữa cho các bị cáo Lê Văn K2, Nguyễn Thanh L2, có mặt.
2. Ông Lê Văn T1, Luật sư của Văn phòng L5 thuộc Đoàn Luật sư Thành
phố H bào chữa cho các bị cáo Lê Thị H, Nguyễn Thanh L2, có mặt.
3. Ông Nguyễn Thành T2 và ông Trịnh Minh T3, Luật sư của Công ty L6
thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B, có mặt.
3
4. Ông Trần T4, Luật sư của Công ty L7 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố
H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Danh P, có mặt.
Tại điểm cầu thành phần, thành phần tham gia gồm:
Bị cáo Ngô Văn L; cán bộ chiến sĩ của tổ áp giải có đồng chí Nguyễn
Thanh T5, Tạ Minh T6.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2023, Nguyễn Văn K quen biết Ngô Văn L, là người từng bị kết án
về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. K và L bàn bạc, thống
nhất việc làm giả chứng chỉ, bằng cấp để bán cho người có nhu cầu. K sử dụng
tài khoản Zalo “Nguyễn Khánh 0982535839” đăng thông tin nhận làm các loại
chứng chỉ, bằng cấp theo yêu cầu; khi có người đặt mua, K thu thập thông tin,
hình ảnh, mẫu chữ ký, con dấu rồi chuyển cho L để làm giả.
Khoảng tháng 01/2024, Lê Thị H, Nguyễn Danh P và Nguyễn Thanh L2
biết nhiều người làm nghề đánh bắt hải sản có nhu cầu sử dụng “Chứng chỉ
thuyền trưởng tàu cá” và “Chứng chỉ máy trưởng tàu cá” nên cùng nhau tìm
người có nhu cầu đặt mua chứng chỉ giả để hưởng tiền chênh lệch. Nguyễn Văn
B cũng tham gia với vai trò giúp ông Nguyễn Văn T7 tìm nơi đặt làm giả 03
chứng chỉ tàu cá cho Nguyễn Văn T8, Nguyễn Văn K3 và Nguyễn Minh T9.
Cách thức thực hiện là L2 tìm người có nhu cầu, thu thập thông tin rồi
chuyển cho P; P chuyển cho H; H liên hệ với K để đặt làm chứng chỉ giả. K tìm
kiếm mẫu chứng chỉ, mẫu chữ ký, con dấu trên mạng rồi chuyển H xác nhận
mẫu cần đặt cho L. L sử dụng máy vi tính, máy in phun màu, phôi chứng chỉ,
ảnh và các phương thức khác để tạo ra chứng chỉ giả, sau đó giao lại cho K để K
chuyển cho H, P, L2 giao cho người đặt mua. Tiền bán chứng chỉ được các đối
tượng phân chia theo từng khâu và hưởng tiền chênh lệch.
Từ ngày 07/5/2024 đến ngày 21/5/2024, Ngô Văn L và Nguyễn Văn K đã
làm giả 04 tài liệu giả là 4 chứng chỉ, gồm: 02 “Chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá
hạng II”, 01 “Chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng II” và 01 “Chứng chỉ máy
trưởng tàu cá hạng IV”, cụ thể:
Ngày 07/5/2024 và ngày 09/5/2024, Nguyễn Văn B nhận lời ông Nguyễn
Văn T7 tìm nơi đặt làm giả 03 chứng chỉ gồm 02 chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá
hạng II mang tên Nguyễn Văn T8, Nguyễn Văn K3 và 01 chứng chỉ máy trưởng
tàu cá hạng II mang tên Nguyễn Minh T9. Ông T7 giao cho B thông tin căn
cước công dân của những người này cùng số tiền 19.500.000 đồng để đặt làm
chứng chỉ. Bai chuyển cho L2; L2 chuyển tiếp cho P, P chuyển cho H, H chuyển
cho K để đặt L làm giả. Sau khi hoàn thành, 03 chứng chỉ giả được chuyển qua
các đối tượng và cuối cùng giao cho ông B để chuyển cho ông T7. Các chứng
chỉ này chưa được sử dụng và những người có tên trên chứng chỉ không biết
việc làm giả.
4
Ngày 17/5/2024, L2 nhận đặt làm 01 “Chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng
IV” mang tên Đặng Ngọc K4 với số tiền 4.800.000 đồng. L2 chuyển tiền và
thông tin cho P, P chuyển cho H, H chuyển cho K, K chuyển cho L số tiền
350.000 đồng để làm chứng chỉ. Ngày 19/5/2024, L2 nhận được chứng chỉ giả
mang tên Đặng Ngọc K4 và nhờ bà Nguyễn Thị B1 giao cho người đặt mua.
Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 21/5/2024, khi bà B1 mang chứng chỉ đến khu vực
đường DT44B thuộc ấp H, xã P, huyện L để giao thì bị lực lượng Công an kiểm
tra, thu giữ.
Đối với 04 chứng chỉ giả nêu trên, theo cáo trạng, số tiền thu lợi bất chính
của Ngô Văn L là 1.850.000 đồng; Nguyễn Văn K 8.850.000 đồng; Lê Thị H
3.400.000 đồng; Nguyễn Danh P 8.050.000 đồng; Nguyễn Thanh L2 2.150.000
đồng. Nguyễn Văn B không hưởng lợi từ việc đặt làm giả 03 chứng chỉ cho ông
T7.
Ngoài 04 chứng chỉ nêu trên, qua trích xuất dữ liệu điện thoại, Cơ quan
điều tra xác định từ tháng 01/2024 đến ngày 06/5/2024, Ngô Văn L và Nguyễn
Văn K còn có hành vi làm giả, bán cho Lê Thị H, Nguyễn Thanh L2 và Nguyễn
Danh P thêm 24 chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng giả hạng II và hạng IV.
Tuy nhiên, quá trình điều tra không thu giữ được bản chính, hình ảnh và tài liệu
liên quan để giám định nên không đủ căn cứ chứng minh, xử lý đối với 24
chứng chỉ này.
Ngoài ra, Ngô Văn L còn đặt mua con dấu giả của Trường Trung học phổ
thông chuyên Võ Nguyên Giáp tỉnh Q và mộc tên “Nguyễn Thị Hải Y” để làm
giả học bạ trung học phổ thông mang tên Nguyễn Minh Đ2; đồng thời đặt mua
con dấu giả của Ngân hàng TMCP N2 - Chi nhánh Đ4, Phòng G nhằm sử dụng
để làm giả các giấy tờ liên quan đến ngân hàng khi có người đặt mua.
Các kết luận giám định xác định 04 chứng chỉ thu giữ đều có dấu hiệu giả
mạo. Cụ thể, các phôi chứng chỉ, lớp in không phải do cùng bản in tương ứng
tạo ra; chữ ký mang tên người có thẩm quyền không phải chữ ký thật hoặc được
tạo ra bằng phương pháp in phun màu, sao chụp; hình dấu trên các chứng chỉ
không phải do con dấu thật đóng ra mà được tạo ra bằng phương pháp in phun
màu. Đặc biệt, Kết luận giám định số 526/KL-KTHS ngày 13/3/2025 xác định
chữ ký mang tên Đào Hồng Đ3 trên chứng chỉ máy trưởng hạng IV mang tên
Đặng Ngọc K4 là do Ngô Văn L ký; các chữ ký mang tên Nguyễn Trọng L3 trên
03 chứng chỉ mang tên Nguyễn Minh T9, Nguyễn Văn T8 và Nguyễn Văn K3
được tạo ra bằng phương pháp in màu.
Vật chứng, thu giữ: hiện đang được lưu giữ tại Phòng thi hành án khu vực
13 - Thành phố H theo Biên bản giao nhận vật chứng số 10/BB-CCTHADS
ngày 25/7/2025.
Tất cả các vật chứng trên Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H đã
chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 quản lý, chờ xử lý (bút lục từ số
228 đến 265).
5
Tại Cơ quan điều tra, Ngô Văn L, Nguyễn Văn K, Lê Thị H, Nguyễn
Danh P, Nguyễn Thanh L2 và Nguyễn Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi như
nội dung nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSHCM-KV ngày 19 tháng 5 năm 2026
của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị
cáo Ngô Văn L về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; truy tố
các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Thanh L2, Nguyễn Danh P, Lê Thị H và
Nguyễn Văn B về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” cùng theo quy định
tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm 175/2026/HS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ
quan, tổ chức”. Các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Thanh L2, Nguyễn Danh P,
Lê Thị H, Nguyễn Văn B phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17, Điều 38, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn L 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày 11/01/2025.
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17, Điều 38, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã
bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 11/01/2025 đến ngày 29/8/2025.
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17, Điều 38, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã bị tạm
giam từ ngày 29/4/2025 đến ngày 29/8/2025.
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 17, Điều 38, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã
bị tạm giam từ ngày 29/4/2025 đến ngày 29/8/2025.
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 17, Điều 38, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L2 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17,
Điều 38, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
6
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên tịch thu tiền thu lợi bất chính do
các bị cáo từ nguyện nộp lại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo
luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 11/8/2026 bị cáo Ngô Văn L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm giảm nhẹ hình phạt.
- Các ngày 17, 18, 20/8/2026 các bị cáo Lê Thị H, Nguyễn Thanh L2,
Nguyễn Danh P, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn K kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội
phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án, nội dung
bản án sơ thẩm đã tuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân
tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
nhận định án sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo Ngô Văn L, Nguyễn Văn K,
Nguyễn Thanh L2, Nguyễn Danh P, Lê Thị H và Nguyễn Văn B về hình phạt tù
là thỏa đáng đã có sự phân hóa vai trò đồng phạm của từng bị cáo trong vụ án,
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có oan sai. Tại phiên tòa phúc thẩm
các bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự mới. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị
cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo L xin giảm nhẹ hình phạt tù do xử sơ thẩm lần 1 chỉ xử bị cáo 03 năm
06 tháng tù, các bị cáo còn lại không có ý kiến tranh luận.
- Luật sư Nguyễn Thái H2 bào chữa cho bị cáo K trình bày: đồng ý về tội
danh, khung hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên. Về các tình tiết giảm
nhẹ, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết quy định tại
điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự với lý do 04 tài liệu giả đã được làm ra
nhưng 03 tài liệu giao cho ông T7 chưa được sử dụng, 01 tài liệu chưa kịp giao
cho người đặt mua thì bị thu giữ, qua đó chưa gây thiệt hại đáng kể. Bị cáo K
không có tình tiết tăng nặng, đồng thời có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành
khẩn khai báo, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn, đã
đầu thú và tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, cùng với hoàn
cảnh gia đình khó khăn. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K mức án 22 tháng
tù và cho hưởng án treo. Về quan điểm bào chữa cho bị cáo L2 đã có vị luật sư
đồng nghiệp bào chữa, xin bổ sung sau.
- Bị cáo K đồng ý với luận cứ của luật sư bào chữa, không bổ sung thêm.
7
- Luật sư Lê Văn T1 bào chữa cho các bị cáo H, L2 trình bày: thống nhất
với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm về tội danh “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ
chức” nhưng cho rằng mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị
cáo là quá nghiêm khắc. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết
giảm nhẹ như: các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, đồng phạm giản
đơn với vai trò giúp sức không đáng kể và không trực tiếp làm giả tài liệu.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cả hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải và đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Bị cáo L2 phạm
tội khi đang mang thai, hiện đang nuôi 02 con nhỏ (sinh năm 2022 và 2024). Bị
cáo H đã ly hôn, một mình trực tiếp nuôi 05 con (có 03 con chưa thành niên),
chồng không hỗ trợ cấp dưỡng, đồng thời bản thân bị cáo H mắc nhiều bệnh.
Ngoài ra, gia đình hai bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và có nơi cư trú rõ ràng, ổn
định. Từ những phân tích trên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, chấp nhận đơn kháng cáo, sửa bản án sơ
thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt và cho hai bị cáo được hưởng án treo.
- Bị cáo H, L2 đồng ý với luận cứ của luật sư bào chữa, không bổ sung
thêm.
- Luật sư Trần T4 bào chữa chữa cho bị cáo Phương trình B2: thống nhất
với với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm về tội danh “Làm giả tài liệu của cơ
quan, tổ chức” nhưng cho rằng mức án 02 năm 03 tháng tù tuyên phạt đối với bị
cáo là quá nghiêm khắc, chưa tương xứng với vai trò tham gia thực tế và chưa
phản ánh đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo P chỉ là người giúp sức ở khâu
trung gian, giữ vai trò thứ yếu khi chỉ chuyển tiếp thông tin, tiền và tài liệu giữa
bị cáo L2 và bị cáo H chứ không trực tiếp in ấn, chế tạo tài liệu giả, không liên
hệ với người làm giả và không phải đầu mối trực tiếp với người mua. Quá trình
giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s
khoản 1 Điều 51, có thành tích xuất sắc trong công tác theo điểm v khoản 1 Điều
51 và đã tự nguyện nộp 9.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, nhiều hơn số tiền
thu lợi bất chính là 8.050.000 đồng theo điểm b khoản 1 Điều 51. Ngoài ra, bị
cáo còn có mẹ được tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì quy định tại điểm
x khoản 1 Điều 51, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính đang nuôi
con nhỏ 04 tuổi và có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự. Hành vi phạm tội
của các bị cáo cũng chưa gây ra thiệt hại thực tế. Từ những phân tích trên, kính
đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54, Điều 36 hoặc Điều 65 Bộ
luật Hình sự, chấp nhận đơn kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chuyển
sang hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc giảm mức án tù và cho bị cáo
Nguyễn Danh P được hưởng án treo.
- Bị cáo P đồng ý với luận cứ của luật sư bào chữa, không bổ sung thêm.
- Luật sư Nguyễn Thành T2 bào chữa cho bị cáo B trình bày: đồng ý với
tội danh và hình phạt 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nên không
tranh luận về tội danh, mà chỉ kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo
được hưởng án treo. Bị cáo có nhân thân tốt, đã thành khẩn khai báo và tỏ rõ
thái độ ăn năn hối cải trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Bên cạnh đó, bị cáo
8
B là lao động chính duy nhất trong nhà, phải lo trang trải chi phí sinh hoạt và
chăm sóc cho các người thân đang mắc bệnh nặng, đặc biệt là người vợ hiện
đang điều trị bệnh ung thư tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố H. Hoàn cảnh
khó khăn này đã được chính quyền địa phương xác nhận. Từ những phân tích
trên, người bào chữa kính đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật
Hình sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo Nguyễn Văn B được hưởng
án treo.
- Bị cáo B đồng ý với luận cứ của luật sư bào chữa, không bổ sung thêm.
- Kiểm sát viên đối đáp: về phần chung các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt, cho hưởng án treo thì mức án của Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối
với các bị cáo là đã có sự phân hóa vai trò đồng phạm của từng bị cáo, các bị
cáo xin hưởng án treo nhưng thuộc trường hợp không cho hưởng án treo.
+ Đối với luận cứ của luật sư bào chữa cho bị cáo K: không đồng ý với
quan điểm của luật sư cho rằng hành vi phạm tội chưa gây thiệt hại (áp dụng
điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự) và đề nghị mức án dưới khung.
+ Đối với luận cứ của luật sư bào chữa cho các bị cáo H, L2, B: ghi nhận
các bị cáo có nhân thân tốt và chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo H là lao động
chính trong gia đình phải nuôi 05 con trong đó có 03 con chưa thành niên, bị cáo
L2 đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; bị cáo B có hoàn cảnh gia đình khó
khăn thuộc thẩm quyền xem xét của Hội đồng xét xử phúc thẩm nếu có căn cứ.
+ Đối với luận cứ của luật sư bào chữa cho bị cáo P: không đồng ý với
việc đề nghị áp dụng điểm b điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo
P do không có căn cứ áp dụng, các tình tiết liên quan đến thân nhân gia đình
cũng đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét.
Do đó, Kiểm sát viên bảo lưu quan điểm giải quyết vụ án đã trình bày.
- Các bị cáo nói lời sau cùng đã nhận thức được hành vi phạm tội là vi
phạm pháp luật, ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của họ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các ngày 07/5/2024, 09/5/2024 và 17/5/2024 các bị cáo Ngô
Văn L, Nguyễn Văn K, Nguyễn Thanh L2, Nguyễn Danh P, Lê Thị H và
Nguyễn Văn B đã thực hiện 03 lần làm giả, tổng cộng 04 tài liệu, gồm: 02
Chứng chỉ thuyền trưởng tàu cá hạng II mang tên Nguyễn Văn T8 và Nguyễn
Văn K3; 01 Chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng II mang tên Nguyễn Minh T9 và
01 Chứng chỉ máy trưởng tàu cá hạng IV mang tên Đặng Ngọc K4. Các chứng
chỉ giả được các bị cáo chuyển qua nhiều người để giao cho người đặt mua;
trong đó 03 chứng chỉ mang tên Nguyễn Văn T8, Nguyễn Văn K3 và Nguyễn
Minh T9 chưa được đưa vào sử dụng. Ngày 19/5/2024, L2 nhận được chứng chỉ
giả mang tên Đặng Ngọc K4 và nhờ bà Nguyễn Thị B1 giao cho người đặt mua.
9
Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 21/5/2024, khi bà B1 mang chứng chỉ đến khu vực
đường DT44B thuộc ấp H, xã P, huyện L tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Thành
phố Hồ Chí Minh) để giao thì bị lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ. Riêng bị
cáo Nguyễn Văn B vào ngày 07/5/2024 và ngày 09/5/2024 đã 02 lần tham gia
làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức thông qua việc nhận đặt làm giả các chứng
chỉ theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn T7 và liên hệ, chuyển thông tin, tiền để
đặt làm giả 03 chứng chỉ.
Kết quả giám định xác định cả 04 chứng chỉ nêu trên đều là tài liệu giả;
chữ ký của người có thẩm quyền không phải do chính người đó ký, hình dấu
trên các chứng chỉ không phải do con dấu thật của cơ quan, tổ chức đóng mà
được tạo bằng phương pháp in phun màu; riêng chữ ký mang tên Đào Hồng Đ3
trên chứng chỉ mang tên Đặng Ngọc K4 được xác định do Ngô Văn L ký.
Ngoài ra, Ngô Văn L còn có hành vi đặt mua một số con dấu giả, mộc tên
giả và tài liệu nhằm phục vụ việc làm giả giấy tờ khi có người đặt. Tuy nhiên,
các tài liệu, vật chứng này không được sử dụng để xác định thêm số lượng tài
liệu giả làm căn cứ định khung trong vụ án khi chưa có đủ căn cứ chứng minh L
đã hoàn thành hành vi làm giả tương ứng. Đối với 24 chứng chỉ được xác định
qua dữ liệu điện thoại nhưng không thu giữ được bản chính để giám định, Cơ
quan điều tra không có đủ căn cứ xác định là tài liệu giả nên không xem xét khi
xác định số lượng tài liệu giả.
Như vậy, hành vi khách quan của bị cáo Ngô Văn L đã phạm tội “Làm giả
con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, các bị cáo Nguyễn Văn K, Lê Thị H,
Nguyễn Danh P, Nguyễn Thanh L2 và Nguyễn Văn B đã phạm tội “Làm giả tài
liệu của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b
điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017) (viết tắt là Bộ luật Hình sự), với hai tình tiết định khung hình phạt là
“phạm tội 02 lần trở lên” và “làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ
khác”. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Trong vụ án này có đồng phạm giữa các bị cáo với nhau theo quy định tại
Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, cụ thể bị cáo Ngô Văn L tham gia với vai trò
chính, trực tiếp thực hiện hành vi làm giả các chứng chỉ, bị cáo Nguyễn Văn K
tham gia giúp sức tích cực, các bị cáo Nguyễn Thanh L2, Nguyễn Danh P, Lê
Thị H và Nguyễn Văn B tham gia giúp sức với vai trò môi giới trung gian để
hưởng lợi. Riêng bị cáo B không có hưởng lợi.
[2] Với hành vi khách quan nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử:
Bị cáo Ngô Văn L về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”,
các bị cáo Nguyễn Văn K, Lê Thị H, Nguyễn Danh P, Nguyễn Thanh L2 và
Nguyễn Văn B về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình
phạt được quy định tại các điểm b điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự (thì
bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm), là đúng người, đúng tội, không oan sai.
10
Và khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như sau:
- Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s
khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Ngô Văn L và bị cáo Nguyễn Văn K sau khi phạm tội đã đầu thú;
tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; bị cáo K có hoàn cảnh gia
đình khó khăn; bị cáo Lê Thị H tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất
chính và có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác
nhận, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Nguyễn Thanh L2 tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo
đang mang thai; tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính và có hoàn
cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận quy định tại
điểm n khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Nguyễn Danh P có thành tích xuất sắc trong quá trình công tác;
có mẹ được tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì; đã tự nguyện nộp lại toàn
bộ số tiền thu lợi bất chính và có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền
địa phương xác nhận, quy định tại điểm v khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình
sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ đó, xử phạt bị cáo Ngô Văn L 04 (bốn) năm tù, bị cáo Nguyễn Văn K
03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, bị cáo Lê Thị H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, bị
cáo Nguyễn Danh P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, bị cáo Nguyễn Thanh L2 02
(hai) năm tù, bị cáo Nguyễn Văn B 02 (hai) năm tù, là trong khung hình phạt và
có sự phân hóa vai trò đồng phạm của từng bị cáo khi quyết định hình phạt.
[3] Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm các bị cáo kháng cáo nhưng không
cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới so với các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng nêu tại đoạn
[2]. Riêng bị cáo H được xem xét tình tiết là lao động chính trong gia đình, bị
cáo L2 được xem xét tình tiết đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi là tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình
sự.
Các bị cáo P, bị cáo L2 có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đủ điều kiện được áp dụng khoản 1 Điều
54 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo còn lại không có đủ điều kiện để áp dụng điều
khoản này.
Theo quy định của pháp luật về án treo thì các bị cáo kháng cáo xin hưởng
án treo là thuộc trường hợp không cho hưởng án treo do phạm tội 02 lần trở lên,
không thuộc trường hợp đồng phạm với vai trò không đáng kể, phạm tội thuộc
trường hợp nghiêm trọng.
11
Vì vậy, xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hậu
quả của hành vi phạm tội thì mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử đối với
các bị cáo Ngô Văn L, Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn B là phù hợp. Còn các bị
cáo Nguyễn Thanh L2, Nguyễn Danh P, Lê Thị H được Hội đồng xét xử phúc
thẩm xem xét giảm một phần hình phạt tù.
[4] Với lập luận tại đoạn [1], [2] và [3] là căn cứ để Hội đồng xét xử phúc
thẩm chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, luận cứ
của các luật sư bào chữa cho các bị cáo; quan điểm giải quyết vụ án của đại diện
Viện kiểm sát.
Giữ nguyên mức hình phạt tù đối với các bị cáo Ngô Văn L, Nguyễn Văn
K và Nguyễn Văn B. Giảm một phần hình phạt tù cho các bị cáo Nguyễn Thanh
L2, Nguyễn Danh P và Lê Thị H.
Theo quy định tại điểm a điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 356 và điểm c
khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp sửa án này là do có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
mới và đánh giá về hình phạt của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên Tòa án cấp sơ
thẩm không có lỗi.
[5] Về án phí: mỗi bị cáo Ngô Văn L, Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn B
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo Nguyễn Thanh L2, Nguyễn Danh
P, Lê Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 356 và điểm c khoản 1
Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Sửa bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ các điểm b điểm c khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 khoản 2
Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Ngô Văn L 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày 11/01/2025.
3. Căn cứ các điểm b điểm c khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 khoản 2
Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án (được khấu trừ vào thời
gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2025 đến ngày 29/8/2025).
4. Căn cứ các điểm b điểm c khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 khoản 2
Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
12
Xử phạt bị cáo Lê Thị H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án (được khấu trừ thời gian đã bị
tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2025 đến ngày 29/8/2025).
5. Căn cứ các điểm b điểm c khoản 2 Điều 341, điểm s điểm v khoản 1
khoản 2 Điều 51, Điều 58 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh P 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn
chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án (được khấu trừ vào thời
gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2025 đến ngày 29/8/2025).
6. Căn cứ các điểm b điểm c khoản 2 Điều 341, điểm n điểm s khoản 1
khoản 2 Điều 51, Điều 58 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
7. Căn cứ các điểm b điểm c khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51
và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
8. Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo Ngô Văn L, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn B phải chịu 200.000
đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Lê Thị H, Nguyễn Danh P, Nguyễn
Thanh L2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
9. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND Tối cao;(1) THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Tp . HCM;(3)
- VKSND Khu vực 13; (1)
- THA-DS Khu vực 13; (1)
- TAND Khu vực 13; (7)
- Công an Tp . HCM; (1)
- Phòng PV 06 - CA Tp. HCM;(1)
- Bị cáo;(6)
- Trại tạm giam;(1) Bùi Đức Nam
- Sở Tư pháp; (1)
- UBND nơi bị cáo cư trú; (6)
- Lưu, hình sự, hồ sơ; (33) (4)
13
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 968/2026/HS-PT Bản án số 968/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 968/2026/HS-PT Bản án số 968/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất