Bản án số 87/2026/HS-PT ngày 19/06/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 87/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 87/2026/HS-PT ngày 19/06/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 87/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Đặng Xuân Trường phạm tội trộm cắp tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 87/2026/HS-PT Bản án số 87/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 87/2026/HS-PT Bản án số 87/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 87/2026/HSPT
Ngày: 19-6-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Cảnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Công;
Ông Trần Công Đoàn.
- Thư phiên toà: Phan Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà:
Bà Lê Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 117/2026/TLPT-HS ngày 18
tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo Đặng Xuân T do kháng cáo của bị cáo đối
với bản án hình sự thẩm số 81/2026/HSST ngày 09 tháng 4 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.
- Bị cáo kháng cáo: Đặng Xuân T, sinh năm 1990 tại H, thành phố
Nội; giới tính: Nam; scăn cước công dân: ************. trú: thôn T,
H, thành phố Nội; nghề nghiệp: Tự do; học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt
Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đặng Đức BThị T1;
vợ Phạm Thị C 03 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2025);
tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 28-6-2011 TAND huyện Ứng Hòa, thành phố Nội
(nay TAND khu vực 12, thành phố Nội) xử phạt Đặng Xuân T 05 năm tù
về tội “Cướp giật tài sản”; Ngày 18-4-2017 TAND huyện Thanh Oai, thành phố
Nội (nay TAND khu vực 6, thành phố Nội) xử phạt Đặng Xuân T 06
năm 06 tháng về tội Cướp giật tài sản” (đã chấp hành xong Bản án ngày 28-
9-2022); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16-12-2025 chuyển tạm giam ngày 25-12-
2025 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh N;
mặt.
Trong vụ án còn có người bị hại là ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973
Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1973; cùng địa chỉ: Tổ dân phố P, phường D,
2
tỉnh Ninh Bình; Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm: ch
Phạm Thị C, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, H, thành phố Nội; ông
Hoàng Đức H2, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn Đ, S, thành phố Nội; ông
Đỗ Chí Q, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Đ, K, tỉnh Hưng Yên nhưng đều
không có kháng cáo hoặc bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ ván diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15-12-2025, Đặng
Xuân T điều khiển xe ô biển kiểm soát 29A - 757.54 đi từ nhà ra khu đô thị
H, phường D, tỉnh Ninh Bình mục đích xin việc làm. Khoảng 13 giờ 20 phút
cùng ngày, T điều khiển xe ô đi vào khu vực tdân phố P, phường D, tỉnh
Ninh Bình để tìm chxin việc. Khi xe ô của T cách nhà ông Nguyễn Văn H,
sinh năm 1973, trú tại tổ dân phố P, phường D khoảng 10 mét theo hướng đi
phía trước bên tay trái. T quan sát thấy ông H dắt chiếc xe mô từ trong nhà ra
ngoài đường khoá cửa đi làm. T đoán ông H khoá cửa đi làm sẽ không ai
bên trong nên nảy sinh ý định vào nhà để trộm cắp tài sản. Khi ông H đi được
khoảng 10 phút, quan sát xung quanh vắng người qua lại khu vực này ít nhà
dân. T điều khiển xe đi vào ngõ khu dân gần đó dừng xe sát mép đường bên
phải theo hướng đi vào thì thấy phía sau nhà ông H không nhà dân có
đường đi phía sau nhà, T dừng xe, cầm theo chiếc mỏ lết loại 30 sẵn trên xe
đi bộ theo bờ ruộng ra phía sau nhà, quan sát thấy cửa hậu (loại cửa tôn)
bản lề bên ngoài nên T dùng mỏ lết vặn ốc bản lề, đỡ cánh cửa đặt xuống đi vào
phía trong nhà, thấy cửa bếp lối đi lên nhà khoá trong, cạnh đó cửa sổ làm
bằng song Inox. T cầm tay phải mỏ lết bẻ gãy hai song rồi đu lên cửa sổ và chui
người qua hai song Inox vào trong nhà. T lên phòng khách để tìm tài sản, khi
đến phòng ngủ bên tay trái theo hướng đi vào cạnh phòng khách không khoá,
trong phòng ngủ chiếc két sắt sát tường phía dưới phản, cạnh két sắt hòm
tôn không khóa, T mở hòm tôn để lục tìm thấy hộp nhựa đựng trang sức
màu đỏ, khi mnắp hộp thì không bên trong; T để lên phản thì thấy 01
chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Honor, màu đen nên nhặt lên đút vào túi quần
bên phải đi tìm dụng cụ để phá két sắt. Thấy phía dưới kệ bếp bình ga, T
dùng tay khóa van và tháo bình ga bê lên phòng ngủ, lấy hai chiếc gối trên phản
đặt xuống nền nhà rồi két sắt lên hai gối, dùng hai tay bình ga quay
ngược lại đập mạnh phần đầu bình ga vào mặt két sắt khoảng 5-6 nhát thì cửa
két sắt bụng ra, bên trong bọc tiền đựng trong túi nilon màu trắng, T cầm túi
tiền đút vào túi quần bên trái sau đó ra lấy khăn treo dây nhúng nước lau sạch
mặt két sắt nhằm xoá dấu vết và ra xe ô tô, trên đường về T vứt chiếc mỏ lết mà
trước đó dùng để vặn ốc bản lề xuống cạnh ơng nước. Về nhà, T lấy bọc tiền
đã trộm ra đếm được 80.000.000 đồng (gồm hai cọc tiền mệnh giá 500.000
đồng, mỗi cọc trị giá 20.000.000 đồng; còn lại là tiền mệnh giá 200.000 đồng và
500.000 đồng). T cầm 20.000.000 đồng để tiêu sài nhân, số tiền còn lại
chiếc điện thoại T cất vào tủ đựng quần áo. Khi ông Nguyễn Văn H về phát hiện
bị kẻ gian đột nhập vào nhà phá két sắt trộm cắp tiền, ông H đã trình báo Công
an phường D, tỉnh Ninh Bình. quan CSĐT Công an tỉnh N đã soát các hệ
3
thống Camera an ninh, tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc,
thu mẫu dấu vết gồm 01 chiếc két sắt, cánh cửa két sắt khóa nhãn hiệu Việt
Tiệp bị hư hỏng; 01 khoá Việt Tiệp đã cũ; 01 hộp nhựa màu đỏ, dạng hộp đựng
trang sức; 02 thanh kim loại (dạng khung chấn song cửa), kích thước (0,6 x
0,026 x 0,015)m; 02 bản lề bằng kim loại được niêm phong dán kín trong thùng
cát tông để phục vcho công tác điều tra truy tìm đối tượng. Ngày 16-12-2025
Đặng Xuân T bị triệu tập, quá trình đấu tranh T đã khai nhận toàn bộ hành vi
trên tự nguyện giao nộp số tiền 9.400.000 đồng; 01 chiếc xe ô nhãn hiệu
Huyndai Get màu xanh, BKS 29A-757.54; 01 giấy chứng nhận kiểm định s
0210537; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe ô số
350933; 01 Giấy phép lái xe hạng C số 010158060140 mang tên Đặng Xuân T.
quan CSĐT Công an tỉnh N đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ của
Đặng Xuân T tại thôn T, H, thành phố Nội. Kết quả đã thu giữ trong tủ
quần áo của T số tiền 60.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Honor, màu đen, ngoài ra không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan
vụ án.
quan CSĐT ng an tỉnh N giám định đường vẫn thu gitrong quá
trình khám nghiệm hiện trường. Tại bản kết luận giám định số 394/KL-KTHS
ngày 16-01-2026 của Phòng thuật hình sCông an tỉnh N kết luận: Trên mẫu
vật cần giám định hiệu A3 A4 phát hiện thấy dấu vết đường vân đứt đoạn,
chồng không đủ yếu tố giám địnhký hiệu A3 và A4 phát hiện thấy dấu vết đường
vân đứt đoạn, chồng chéo, mờ nhòe, không đủ yếu tố giám định”. Trên mẫu vt
cần giám định hiệu A1, A2, A5 46 không phát hiện thấy dấu vết đường
vân”.
quan CSĐT Công an tỉnh N ra văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài
sản thường xuyên trong tố tụng hình sự. Tại bản kết luận định giá tài sản số
02/KL-KLĐG ngày 24-01-2026, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong
tố tụng tỉnh sự phường Duy Tân, tỉnh kết luận“Trị giá chiếc két sắt, cánh của
két sắt khóa nhãn hiệu Việt Tiệp bị hỏng thời điểm ngày 15-12-2025
giá 227.000 đồngTrị giá chiếc điện thoại nhãn hiệu Honor, màu đen, điện thoại
đã qua sdụng, thời điểm ngày 15-12-2025 g1.783.000 đồng; Công
hàn hai thanh kim loại màu trắng sáng (dạng khung chấn song cửa) và công lắp
bản lề và cửa, thời điểm ngày 15-12-2025 có giá 127.000 đồng; Trị giá chiếc xe
ô BKS 294 - 757.54, nhãn hiệu Huyndai Get, màu xanh, xe đã cũ đăng ký lần
đầu ngày 10-5-2013, thời điểm ngày 15-12-2025 có giá 57.500.000 đồng”.
Qúa trình điều tra, Ngày 29-01-2026 quan CSĐT Công an tỉnh N đã ra
Quyết định xử vật chứng trả lại cho gia đình ông Nguyễn Văn H. Sau khi
nhận lại tài sản ông H không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Chiếc xe ô nhãn hiệu Huyndai Get, màu xanh BKS 29A-757.54 các
giấy tờ liên quan khác thu của Đặng Xuân T sẽ xử trong quá trình giải quyết
vụ án.
4
Từ nội dung trên; Tại bản án hình sự thẩm số 81/2026/HSST ngày 09
tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm c
khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; Xử phạt bị cáo Đặng
Xuân T 05 (năm) năm tù, thi hn tù tính t ngày 16-12-2025.
Ngoài ra bản án thẩm còn xvật chứng, nghĩa vụ nộp tiền án phí
quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại và người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngày 16-4-2026 bị cáo Đặng Xuân T kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo với do
sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả cho bị hại và bị
hại không yêu cầu thêm, hoàn cảnh gia đình khó khăn, con nhỏ. Đề nghị
HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo và giảm hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu quan điểm:
Kháng cáo của bị cáo Đặng Xuân T được làm trong thời hạn luật định nên được
xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Xét nội dung vụ án hành vi của bị cáo gây ra thì cấp
thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” căn cứ, mức hình phạt
cấp thẩm đã áp dụng đối với bị cáo phù hợp. do xin giảm hình phạt
bị cáo trình bày tại phiên tòa hôm nay sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị
cáo đã khắc phục hậu quả cho bị hại bị hại không yêu cầu thêm. Tại
phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không trình bày được do mới. Do vậy, Đề nghị
HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số
81/2025/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vc 6 -
Ninh nh. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173;điểm s khoản 1
Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Xuân T 05 (năm) năm tù.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được đối với hành vi mà bị cáo
đã gây ra, đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở ni dung v án, căn cứ vào các tài liu trong h sơ vụ án đã được
tranh tng ti phiên toà, Hội đồng xét x (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, Căn
cứ Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), được Hội đồng xét
xử xem xét theo trình tự phúc thẩm. Về hành vi, quyết định tố tụng của quan
điều tra, Viện kiểm sát và Toà án cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét
xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS.
Quá trình điều tra tại phiên toà, bị cáo bị hại không ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
5
Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày
15-12-2025 Đặng Xuân T điều khiển xe ô BKS 29A-757.54 đến khu vực Tổ
dân phố P, phường D, tỉnh Ninh Bình. Sau khi biết nhà ông Nguyễn Văn H
không có người trông coi, T cầm theo 01 chiếc mỏ lết loại 30 ở trong xe ô tô tháo
bản lề cửa tôn, b02 chắn song Inox cửa sổ đột nhập vào trong nhà ông H. Bị
cáo dùng bình ga đập phá két sắt để trộm cắp số tiền 80.000.000 đồng 01
chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Honor trị giá 1.783.000 đồng. Tổng tài sản
Đặng Xuân T trộm cắp của gia đình ông Nguyễn Văn H có gtrị 81.783.000
đồng. Với hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài
sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS nên Tòa án cấp sơ thẩm
xét xử bị cáo Đặng Xuân T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, HĐXX thấy
rằng: B cáo người đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhn thức rất
hành vi ca mình vi phm pháp luật nhưng vn c ý thc hin. Bị cáo đối
tượng đã nhiều lần bị Tòa án xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu
dưỡng bản thân vẫn tiếp tục những hành vi coi thường để vi phạm pháp
luật. Tòa án cấp thẩm cũng đã xét đến tính chất, mức độ do hành vi phạm tội
của bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như
nhân thân của bị cáo để áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo. Xét mức hình phạt
05 (Năm) năm tù cấp thẩm đã tuyên đối với bị cáo phù hợp với hành vi
phạm tội của bị cáo đã gây ra. do bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt tại phiên tòa
phúc thẩm là đã bồi thường cho bị hại, nhưng thực tế bị cáo bị thu giữ số tiền do
trộm cắp để trả cho bị hại. Ngoài ra các do khác cũng đã được xem xét
tại cấp thẩm. Vì vậy, không căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bcáo nên
cần giữ nguyên bản án hình sự thẩm s81/2026/HS-ST ngày 09-4-2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình. Do vậy yêu cầu xin giảm nhẹ của bị cáo
không được HĐXX phúc thẩm chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp tiền
án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bluật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Xuân T. Giữ nguyên bản án
thẩm số 81/2026/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực
6 - Ninh Bình;
6
2. Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm
c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt
bị cáo Đặng Xuân T 05 (năm) năm tù, thi hn tù tính t ngày 16-12-2025.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo
Đặng Xuân T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án/.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDTC;
- VKSNDTC (Viện CT và KSXXHS);
- Phòng GĐ, KT, TT và THA;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Phòng HSNV - Công an Ninh Bình;
- TAND khu vực 6;
- VKSND khu vực 6;
- Phòng PC 10;
- Trại tạm giam số 2 – CA tỉnh Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, lưu Tòa Hình sự, HCTP;
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 87/2026/HS-PT Bản án số 87/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 87/2026/HS-PT Bản án số 87/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất