Bản án số 52/2026/DS-PT ngày 02/04/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 52/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 52/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 52/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 52/2026/DS-PT ngày 02/04/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Thái Nguyên |
| Số hiệu: | 52/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 02/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Đỗ Văn N với bị đơn ông Hoàng Quang H |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 52/2026/DS-PT
Ngày 02/4/2026
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lý Thị Thúy
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Giang
Ông Hoàng Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lê
Thị Dịu – Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 4 năm 2026, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân tỉnh Thái
Nguyên mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
14/2026/DS-PT ngày 10/02/2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2026/DSST ngày 06/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 – Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 40/2026/QĐ-PT ngày 04
tháng 03 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn N, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Xóm T, xã P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Bị đơn: Ông Hoàng Quang H, sinh năm 1969 và bà Đặng Thị Tuyết L, sinh
năm 1974.
Đều có địa chỉ: Xóm C, xã P, tỉnh Thái Nguyên
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Hoàng Quang H, sinh năm
1969. Đều có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Anh Đỗ Thành C, sinh năm 1992.
2. Chị Bàn Thị Thanh D, sinh năm 1993.
Đều có địa chỉ: Xóm T, xã P, tỉnh Thái Nguyên.
Đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và tại phiên
tòa sơ thẩm nguyên đơn trình bày:
2
Được sự đồng ý bằng miệng của con trai là Đỗ Thành C và con dâu là Bàn
Thị Thanh D, tháng 8 năm 2024 ông N bán thửa đất số 350, tờ bản đồ số 33 mang
tên vợ chồng của con trai và con dâu ông là Đỗ Thành C và Bàn Thị Thanh D cho
ông Hoàng Quang H. Hai bên thỏa thuận đồng ý mua bán với nhau là
2.250.000.000đ (Hai tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng). Lúc này, anh C, chị D
đang thế chấp tại Ngân hàng L1 chi nhánh P để vay tiền. Ông H đã trả
700.000.000đ, (bẩy trăm triệu đồng) để trả vào ngân hàng nên ông viết “văn bản
thỏa thuận về việc mua bán nhà và đất” ngày 26/8/2024. Trong văn bản đã ghi
đầy đủ nội dung thỏa thuận. Đây là giấy tờ để chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
không phải giấy đặt cọc. Do ông H sợ anh C và chị D không đồng ý nên cùng
ngày ông H và anh C, chị D lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
nhưng chưa công chứng, chứng thực. Hai bên có thỏa thuận ông N là người đi
làm thủ tục sang tên cho ông H và toàn bộ chi phí do ông N chịu. Khi nào làm
xong thủ tục sang tên cho ông H thì ông H trả nốt số tiền 1.550.000đ (một tỷ năm
trăm năm mươi triệu đồng) cho ông. Ông N đã làm thủ tục cấp đổi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thửa 350 sang thửa 650 . Sau khi cấp đổi xong thì ông H
yêu cầu phải bớt cho ông H 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) thì vợ chồng ông
H mới đồng ý mua. Lý do ông H đưa ra là có đường điện đi qua thửa đất, sau 01
tháng thì ông ( N) đồng ý bớt cho ông H 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng),
ông H đề nghị bớt 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) nhưng ông không nhất trí.
Hiện nay, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 350, tờ bản đồ số 33 (nay
là thửa 650, tờ bản đồ số 33) vẫn mang tên anh C và chị D. Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất này ông H đang giữ. Nhà và đất thì ông đang sử dụng.
Nay, ông N yêu cầu:
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (tức là hủy “văn bản
thỏa thuận (về việc mua bán nhà và đất)” ngày 26/8/2024 và hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/8/2025 giữa ông H và anh C, chị D.
- Yêu cầu vợ chồng ông H phải bồi thường thiệt hại hợp đồng cho ông
200.000.000đ và ông trả lại số tiền 700.000.000đ mà ông đã nhận của vợ chồng
ông H.
- Yêu cầu vợ chồng ông H trả giấy chứng nhận QSD đất số DQ 293348
ngày 25/9/2024 đối với thửa 650, tờ bản đồ số 33, diện tích 151,5m
2
mang tên Đỗ
Thành C và Bàn Thị Thanh D cho ông vì ông là người đưa giấy chứng nhận QSD
đất cho ông H.
* Tại bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm bị
đơn trình bày:
Ngày 26/8/2024, ông mua đất của ông N thửa đất 350, tờ bản đồ 33, diện
tích 151,5m
2
và 30m
2
đất phía trước thửa 350.Thỏa thuận giá là 2.250.000.000đ
(Hai tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng). Khi mua ông có biết giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên anh Đỗ Thành C và chị Bàn Thị Thanh D (là con của
ông N). Ông N có nói anh C và chị D đã ủy quyền cho ông N bán đất. Cho nên
ngoài văn bản thỏa thuận bán đất giữa ông và ông N thì cùng ngày ông và anh C,
chị D cũng lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo mẫu nhưng chưa
công chứng, chứng thực. Lúc đó giấy chứng nhận QSD đất ở trong Ngân hàng
3
nên ông đã đã chuyển tiền vào tài khoản của anh C để anh C chuyển ngân hàng
số tiền 650.000.000đ, sau đó chuyển tiếp ông N 50.000.000đ. Như vậy, ông đã trả
cho ông N 700.000.000đ (bẩy trăm triệu đồng). Còn lại 1.550.000đ (một tỷ năm
trăm năm mươi triệu đồng), hai bên thỏa thuận khi nào ông N hoàn tất thủ tục
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông sẽ trả số còn lại. Ông N, anh C, chị D
đã giao cho ông giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DQ 293348 ngày
25/9/2024 đối với thửa 650, tờ bản đồ số 33, diện tích 151,5m
2
mang tên Đỗ Thành
C và Bàn Thị Thanh D bản chính.
Khi mua thì ông N nói đất không có tranh chấp, không nói thửa đất có
đường điện cao thế chạy qua và không nói tình trạng đã bị lập biên bản xử lý vi
phạm đường điện. Sau khi thỏa thuận mua bán, ông phát hiện ra có đường điện
cao thế và một đường điện nữa chạy qua về cuối thửa đất nên có nhiều lần mời
ông N lên nhà thảo luận yêu cầu ông N giảm cho số đất vi phạm đường điện (hành
lang giao thông điện) khoảng 50m
2
nhưng ông N không nghe mà chỉ đồng ý giảm
100.000.000đ (một trăm triệu đồng) nên hai bên chưa đến thống nhất. Đến cuối
năm 2024 ông N nói với ông là cho ông N bán đất (trong vòng 2 quý đầu năm
2025 và có nói nếu bán cao hơn thì ông N phải trả cho ông (H) 800.000.000đ,
trong đó có 700.000.000đ mà ông đã giao cho ông N và 100.000.000đ tiền lãi và
số dự còn lại chia đôi. Nếu bán với giá thấp hơn thì ông lấy nhà và đất và ông N
đồng ý (ông có yêu cầu ông N làm văn bản cam kết thì ông N chỉ nói miệng). Sau
02 quý ông N không bán được và ông N làm đơn khởi kiện.
Nay ông N khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, tức là hủy “văn bản thỏa thuận (về việc mua bán nhà và đất)” ngày 26/8/2024
và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/8/2024 giữa ông và anh
C, chị D thì ông yêu cầu tòa án giải quyết buộc ông N, anh C, chị D trả lại số tiền
700.000.000đ (bẩy trăm triệu đồng) và yêu cầu bồi thường cho ông số tiền là
89.600.000đ. Ông không nhất trí bồi thường cho ông N vì ông N không có thiệt
hại gì, nhà và đất hiện nay ông N đang sử dụng. Khi nào ông N, anh C, chị D trả
đủ tiền cho ông thì ông nhất trí trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên
cho gia đình ông N.
Bị đơn bà Đặng Thị Tuyết L: Nhất trí với ý kiến của ông H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Ý kiến của anh Đỗ Thành C: Ông N là bố đẻ của anh, khi bố anh là ông
N lập hợp đồng mua bán nhà đất là văn bản thỏa thuận (về việc mua bán nhà và
đất) ngày 26/8/2024 thì thửa 350, tờ bản đồ số 33 mang tên vợ chồng anh. Khi
đó anh và vợ là chị Bàn Thị Thanh D có thỏa thuận bằng miệng đồng ý bán đất
đúng như ông N trình bày. Việc ông N bán nhà và đất cho ông H thì vợ chồng anh
đều biết và nhất trí cho ông N bán, nay bố anh khởi kiện tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng Quyền sử dụng đất với ông H thì anh nhất trí hoàn toàn với trình
bày của ông N.
-Ý kiến của chị Bàn Thị Thanh D: Ông N là bố chồng của chị và chị nhất
trí với trình bày của anh Đỗ Thành C.
Tại Bản án sơ thẩm số 01/2026/DS-ST ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 4-Thái Nguyên đã quyết định:
4
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ
luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 117, 119, 122, 129, 131, 501, 502 và Điều 503 Bộ luật Dân
sự 2015; Điều 167, khoản 3 Điều 188 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn N đối với
ông Hoàng Quang H và bà Đặng Thị Tuyết L.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số
350 (nay là thửa 650), tờ bản đồ số 33, diện tích 151,5m2 thị trấn Đ (nay là xã P)
theo văn bản thỏa thuận (về việc mua bán nhà và đất)” ngày 26/8/2024 giữa ông
Đỗ Văn N với ông Hoàng Quang H, bà Đặng Thị Tuyết L và hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Đỗ Thành C, chị Bàn Thị Thanh D với ông
Hoàng Quang H ngày 26/8/2024 là vô hiệu.
Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
- Buộc ông Đỗ Văn N, anh Đỗ Thành C, chị Bàn Thị Thanh D hoàn trả cho
ông Hoàng Quang H và bà Đặng Thị Tuyết L số tiền 700.000.000đ (Bẩy trăm
triệu đồng).
- Buộc ông Hoàng Quang H, bà Đặng Thị Tuyết L phải giao trả cho ông Đỗ
văn N, anh Đỗ Thành C và chị Bàn Thị Thanh D bản chính Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số DQ 293348, số vào sổ cấp GCN: CN314 do Chi nhánh văn
phòng đăng ký đất đai huyện P cấp ngày 25 tháng 9 năm 2024 khi ông N, anh C,
chị D thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ của bản án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Hoàng Quang H và bà Đặng
Thị Tuyết L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Đỗ Văn N, anh Đỗ Thành C, chị
Bàn Thị Thanh D không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi
đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3]. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Hoàng Quang H và bà Đặng Thị Tuyết L
phải trả 3.850.000đ (Ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) tiền chi phí xem
xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản cho ông Đỗ Văn N.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các
đương sự.
Ngày 19/01/2026 nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc
thẩm xét xử vụ án theo đúng quy định.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Đỗ Văn N giữ nguyên nội dung kháng cáo, không nhất trí
với bản án sơ thẩm với lý do: Việc mua bán giữa ông với ông H là trung thực và
hoàn toàn tự nguyện, ông không có lỗi trong hợp đồng. Ông đề nghị cấp phúc
5
thẩm tuyên hủy những văn bản thỏa thuận giữa ông và vợ chồng ông H ngày
26/8/2024 và Hợp đồng giữa vợ chồng ông H với vợ chồng anh C ngày 26/8/2024;
yêu cầu ông H trả lại cho ông G và ông không phải trả cho ông H số tiền
700.000.000 đồng. Ông không nhất trí chịu chi phí tố tụng.
Bị đơn ông Hoàng Quang H không nhất trí với nội dung kháng cáo của
nguyên đơn, đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh C, chị D: Nhất trí với ý
kiến của nguyên đơn.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng là đúng
quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham
gia tố tụng: các đương sự thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm
số 01/2026/DSST ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4-Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[I] Về thủ tục tố tụng:
[1]. Xét kháng cáo của đương sự: làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên
được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về việc vắng mặt của bị đơn bà Đặng Thị Tuyết L. Quá trình giải quyét vụ án
bà L đã ủy quyền tham gia tố tụng cho ông H và ông H có mặt tại phiên tòa nên
nên HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn bà Đặng Thị Tuyết L.
[II]. Về nội dung:
[2.1]. Xét kháng cáo của nguyên đơn:
Ngày 26/8/2024 giữa ông Đỗ Văn N và ông Hoàng Quang H ký văn bản thỏa
thuận về việc mua bán nhà và đất đối với thửa đất số 350, tờ bản đồ số 33, diện
tích 151,5m
2
do Sở T cấp số CM 900927 cấp ngày 24/4/2018 mang tên anh C, chị
D, giá chuyển nhượng là 2.250.000.000đ (hai tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng).
Cùng ngày ông Hoàng Quang H trả cho ông N số tiền 700.000.000 đồng.
Cùng ngày 26/8/2024 giữa ông Hoàng Quang H và anh Đỗ Thành C, chị Bàn Thị
Thanh D đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 350, tờ
bản đồ số 33, diện tích 151,5m
2
do Sở T cấp số CM 900927 cấp ngày 24/4/2018
mang tên anh C, chị D.
Ngày 27/9/2024 ông N viết bản cam kết về nội dung chuyển nhượng thửa
đất số 350 (650) và 30m
2
thuộc thửa đất số 188, TBĐ số 10 (vị trí đằng trước thửa
đất số 650), ông N phải có trách nhiệm hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận và
sang tên cho ông H.
Hội đồng xét xử xét thấy: Văn bản thỏa thuận (về việc mua bán nhà và đất)
ngày 26/8/2024 là bản viết tay và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa anh C, chị D và ông H ngày 26/8/2024 chưa qua công chứng chứng thực.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật Dân sự 2015 quy định“..Hợp đồng
6
về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với
quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có
liên quan...” và Điều 167 Luật đất đai 2013 “Hợp đồng chuyển nhượng... quyền
sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng
hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b
khoản này….”. Do đó, việc giao kết chuyển nhượng thửa đất số 350, tờ bản đồ số
33, diện tích 151,5m
2
(nay là thửa số 650) giữa các đương sự mặc dù có chữ ký
của bên mua, bên bán, tuy nhiên không được công chứng hoặc chứng thực là đã
vi phạm về hình thức của hợp đồng theo quy định pháp luật.
Hơn nữa, theo quy định tại Điều 503 Bộ luật Dân sự 2015 “Việc chuyển
quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật đất
đai” và khoản 7 Điều 95 Luật Đất đai 2013 “Việc đăng ký đất đai, tài sản gắn
liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính”, do đó văn bản
thỏa thuận (về việc mua bán nhà và đất) ngày 26/8/2024 là bản viết tay và hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh C, chị D và ông H ngày
26/8/2024 chưa có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tức là “văn bản thỏa
thuận (về việc mua bán nhà và đất)” ngày 26/8/2024 là bản viết tay và hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh C, chị D và ông H vi phạm về hình
thức, vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy
định tại Điều 117 Bộ Luật Dân sự 2015 cũng như quy định tại Điều 129 Bộ luật
Dân sự 2015 “ Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình
thức thì vô hiệu”. Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều có ý kiến đề
nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tức là văn bản thỏa thuận (về việc mua
bán nhà và đất)” ngày 26/8/2024 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa anh C, chị D và ông H ngày 26/8/2024 đối với thửa đất số 350, tờ bản đồ số
33, diện tích 151,5m
2
(nay là thửa 650) tại xã P, tỉnh Thái Nguyên vô hiệu là có
căn cứ.
Việc giải quyết hậu quả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
bên chuyển nhượng ông N, anh C, chị D, ông H, bà L vô hiệu:
Sau khi lập “văn bản thỏa thuận (về việc mua bán nhà và đất)” ngày
26/8/2024 đối với thửa đất số 350, tờ bản đồ số 33, diện tích 151,5 m
2
, ông H đã
thanh toán cho ông N, anh C, chị D số tiền 700.000.000đ. Nguyên nhân dẫn đến
việc các bên không tiếp tục việc thỏa thuận chuyển nhượng là do có đường dây
cao áp đi qua, phía ông N, anh C, chị D có lỗi khi giao dịch chuyển nhượng không
thông tin đầy đủ về thửa đất, không cung cấp thông tin về việc ngày 27/8/2018 và
ngày 25/3/2020 Đ đã có biên bản hiện trạng vi phạm hành lang bảo vệ an toàn
công trình lưới điện cao áp, yêu cầu chủ công trình không được xây dựng, cơi nới
cao thêm nữa..., và không thực hiện đúng cam kết về việc cấp 30m
2
phía trước
thửa đất số 650. Phía bên ông H, bà L cũng có lỗi là khi nhận chuyển nhượng
không xem xét kỹ thông tin về thửa đất, đường dây điện đi qua thửa đất đã có từ
trước khi hai bên thỏa thuận chuyển nhượng.
7
Tòa án cấp sơ thẩm quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo Điều 131 Bộ
luật Dân sự và xác định cả phía nguyên đơn, bị đơn, người liên quan đều có lỗi
trong việc không thực hiện được hợp đồng, nên đều phải chịu hậu quả của hợp
đồng vô hiệu. Buộc các bên trả cho nhau những những gì đã nhận. Nhà và đất
chưa giao, ông N, anh C, chị D đã nhận 700.000.000đ (Anh C, chị D sử dụng
650.000.000 đồng dùng vào việc thanh toán khoản nợ tại ngân hàng) nên cần phải
hoàn trả lại cho ông H, bà L. Ông H, bà L phải trả cho ông N, anh C, chị D bản
chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DQ 293348 do Chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai chi nhánh P cấp ngày 25/9/2024 mang tên Đỗ Thành C và Bàn
Thị Thanh D là có căn cứ pháp luật.
Xét nội dung kháng cáo về chi phí tố tụng: Tòa án sơ thẩm xác định lỗi dẫn đến
hợp đồng vô hiệu là do các bên đương sự do đó các bên đương sự đều phải chịu
chi phí tố tụng theo quy định tại Điều 157/BLTTDS là có căn cứ.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã thu
thập, đánh giá đầy đủ chứng cứ và chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc nguyên
đơn không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì do đó kháng cáo của nguyên
đơn là không có căn cứ để chấp nhận, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
01/2026/ST –DSST ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Thái
Nguyên.
[III]. Về án phí:
Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nguyên
đơn là người cao tuổi không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, Điều 38, Điều 148 khoản 1 Điều 308
của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ông Đỗ Văn N, giữ
nguyên Bản án sơ thẩm số 01/2026/DSST ngày 06/01/2026 của Toà án nhân dân
khu vực 4- Thái Nguyên.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn được miễn toàn bộ án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

8
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7,7a, 7b và
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự”
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
-TAND khu vực 4;
-VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- Phòng THADS KV4 Thái Nguyên;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lý Thị Thúy
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm