Bản án số 868/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng hợp tác

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 868/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 868/2026/DS-PT ngày 17/08/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng hợp tác
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 868/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Phát Đ "tranh chấp hợp đồng hợp tác" Dương Thị T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 868/2026/DS-PT Bản án số 868/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 868/2026/DS-PT Bản án số 868/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 868/2026/DS-PT
Ngày: 02-7-2026
V/v tranh chấp hợp đồng hợp tác
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thanh
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Bích Tuyền
Bà Phạm Thị Hồng Vân
Thư phiên tòa: Ông Đặng Minh Huy Thư Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Đặng
Thị Châu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 tháng 6 ngày 02 tháng 7 năm 2026, tại tr sở Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sphúc thẩm thụ số
181/2026/TLPT-DS ngày 23 tháng 3 m 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp
tác”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 261/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 247/2026/QĐ-PT ngày 17/4/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Phát Đ, sinh năm 1963; Địa chỉ: Tỉnh lộ 825 ấp C,
xã H, tỉnh Tây Ninh, (có mặt ngày 26/6/2026 và vắng mặt ngày 02/7/2026);
2. Bị đơn: Dương ThT, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp C, Đ, tỉnh Tây Ninh,
(có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho T: Luật sư Nguyễn Lê Khắc H
Công ty L - thuộc Đoàn luật sư thành phố H, có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Phan Quốc H1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số D Đường số A, phường
T, Thành phố HChí Minh. Tạm trú: 313 Lô A, Khu nhà ở quân đội - D P, Khu phố
A, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh, (có đơn xin vắng mặt).
3.2. Ông Trần Quốc D, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt);
3.3. Bà Thái Thị K, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt);
2
Cùng địa chỉ: Số A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung; trong quá trình giải quyết vụ án và
tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Phát Đ trình bày:
Khong tháng 02/2018, T đề ngh ông Đ góp vốn để nhn chuyển nhượng
mt na thửa đất 766, t bản đồ s 34, ti Đ, huyện Đ, tnh Long An vi giá
1.200.000.000 đồng. Mỗi người p s tiền 600.000.000 đồng. Khong tháng
4/2018, bà T hn ông Đ đến Văn phòng C) Lê Ngc M để làm th tc nhn chuyn
nhưng tha 766. Tại đây, ông Đ đã giao đủ cho bà T s tiền 600.000.000 đồng.
T có làm cho ông Đ giy cam kết đề ngày 19/3/2018, ni dung th hin bà T và ông
Đ mua chung mt na ca thửa đt 766. Tin mua thửa đất trên do ông Đ
T góp vốn nhưng chỉ T đứng tên trên giy chng nhn quyn s dụng đất
(GCNQSDĐ), ông Đ cũng quyền định đoạt thửa đất 766. Mc dù, giy cam kết
T đề ngày 19/3/2018 nhưng T đưa cho ông Đ ti VPCC Ngc M vào
ngày T HĐCNQSD, đối tượng thửa đt 766, ngay sau khi ông Đ giao cho
bà T s tiền 600.000.000 đồng. Do không để ý nên ông Đ ng không xem lại ngày
tháng trên giy cam kết. Bà T ký n và lăn tay trên giấy cam kết.
Sau đó, ông Đ nhiu ln liên h bà T đu cu tr li s tiền đã góp vn nhn
chuyển nhượng thửa đất 766 nhưng bà T không tr tin cho ông Đ. Năm 2021, ông
Đ khi kin T tại Tòa án. Năm 2022, ông Đ rút đơn khi kiện để tha thun
vi bà T nhưng bà T vn không tr tiền nên đến năm 2024, ông Đ tiếp tc khi kin
bà T.
Tại đơn khởi kin, ông Đ yêu cu bà T phi tr cho ông Đ ½ thửa đất 766, din
tích 480m
2
. Trong quá trình gii quyết v án, căn cứ tài liu chng c do Tòa án thu
thp th hin ngày 20/4/2018, T ông Trn Quc D nhn chuyển nhượng ca
ông Mạch Văn T1, Trn Th Huế P thửa đt 766 theo hợp đồng chuyển nhượng
quyn s dụng đất (HĐCNQSDĐ) số 6252 ngày 20/4/2018 ti VPCC Ngc M.
Ngày 12/6/2018, T ông D đã được Chi nhánh văn phòng Đ2 (VPĐKĐĐ) ti
huyện Đ cp nht biến động sang tên trên giy chng nhn quyn s dụng đất
(GCNQSDĐ) số CN 076595 ngày 12/3/2018, ti thửa đất 766. Ngày 20/6/2018, bà
T v chng ông D, Thái Th K chuyển nhượng cho ông Phan Quc H1 tha
đất 766. Ông H1 đã được S Tài nguyên Môi trường tnh L cấp GCNQSDĐ số
CP 079659 ngày 28/8/2018, ti thửa đất 766. Hin nay, ông H1 đứng tên thửa đất
này theo Văn bản tr li s 2100 ngày 17/5/2024 của Chi nhánh VPĐKĐĐ tại huyn
Đ.
Trên GCNQSDĐ chỉ đng tên ông D và bà T, khi chuyển nhượng thửa đất 766
cho ông H1, T không nói cho ông H1 biết ông Đ góp tin cho T nhn chuyn
nhưng thửa đất 766. Như vậy, ông H1 người th ba ngay tình được pháp lut bo
v. vy, ông Đ không tranh chấp đối với các HĐCNQSDĐ liên quan đến thửa đất
766 t ông T1, P sang ông D, bà T và HĐCNQSDĐ t v chng ông DT
vi ông H1, không tranh chấp liên quan đến quyn s dng ca ông H1 đối vi tha
đất 766, GCNQSDĐ đã cấp cho ông H1.
3
Ông H1 trình bày đã nhn chuyển nhượng thửa đất 766 vi giá 2.800.000.000
đồng. Ông Đ góp chung bà T ½ giá tr thửa đất 766, nghĩa giá tr ca ¼ thửa đất
766 tr giá 700.000.000 đồng. Sau khi T chuyển nhượng thửa đất 766 cho ông H1
thì T phải có nghĩa vụ tr cho ông Đ s tin gc đã góp 600.000.000 đng
100.000.000 đồng tin li. Tuy nhiên, T không tr tin cho ông Đ để kéo dài
đến nay.
Do đó, ông Đ thay đổi yêu cu khi kin và khi kin b sung như sau: Yêu
cu T tr cho ông Đ s tiền 700.000.000 đồng giá tr ca ¼ thửa đất 766 tin
lãi chm tr tính t tháng 7/2018 đến nay vi lãi sut 10% trên s tin 700.000.000
đồng, tm tính s tiền 420.000.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Đ thay đi mt s ni dung khi kiện như sau: Yêu
cu T tr cho ông Đ s tin góp vốn 600.000.000 đồng; s tin li tc
90.000.000 đng tin lãi chm tr tính t ngày 01/7/2018 đến ngày Tòa án gii
quyết vi lãi sut 10%/năm trên số tiền 690.000.000 đồng, thành tin là
1.186.579.452 đồng.
Ông Đ xác đnh, hợp đồng hợp tác được xác lp gia ông Đ T, không liên
quan đến v ca ông Đ hay chng ca T. Giy cam kết đề ngày 19/3/2018 cũng
ch th hin tên ca ông Đ và bà T ký tên. Do đó, ông Đ ch khi kin yêu cu bà T
tr tin.
Trong quá trình gii quyết v án và ti phiên tòa, b đơn và người đại diện hợp
pháp của bị đơn trình bày:
Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của T T
trình bày nội dung vụ án khác nhau tại buổi làm việc ngày 24/3/2025 ngày
24/4/2025 của a án. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H2 xác định lời trình bày tại Biên
bản làm việc ngày 24/4/2025 và tại phiên tòa là đúng. Nội dung cụ thể như sau:
Tháng 3/2018, thông qua ông Trương Văn M1 giới thiệu, bà T ông Trần
Quốc D góp vốn để nhận chuyển nhượng thửa đất 766. Theo đó, mỗi người sẽ
góp ½ số tiền, tương đương 1.200.000.000 đồng. Ông Đ biết T ý định mua
thửa đất với ông D nên ông Đ đề nghị T cho ông Đ góp cùng, bà T đồng ý. Do
đó, T ông Đ đã làm Giấy cam kết đề ngày 19/3/2018, nội dung thể hiện T
ông Đ mua chung một nửa của thửa đất 766. Cụ thể số tiền T bỏ ra là
1.000.000.000 đồng, số tiền ông Đ bỏ ra 200.000.000 đồng. Ông Đ chỉ góp số tiền
200.000.000 đồng nên ông Đ đồng ý để bà T đứng tên trên GCNQSDĐ.
Tháng 6/2018, ông Trương Văn M1 tiếp tục giới thiệu cho T ông D
chuyển nhượng thửa đất 766 cho ông Phan Quốc H1 với giá 2.760.000.000 đồng
(giá ban đầu bà T đưa ra là 2.800.000.000 đồng). Tuy trên giấy tờ không có tên ông
Đ nhưng khi chuyển nhượng thửa đất 766 cho ông H1, bà T thông báo cho ông
Đ biết. Sau khi ký chuyển nhượng thửa đất 766 cho ông H1, tại VPCC Lê Ngọc M,
bà T đã chia cho ông D số tiền 1.200.000.000 đồng tiền gốc, 180.000.000 đồng tiền
lời chia cho ông Đ số tiền góp 200.000.000 đồng, tiền lời là 30.000.000 đồng. Bà
T đã thực hiện xong nghĩa vụ với ông D ông Đ theo hợp đồng hợp tác thể hiện
qua Giấy cam kết đề ngày 19/3/2018.
4
Nay ông Đ sử dụng Giấy cam kết góp vốn để khởi kiện T không đúng.
Lúc đó do sơ suất, T nghĩ anh em làm ăn chung p vốn mua đất chia xong thì
thôi, nên bà T không xé Giấy cam kết trên. Lúc trả tiền cho ông Đ ông Trương
Văn M1 và con trai T là ông Võ Thành T2 làm chứng. Ông M1 và ông Võ Thành
T2 thấy ông Đ ôm cọc tiền, mệnh g200.000.000 đồng và 30.000.000 đồng. Ông
M1 kêu ông Đ gửi tiền môi giới bán miếng đất trên nhưng ông Đ đi luôn không cho
ông M1 tiền. Bà T có có gửi cho ông M1 số tiền 15.000.000 đồng.
Sau đó khoảng 10 ngày kể từ khi nhận được tiền của T, ông Đ mang theo
200.000.000 đồng đến nhà bà T để góp vốn, tiếp tục mua đất, nhưng nhà đất xuống
giá nên không mua được. Số tiền 200.000.000 đồng của ông Đ đã được T cấn trừ
tiền nợ vật liệu y dựng ông Đ n nợ 110.000.000 đồng chuyển trả vào tài
khoản của ông Đ 90.000.000 đồng. Như vậy, T không nợ ông Đ bất kỳ số tiền
nào. Trong quá trình giải quyết vụ án, T đơn yêu cầu Tòa án thu thập số tài
khoản của ông Đ tại Ngân hàng và các giao dịch liên quan đến số tài khoản này.
Đồng thời, Thị Trà M2 cũng đã nộp đơn tại Ngân hàng yêu cầu Ngân hàng
cung cấp lại thông tin vviệc đã chuyển khoản cho ông Đ nên ông đề nghị HĐXX
hoãn phiên toà để chờ kết quả trả lời của Ngân hàng cho bà M2.
Năm 2021, ông Đ khởi kiện T tại Tòa án T đã trình bày đã trả đủ
tiền cho ông Đ. Sau đó, ông Đ rút đơn khởi kiện. Nhiều năm nay, ông Đ cũng không
tới nT để đòi số tiền này. Nay ông Đ lại tiếp tục khởi kiện T không
căn cứ, đề nghị HĐXX không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Phan Quốc H1 có ý kiến trình bày:
Ngày 20/6/2018, ông có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Trần Quốc D,
Thái Thị K và bà Dương Thị Tuyết T3 đất 766 với giá 2.800.000.000 đồng. Tại
thời điểm nhận chuyển nhượng thửa đất 766, đất không tranh chấp, giấy tờ hợp pháp,
trên GCNQSDĐ đứng tên bà T và ông D. Việc chuyển nhượng đúng quy định pháp
luật. Hiện tại, ông đang đứng tên thửa đất đã chuyển mục đích sử dụng từ đất
LUA sang đất ONT. Khi các bên xác lập HĐCNQSDĐ chỉ mặt T, ông D. Ông
không biết ông Đ là ai và không biết việc góp vốn để mua thửa đất 766 giữa ông Đ
và bà T. Do đó, trong vụ án này, ông không có quyền lợi hay nghĩa vụ liên quan gì.
Ông đề nghị Tòa án không tiếp tục mời ông xin vắng mặt trong suốt quá trình
Tòa án giải quyết vụ án tại các cấp xét xử.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Trần Quốc D và bà Thái Thị K thống nhất trình bày:
Ông xác nhận cùng góp vốn mua đất với bà Dương Thị T tỷ lệ 50:50 một
thửa đất duy nhất ở đường B, thuộc huyện Đ, tỉnh Long An. Do thời gian đã lâu nên
ông bà không còn nhớ thông tin c thể liên quan đến thửa đất. Ông chỉ nhớ một
số chi tiết sau: Sau khi cùng mua đất trên chưa đầy 2 tháng người mua lại
và thửa đất mồ mả phía sau nên ông bà quyết định bán nhanh để thu hồi vốn. Sau
khi công chứng bán xong, ông trừ tiền thuế phải đóng còn lại chia 2 tại phòng
công chứng. Sau đó ông bà ra về. Còn về việc Dương Thị T góp vốn với ai
5
hay không thì vợ chồng ông hoàn toàn không được biết. Vậy nên tranh chấp giữa
ông Trần Phát Đ Dương Thị T thai bên tgiải quyết ông không có bất
cứ thông tin nào về sự việc này.
Ông đề nghị Tòa án cho vắng mặt tại các phiên họp công khai chứng cứ, hòa
giải và đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 261/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 ca
Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Phát Đ về việc “tranh
chấp hợp đồng hợp tác” đi với bà Dương Thị Tuyết .
Buộc Dương Thị T nghĩa vụ trả cho ông Trần Phát Đ số tiền
1.186.579.452 đồng (một tỷ, một trăm tám mươi sáu triệu, năm trăm bảy mươi chín
ngàn, bốn trăm năm mươi hai đồng).
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, n có nghĩa vụ
chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy
định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bluật dân sự tương ứng với thời gian chưa
thi hành án, trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác hoặc pháp luật quy định
khác.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền, thời hạn
kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 08/9/2025 bà Dương Thị T kháng cáo yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tây
Ninh xem xét phúc thẩm giải quyết lại bản án thẩm số 261/2025/DS-ST ngày
12/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà Dương Thị Tuyết G nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà T trình bày: Tòa
án cấp thẩm xác định đây tranh chấp hợp đồng góp vốn, các bên không thể hiện
số tiền gốc trong văn bản cam kết các bên thỏa thuận miệng. Nguyên đơn
không chứng cứ chứng minh rằng góp vốn số tiền vốn 600 triệu đồng. Tại thời
điểm mua đất bà T góp số tiền 1 tỷ đồng, nguyên đơn góp số tiền 200 triệu đồng.
Khi bán tài sản bà T có thông báo cho ông Đ việc bán tài sản và khi đó bà T có giao
cho ông Đ số tiền 200 triệu đồng và tiền lời phát sinh 30.000.000 đồng. Ngoài ra,
T cung cấp thêm chứng cứ là Vi bằng số 434/2026/VB-TPL ngày 02/7/2026 do n
phòng T4 lập vi bằng bản tường trình cam kết người làm chứng Nguyễn Văn H3
nội dung như sau: “Vào buổi sáng tầm 09 giờ ngày 20/4/2018 ông H3 liên hệ với
T để bán miếng đất của ông H3 thì T báo với ông H3 là T đang Văn
phòng C do đó ông H3 có đến Văn phòng C. Tại đây ông H3 có gặp ông Trần Phát
Đ, sinh năm 1963, địa chỉ: C, M, phường A, quận H, thành phố Hồ Chí Minh đưa
cho T tổng cộng số tiền 200.000.000đ, toàn bộ 4 cọc loại 500.000đ để mua
thửa đất 766, tờ bản đồ số 34, diện tích 960 m
2
, địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh
Long Ancho thấy việc bà T đã giao số tiền 230.000.000 đồng cho ông Đ xong tại
6
phòng công chứng nên đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án theo hướng không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn.
- Ông Đ không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của T u cầu T trả lãi
chậm trả tngày ông Đ khởi kiện lần đầu và được Toà án nhân dân huyện Đức Hoà
thụ lý là ngày 26/10/2021.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn bà Dương Thị Tuyết Đ1 điu kin
để xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
Dương Thị Tuyết . Sửa Bản án Dân sự thẩm số 261/2025/DS-ST ngày 12 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Tây Ninh về thời điểm tính lãi
chậm trả được xác định từ khi ông Đ có đơn khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của bị đơn Dương Thị T thực hiện đúng theo quy định tại
Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bluật Ttụng dân sự. Nguyên đơn
vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án
được xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Trần Phát Đ khởi kiện yêu
cầu bà T tr cho ông Đ s tin vn p chuyển nhượng ¼ thửa đất 766 trong Hp
đồng hp tác, li tc tin lãi chm trả. Tòa án cấp sơ thẩm xác định vụ án tranh
chấp về hợp đồng hợp tác và thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của B luật Tố tụng dân sự.
[3] Việc xét xvắng mặt đương sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vliên
quan bao gồm các ông bà Phan Quốc H1, Trần Quốc D, Thái Thị K vắng mặt nhưng
đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn xét
xử phúc thẩm vụ án.
[4]. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Dương Thị T, thấy rằng:
Trong quá trình thu thập chứng cứ tại phiên Tòa hôm nay ông Đ bà T đều
trình bày thống nhất về việc ông Đ, bà T có góp vốn để mua chung ½ thửa đất 766.
Tuy nhiên T cho rằng, ½ giá trị thửa đất 766 tại thời điểm nhận chuyển
nhượng là 1.200.000.000 đồng, ông Đ chỉ góp số tiền 200.000.000 đồng và bà T đã
trả xong cho ông Đ số tiền 200.000.000đ.
Ông Đ cho rằng: Số tiền ông Đ góp 600.000.000 đồng. Sau khi đứng tên thửa
đất 766 và chuyển nhượng thửa đất cho ông H1 thì bà T không trả cho ông Đ bất kỳ
số tiền nào.
Để chứng minh cho lời trình bày của mình ông Đ cung cấp giấy cam kết đề
ngày 19/3/2018, nội dung: Tôi Dương Thị T nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất thuộc thửa 766, tờ bản đồ số 34, diện tích 960m
2
, tại ấp B, xã Đ, huyện
7
Đ, tỉnh Long An. Tôi ông Đ mua chung một nửa của thửa đất trên nhưng chỉ
mình tôi đứng tên GCN quyền sdụng đất”. Thỏa thuận này phù hợp với lời trình
bày của ông D, T hcấp GCNQSDĐ đối với thửa 766 chỉ thể hiện người
đứng tên trên GCNQSDĐ là ông D và bà T. Giấy cam kết được lập ngày 19/3/2018,
T ông D nhận chuyển nhượng thửa đất 766 của ông T1, P vào ngày
20/4/2018. Như vậy, việc góp vốn giữa ông Đ và bà T diễn ra trước ngày bà T nhận
chuyển nhượng, cho thấy việc các bên đã xác lập thỏa thuận góp vốn trước thời điểm
bà T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Xét thấy, tại Khoản 3 Điều 404 Bộ luật Dân sự quy định về giải thích hợp đồng
như sau: “các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ với
nhau, sao cho các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung hợp đồng”. Vì thế,
trên giấy cam kết không thể hiện số tiền ông Đ góp bao nhiêu nhưng có căn cứ xác
định ông Đ người mua chung với T được quyền định đoạt thửa đất mua
chung này trong giấy cam kết không xác định tỷ lệ quyền, nghĩa vụ tương ứng
của mỗi bên nên cần được giải thích theo hướng số tiền góp của ông Đ T
như nhau nên quyền định đoạt là nnhau mà không nêu rõ quyền của mỗi người
theo tỉ lệ nào. Việc T cho rằng T góp nhiều hơn nên bà T được đứng tên trên
GCNQSDĐ là không có căn cứ vì trên giấy cam kết không thể hiện nội dung này
pháp luật cũng không quy định người góp vốn nhiều hơn sẽ được đứng tên trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 506 Bộ luật Dân sự thì tài sản chung của các
thành viên đóng góp tài sản chung theo phần. T không xác định trong giấy cam
kết phần của từng người nên cần được giải thích theo hướng công bằng mỗi bên
góp như nhau. Bà T và ông Đ đều trình bày số tiền nhận chuyển nhượng ½ thửa đất
766 là 1.200.000.000 đồng nên có căn cứ xác định số tiền ông Đ góp là 600.000.000
đồng.
Ngày 20/6/2018, T ông D chuyển nhượng cho ông H1 thửa đất 766 với
giá 2.760.000.000 đồng. Ông H1 trình bày giá ông H4 nhận chuyển nhượng
2.800.000.000 đồng. Ông Đ thống nhất về giá theo lời trình bày của bà T. Như vậy,
T ông Đ sẽ được nhận v1.380.000.000 đồng. Trong đó, ông Đ được nhận
690.000.000 đồng, bà T nhận 690.000.000 đồng (600.000.000 đồng tiền vốn góp và
90.000.000 đồng lợi tức). T phải nghĩa vụ trả cho ông Đ số tiền 690.000.000
đồng ngay khi T chuyển nhượng thửa đất 766 cho ông H1 thu về 1.380.000.000
đồng.
Bà T cho rằng đã trả cho ông Đ số tiền 200.000.000 đồng tiền góp
30.000.000 đồng tiền lời tại Văn phòng công chứng ngay sau khi chuyển nhượng
cho ông H1 xong, sự chứng kiến của ngườim chứng là ông Trương Văn M1 và
ông M1 cũng có Tờ cam kết gửi cho Tòa án. Xét nội dung Tờ cam kết của ông M1
như sau: “Ngay tại phòng công chứng Lê Ngọc M, tôi thấy ông D ôm cc tiền được
chia rồi đi, T chia tiền và giao trả tiền hùn đất một cọc tiền 200.000.000 đồng loại
tiền 500.000 VNĐ và tiền lời bán đất 30.000.000 đồng cho ông Trần Phát Đ”. Bà T
cho rằng ông M1 đất nên mặt tại Văn phòng C vào ngày 20/6/2018 nhưng
bà T ông M1 đều không chứng minh được sự có mặt của ông M1 vào ngày này.
8
Bản thân ông M1 còn không thể chứng minh được ông có mặt thì không thể chứng
minh được việc ông thấy T giao cho ông Đ chính xác số tiền 230.000.000 đồng
như lời T trình bày. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Đ cho rằng: ông Đ không biết
ông M1ai và khi bà T bán thửa đất 766 cho ông H1 thì ông Đ không biết, ông Đ
không có mặt tại Văn phòng công chứng khi bà T bán đất cho ông H1 nên không có
việc T trả cho ông Đ số tiền 230.000.000đ như T và ông M1 trình bày. T
không chứng cứ chứng minh ông Đ có mặt tại Văn phòng công chứng khi T
làm thủ tục bán đất cho ông H1. Từ những phân tích trên, sở xác định: Lời
trình bày của ông M1 là không có căn cứ nên không chấp nhận.
Tại phiên Toà phúc thẩm, T cung cấp Vi bằng số 434/2026/VB-TPL ngày
02/7/2026 do Văn phòng T4 lập vi bằng bản tường trình cam kết người làm chứng
Nguyễn Văn H3 có nội dung như sau: “Vào buổi sáng tầm 09 giờ ngày 20/4/2018
ông H3 có liên hệ với T để bán miếng đất của ông H3 thì bà T báo với ông H3
là bà T đang ở Văn phòng C do đó ông H3 đến Văn phòng C. Tại đây ông H3
gặp ông Trần Phát Đ, sinh năm 1963, địa chỉ: C, M, phường A, quận H, thành phố
Hồ Chí Minh đưa cho T tổng cộng số tiền 200.000.000đ, toàn bộ 4 cọc loại
500.000đ để mua thửa đất 766, tờ bản đồ số 34, diện tích 960 m
2
, địa chỉ: Ấp B,
Đ, huyện Đ, tỉnh Long An”, xét thấy: Tại phiên toà phúc thẩm bà T cung cấp chứng
cứ này, ông H3 không có mặt tại phiên Toà để Hội đồng xét xử làm rõ lời trình bày
của ông H3. T không cung cấp chứng cứ chứng minh ông H3 mặt tại Văn
phòng C vào ngày 20/4/2018 nên căn cứ vào Vi bằng này chưa đủ căn cứ để xác
định ngày 20/4/2018 ông Đ đưa cho bà T số tiền 200.000.000 đồng.
Từ những phân tích trên, cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ
buộc bà T trả cho ông Đ số tiền 690.000.000 đồng là có căn cứ.
Về yêu cầu trả lãi chậm trả: Theo quy định tại khoản 3 Điều 506 Bộ luật Dân
sự “Không được phân chia tài sản chung trước khi chấm dứt hợp đồng hợp tác, trừ
trường hợp các thành viên hợp tác có thỏa thun”. Như vậy, việc hợp tác giữa bà T
và ông Đ chấm dứt tính từ thời điểm bà T chuyển nhượng thửa đất 766 cho ông H1
là ngày 20/6/2018 thì bà T phải có nghĩa vụ hoàn lại tiền góp và hoa lợi, lợi tức cho
ông Đ nhưng T không thực hiện. Tại phiên Toà phúc thẩm, ông Đ yêu cầu T
trả lãi chậm trả từ ngày ông Đ khởi kiện lần đầu được Toà án nhân dân huyện
Đức Hoà thụ ngày 26/10/2021. Đây quyền tự định đoạt của đương sự nên ghi
nhận. Cụ thể lãi suất được tính như sau: 690.000.000 đồng x 10%/năm x 3 năm 10
tháng 16 ngày (từ ngày 26/10/2021 đến ngày 12/9/2025) = 267.459.640 đồng.
Tổng số tiền bà T phải trả cho ông Đ là 957.459.640 đồng.
[5] Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của bà Dương Thị T;
chấp nhận quan điểm đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh
tại phiên tòa; không chấp nhận quan điểm của người bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp cho bà T; sửa bản án sơ thẩm về lãi chậm trả.
[6] Về án phí phúc thẩm:
Căn cứ Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
9
quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bà T nên bà T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm.
[7] Các quyết định khác của bản án thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Không chấp nhận kháng cáo của bà Dương Thị Tuyết .
3. Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 261/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3, tnh Tây Ninh về phần lãi chậm trả.
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng
dân sự;
Căn cứ Điều 504, 506, 507, 404, 357 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Phát Đ về việc “tranh chấp hợp
đồng hợp tác” đối với bà Dương Thị Tuyết .
Buộc bà Dương Thị T nghĩa vụ trả cho ông Trần Phát Đ số tiền 957.459.640
đồng (chín trăm năm mươi bảy triệu, bốn trăm năm mươi chín ngàn, sáu trăm bốn
mươi đồng).
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, n có nghĩa vụ
chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy
định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bluật dân sự tương ứng với thời gian chưa
thi hành án, trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác hoặc pháp luật quy định
khác.
2. Về chi phí tố tụng. Dương Thị T có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Trần Phát
Đ số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
3. Về án phí dân sự thẩm: Dương Thị T phải chịu số tiền án phí
40.723.789 đồng (bốn mươi triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, bảy trăm tám mươi
chín đồng).
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Dương Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu
số 0004980 ngày 24/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
10
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 của Luật Thi hành
án dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9 của Luật Thi hành án; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 của Luật Thi hành án dân
sự.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm TANDTC tại Thành phố
Hồ Chí Minh;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 3 – Tây Ninh;
- Chi cục THADS khu vực 3 – Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS; AV./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Phước Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 868/2026/DS-PT Bản án số 868/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 868/2026/DS-PT Bản án số 868/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất