Bản án số 644/2026/DS-PT ngày 02/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 644/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 644/2026/DS-PT ngày 02/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 644/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H.2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa ánnhân dân khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 644/2026/DS-PT
Ngày: 02/4/2026
V/v yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả
tiền theo cam kết
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Ông Nguyễn Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm ng khai vụ án dân sự thụ số
1704/2025/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2025 về việc Yêu cầu thực hiện nghĩa
vụ trả tiền theo cam kết”.
Do Bản án dân sự thẩm số 58/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 264/2026/QĐXXPT - DS ngày
14 tháng 01 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 1826/2026/-PT
ngày 02 tháng 02 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số
3159/2026/QĐ-PT ngày 10 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Mai Thái L, sinh năm 1983; địa chỉ: xóm N, N, huyện
T, tỉnh Nghệ An (nay N, tỉnh Nghệ An); địa chỉ liên lạc: số A, đường L, khu
phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường T, thành phố Hồ
Chí Minh), có mặt.
- Bị đơn: Phạm Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: tổ B, khu phố C, phường M,
thành phố B, tỉnh nh Dương (nay khu phố A, phường B, thành phố Hồ Chí
Minh), có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đinh Văn T, sinh năm 1991; địa chỉ:
thôn Q, xã N, tỉnh Quảng Trị; địa chỉ liên lạc: Chung cư T, Khu chế xuất L, phường
B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (nay phường T, thành phố Hồ Chí Minh);
là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 26/7/2025), có mặt.
2
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Phạm Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Mai Thái L
trình bày:
Ngày 26/4/2022, ông Mai Thái L Phạm Thị H hợp đồng đặt cọc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Bà H đồng ý chuyển
nhượng cho ông L thửa đất số 1096, tbản đsố 7, tọa lạc tại phường M, thành phố
B, tỉnh Bình Dương với giá 1.490.000.000 đồng. Ông L đã đặt cọc cho bà H stiền
200.000.000 đồng ngay khi ký hợp đồng; hai bên thống nhất đến ngày 06/6/2022 sẽ
thanh toán số tiền còn lại và tiến hành công chứng sang tên.
Do H không thực hiện đúng thỏa thuận, ông L đã nộp đơn khởi kiện. Sau
đó, các bên tự thỏa thuận lập “Giấy cam kết” với nội dung: H xác nhận đã
nhận cọc 200.000.000 đồng đồng ý bồi thường thêm 100.000.000 đồng, tổng
cộng là 300.000.000 đồng. Đổi lại, ông L rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, sau đó H
vẫn không thanh toán số tiền 300.000.000 đồng như cam kết.
Do đó, ông L tiếp tục khởi kiện yêu cầu Tòa án:
Buộc bà Phạm Thị H trả 300.000.000 đồng theo Giấy cam kết ngày 02/7/2022.
Buộc Phạm Thị H trả tiền lãi tính từ ngày 02/7/2022 đến ngày xét xử
thẩm ngày 28/8/2025 với lãi suất 10%/năm trên số tiền gốc.
Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ theo quy định.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm ThH người đại diện hợp pháp
của bị đơn ông Đinh Văn T trình bày:
H thừa nhận hợp đồng đặt cọc với ông L đối với thửa đất nêu trên.
Tuy nhiên, bà không thừa nhận việc trực tiếp nhận tiền cọc mà cho rằng đã yêu cầu
ông L chuyển tiền cho T1 P do không stài khoản. H đề nghị Tòa
án làm rõ tư cách và mối quan hệ của bà P đối với nguyên đơn. Đối với “Giấy cam
kết” ngày 02/7/2022, H không thừa nhận chữ yêu cầu giám định chữ ký tại
phiên tòa.
Tại Bản án dân sự thẩm số 58/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Chấp nhận toàn byêu cầu khởi kiện của ông Mai Thái L đối với bà Phạm Thị
H về việc: “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.
Buộc bà Phạm Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Mai Thái L số tiền 394.666.667
đồng (ba trăm chín mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi
bảy đồng), trong đó:
S tin gốc: 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).
S tiền lãi: 94.666.667 đồng (chín mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn
sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, nghĩa vụ chậm trả và quyền kháng
3
cáo và quyền, nghĩa vụ thi hành án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Phạm Thị H đơn kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, các đương sự không tự thỏa thuận
với nhau về việc giải quyết vụ án
Đại din Vin Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan
điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của
Phạm Thị H, sửa một phần bản án sơ thẩm đối với phần lãi suất.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương
sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đối với yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà H tại hợp đồng đặt cọc
“Giấy cam kết” ngày 02/7/2022: Xét quá trình tố tụng tại Tòa án cấp thẩm,
H yêu cầu giám định sau khi Tòa án cấp thẩm đưa vụ án ra xét xử. Do đó, việc
Tòa án cấp thẩm không tiến hành giám định phù hợp theo quy định tại Điều
102 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, H người đại diện hợp pháp tiếp tục yêu cầu
giám định chữ ký, chữ viết của H tại hai chứng cứ nêu trên. Tuy nhiên, tại phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ở cấp sơ thẩm,
H đã thừa nhận và không phản đối các chứng cứ này. Mặt khác, trong đơn kháng
cáo, bà H cũng thừa nhận chữ ký, chữ viết của mình. Do đó, Hội đồng xét xử không
chấp nhận yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà H.
[3] Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn cho rằng giữa hai bên kết hợp đồng đặt
cọc, nhưng sau đó do không thực hiện được hợp đồng nên bà H đã viết “Giấy cam
kết” ngày 02/7/2022 với nội dung: trả lại cho ông L số tiền cọc 200.000.000 đồng
bồi thường 100.000.000 đồng, tổng cộng 300.000.000 đồng; thời hạn thanh
toán tngày 03/7/2022 đến ngày 12/7/2022. Do H không thực hiện đúng cam
kết nên ông L khởi kiện yêu cầu H trả số tiền trên cùng lãi suất chậm trả. Như
vậy, quan hệ tranh chấp là “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo cam kết”; việc
Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp kiện đòi tài sản”
không phù hợp nên cần điều chỉnh lại.
[4] H kháng cáo cho rằng không nhận 200.000.000 đồng tiền cọc
tiền được chuyển cho bà Thị Thùy T1. H cho rằng sau khi viết cam kết,
đã thanh toán được 157.000.000 đồng (bao gồm: trả 100.000.000 đồng cho ông L
57.000.000 đồng cho Nguyễn Thị Ngọc P). Tuy nhiên, ông L không thừa nhận
nội dung này, đồng thời H không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc P
4
và bà T1 có liên quan đến giao dịch thỏa thuận giữa hai bên. Vì vậy, việcH yêu
cầu đưa P T1 tham gia tố tụng không căn cứ; Tòa án cấp thẩm
tuyên buộc bà H có nghĩa vụ trả lại số tiền 300.000.000 đồng là có căn cứ.
[5] Về tiền lãi chậm trả: Do H chậm thực hiện nghĩa vụ theo cam kết nên
phải chịu tiền lãi theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy
nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm tính thời gian chậm trả từ ngày 02/7/2022 là không phù
hợp, vì theo thỏa thuận, thời hạn cuối H phải trả tiền là ngày 12/7/2022. Do đó,
tiền lãi chậm trả phải được tính từ ngày 13/7/2022 đến ngày xét xử thẩm (ngày
28/8/2025). Cụ thể: 300.000.000 đồng x 10%/năm x (03 năm 01 tháng 15 ngày) =
93.750.000 đồng.
[6] Từ những phân tích trên, kháng cáo của bị đơn là có căn cứ chấp nhận một
phần.
[7] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại
phiên tòa là phù hợp.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148; Điều 296; khoản 2 Điều 308; Điều 313 Bộ luật Tố tụng
dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca y ban
Thưng v Quc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng
án phí và l phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H.
2. Sửa Bản án dân sự thẩm số 58/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Thái L đối với
Phạm Thị H về việc: “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo cam kết”.
Buộc bà Phạm Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Mai Thái L số tiền 393.750.000
đồng (ba trăm chín mươi ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng); trong đó, tiền nợ
gốc 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) tiền lãi chậm trả 93.750.000
đồng (chín mươi ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải
thi hành án không thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu mức
lãi suất theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng
với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Thái L đối với
Phạm Thị H về việc yêu cầu bà Phạm Thị H trả số tiền lãi là 916.667 đồng (chín
trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
2.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
5
Ông Mai Thái L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự
thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.525.000 đồng theo
Biên lai số 0004615 ngày 12/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến
Cát, tỉnh Bình Dương (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 18 - Thành phố
Hồ Chí Minh). Trả lại cho ông Mai Thái L số tiền 9.225.000 đồng (chín triệu hai
trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Phạm Thị H phải chịu 19.687.500 đồng (mười chín triệu sáu trăm tám mươi
bảy nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
Trả lại cho bà Phạm Thị H stiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng
án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0019199 ngày 23/9/2025 của Thi hành án
dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 18 – Thành phố
Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí
Minh;
- Đương sự;
- Lưu: HS, VP (13), 72.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Mộng Tuyết
Tải về
Bản án số 644/2026/DS-PT Bản án số 644/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 644/2026/DS-PT Bản án số 644/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất