Bản án số 819/2026/DS-PT ngày 19/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 819/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 819/2026/DS-PT ngày 19/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 819/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: NH
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 819/2026/DS-PT Bản án số 819/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 819/2026/DS-PT Bản án số 819/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 819/2026/DS-PT
Ngày: 19-6-2026
V/v Tranh chấp di sản thừa kế
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Bích Tuyền
Các Thẩm phán:Bà Phạm Thị Hồng Vân
Ông Nguyễn Phước Thanh
- Thư phiên tòa: Ông Trần Phước Hậu Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Tho Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và 19 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2026/TLPT-DS ngày 02
tháng 02 năm 2026 về “Tranh chấp di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 478/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 182/2026/QĐ-PT ngày
23 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
1. Lương Ngọc N, sinh năm: 1976; địa chỉ: Ấp T, T, thành phố T (nay
là phường B), tỉnh Tây Ninh.
2. Bà Lương Ngọc H, sinh năm: 1980; địa chỉ: Số B (D), Hẻm G, đường C,
khu phố H, phường H, thị xã H (nay là phường T), tỉnh Tây Ninh.
3. Ông Lương Tấn T, sinh năm 1989; địa chỉ: Số B (D), Hẻm G, đường C,
Khu phố H, phường H, thị xã H (nay là phường T), tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
1. Anh Phước Ý, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số H, khu phố H, phường T,
tỉnh Tây Ninh; (Văn bản ủy quyền ngày 06/11/2024).
2. Chị Phạm Thị Như T1, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Ấp A, xã C, tỉnh Tây
Ninh; (Văn bản ủy quyền ngày 06/11/2024).
2
Bị đơn: Ông Lương Tấn H1, sinh năm: 1965; Địa chỉ: Số B (D), Hẻm G,
đường C, Khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phạm Hoài Â, sinh năm: 1988;
Địa chỉ: Khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh. (Văn bản ủy quyền 20/4/2026).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lương Ngọc D, sinh năm: 1969; Địa chỉ: SB (D), Hẻm G, đường C,
Khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.
2. Lương Ngọc M, sinh năm: 1971; Địa chỉ: Số B (D), Hẻm G, đường
C, Khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.
3. Ông Phạm Hoàng S, sinh năm: 1978;
4. Cháu Phạm Minh T2, sinh năm: 2008;
Cùng địa chỉ: Số nhà F, khu phố T, phường B, tỉnh Tây Ninh.
5. Ông Trần Văn Ú, sinh năm: 1970;
6. Chị Trần Thị Mỹ D1, sinh năm: 1999;
7. Cháu Trần Xuân D2, sinh năm 2011.
Cùng địa chỉ: H, khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.
8. Bà Phạm Kim L, sinh năm: 1970;
9. Chị Lương K, sinh năm: 1993;
10. Chị Lương Ngọc Q, sinh năm: 1996;
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Tây Ninh.
11. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1965; Địa chỉ: Số B (D), Hẻm G, đường
C, Khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.
12. Anh Lương Tấn T3, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Số B (D), Hẻm G, đường
C, Khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.
13. Anh Lương Tấn L1, sinh năm: 2002; Địa chỉ: Số B (D), Hẻm G, đường
C, Khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.
14. Chị Nguyễn Thị M1, sinh năm: 1990;
15. Cháu Lương Nguyễn Anh T4, sinh năm 2008;
16. Cháu Lương Bích H3, sinh năm 2013;
17. Cháu Lương Gia H4, sinh năm 2021 (còn nhỏ);
Cùng địa chỉ: Số B (D), Hẻm G, đường C, Khu phố H, phường H, phường
T, tỉnh Tây Ninh.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Lương Tấn H1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 11 năm 2024 của bà Lương Ngọc N, ông
Lương Tấn T, Lương Ngọc H những lời trình bày của người đại diện theo
ủy quyền như sau:
Cha mẹ ruột của N, H, ông T cụ Lương Tăng S1 (chết năm 2020)
cụ Nguyễn Thị H5 (chết năm 2023), tất cả 09 người con chung gồm: Ông
Lương Tấn H1; Lương Ngọc D; Lương Ngọc N; Lương Ngọc H;
Lương Ngọc M; ông Lương Tấn T; ông Lương Tấn A (chết năm 2018, vợ
Phạm Kim L 02 người con chị Lương K chị Lương Ngọc Q); Lương
Ngọc P (chết năm 2018, chồng ông Trần Văn Ú; 02 người con là chị Trần
Thị Mỹ D1 cháu Trần Xuân D2); Lương Ngọc L2 (chết năm 2021, chồng
ông Phạm Hoàng S 01 người con là cháu Phạm Minh T2). Ông hai bên
nội ngoại đã chết trước cụ S, cụ H5 từ rất lâu. Ngoài ra, cụ S, cụ H5 không có con
riêng hay con nuôi nào khác. Khi chết, cụ S, cụ H5 không để lại nghĩa vụ tài sản
nào.
Khi cS, cụ H5 còn sống có lập di chúc vào ngày 23/7/2020 tại Văn phòng
C, số công chứng 5892, 5893 quyển số 17TP/CC-SCC/HĐGD để phân chia tài
sản cho các con. Theo đó, quyền sử dụng đất thửa số 27 (trích đo chỉnh lý từ thửa
2094), tờ bản đồ 24 (tờ bản đồ 01), diện tích 194m
2
(diện tích 175 m
2
) tọa
lạc tại khu phố H, phường H, thị H (nay là phường T), tỉnh Tây Ninh. Giấy
chứng nhận QSDĐ số C879613, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 03216QSDĐ/D6
cấp ngày 14/6/1994 cho cụ Lương Tăng S1, để lại cho 06 người con gồm M,
H, D, N, L2 và ông T. Trên đất 02 căn nhà cấp 4 được xây dựng
vào năm 2013.
Sau khi cụ S1, cụ H5 chết thì ông H1 đã cất giữ Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và không đồng ý khai thừa kế nên các bên xảy ra tranh chấp. Nay đồng
nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của cụ S1 cụ H5 lập ngày
23/7/2020 cho 06 người được thừa kế theo di chúc gồm bà M, H, bà D, bà N,
L2 và ông T.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; ông T
nhận tài sản và trách nhiệm thanh toán tiền lại cho những người được thừa kế
theo di chúc. Đồng ý trả cho ông H1 trị giá căn nhà gia đình ông H1 đang sinh
sống theo chứng thư thẩm định giá là 95.507.299 đồng.
Bị đơn ông Lương Tấn H1 lời trình bày: Ông thống nhất lời trình bày
của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, huyết thống, ngày cha mất, ngày mẹ mất
tài sản của cha mẹ để lại.
Ông không đồng ý với lời trình bày và yêu cầu của các nguyên đơn, không
đồng ý với Di chúc lập ngày 23/7/2020. Lý do vào ngày 07/9/2017 cha mẹ là cụ
Lương Tăng S1 cụ Nguyễn Thị H5 đã lập Di chúc cho ông H1 được hưởng
thừa kế căn nhà diện tích chiều ngang 3.5m x dài 28m, bà M được hưởng thừa kế
căn nhà diện ngang 4m x chiều dài 28m, được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã
H, huyện H (nay phường T), tỉnh Tây Ninh. Gia đình ông H1 đã sinh sống
căn nhà trên từ năm 2013 đến nay. Các nguyên đơn trình ra bản di chúc lập ngày
23/7/2020 không có tên ông H1 không đúng. Mặt khác, tại thời điểm năm 2020
4
cụ S1 bị bệnh nặng, ung thư tiền liệt tuyến chết vào ngày 06/10/2020, chỉ sau thời
điểm lập Di chúc vài tháng, nên không đủ minh mẫn, sáng suốt, ông H1 không
chấp nhận.
Ông thống nhất chia theo thỏa thuận của anh em trước đây là bán toàn b
tài sản chia cho H, D, N, M mỗi người 100.000.000 đồng; chia cho
gia đình của 03 người đã chết L2, ông A, P mỗi gia đình 50.000.000 đồng;
trả cho ông 100.000.000 đồng tiền phụ xây nhà, còn lại chia đều cho ôngông
T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2, anh Lương Tấn
L1, anh Lương Tấn T3 trình y: Thống nhất với lời trình bày của ông H1, không
bổ sung, yêu cầu gì thêm.
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại: Thống nhất với lời
trình bày và yêu cầu của nguyên đơn, không bổ sung gì thêm.
Tòa án nhân dân khu vực 10 Tây Ninh đã tiến hành hòa giải nhưng các
đương sự không thỏa thuận được.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 478/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10 Tây Ninh đã căn cứ vào các Điều Các Điều
147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều
611, 612, 613, 623, 643, 644, 650, 651, 652, 659, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;-
Các Điều 12, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà N, bà H, ông T
về việc phân chia di sản thừa kế của cụ S1 và cụ H5.
Di sản của cụ S1 và cụ H5 được phân chia như sau:
Ông T được quyền sử dụng thửa đất số 2094, tờ bản đồ số 01, diện tích 175
m
2
o đạc thực tế 194 m
2
, thửa mới 27, tờ bản đồ số 24), đất tọa lạc tại khu phố
H, phường H, thị H (nay phường T), tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số C879613, số vào sổ cấp GCN 03216QSDĐ/D6 do Ủy ban
nhân dân huyện H, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 14-06-1994 cho cụ Lương Tăng S1
đứng tên. (Kèm theo Bản trích đo chỉnh lý bản đồ địa chính)
Ông T quyền liên hệ với quan Nhà nước thẩm quyền đlàm thủ
tục đăng quyền sử dụng đất phù hợp với quyết định ca bản án theo quy định
pháp luật.
Ông T có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng ông H1, H2 giá trị căn nhà
số tiền 95.507.299 (chín mươi lăm triệu m trăm lẻ bảy nghìn hai trăm chín mươi
chín) đồng. Thanh toán cho ông H1 số tiền 181.883.536 (một trăm tám mươi mốt
triệu tám trăm tám mươi ba nghìn năm trăm ba mươi sáu) đồng.
Ông T nghĩa vụ thanh toán cho M, H, D, N, ông T mỗi người
352.581.721 (ba trăm m mươi hai triệu năm trăm m mươi mốt nghìn bảy
trăm hai mươi mốt) đồng; thanh toán cho ông S1 54.710.957 (năm mươi bốn triệu
5
bảy trăm mười nghìn chín trăm năm mươi bảy) đồng và cháu T2 79.026.938 (bảy
mươi chín triệu không trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm ba mươi tám) đồng (giao
cho ông S1 người giám hquản lý) thanh toán cho cháu Mỹ D1, Xuân D2 (giao
cho ông Ú người giám hquản lý), chị Lương K, chị Lương Ngọc Q mỗi người
12.157.990 (mười hai triệu một trăm năm mươi bảy nghìn chín trăm chín mươi)
đồng.
K từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Chi phí tố tụng: Bà M, bà H, bà D, bà N, ông T tự nguyện chịu chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản 10.000.000 (mười triệu) đồng. (đã nộp
xong).
Về án pdân sự sơ thẩm: Ông H1, bà H2 là người cao tuổi, cháu Xuân D2
là trẻ em nên được miễn án phí.
Ông T, bà M, bà H, bà D, bà N mỗi người phải chịu 17.629.086 (mười bảy
triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn không trăm m mươi sáu) đồng. Khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án phí ông T, H, N đã nộp 3.750.000 (ba triệu bảy trăm
năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số 0011835, 0011836, 0011837 ngày
06/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sthị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (nay
Phòng Thi hành án dân skhu vực 10 - Tây Ninh). Ông T, H, N mỗi
người còn phải nộp thêm 13.879.086 (mười ba triệu tám trăm bảy mươi chín nghìn
không trăm tám mươi sáu) đồng.
Ông S1 phải chịu 2.735.548 (hai triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn năm
trăm bốn mươi tám) đồng; cháu T2 phải chịu 3.951.347 (ba triệu chín trăm m
mươi mốt nghìn ba trăm bốn mươi bảy) đồng;
Chị Mỹ D1, chị Lương K, chị Lương Ngọc Q mỗi người phải chịu 607.900
(sáu trăm lẻ bảy nghìn chín trăm) đồng.
Ngoài ra, Bản án thẩm n tuyên về quyền kháng cáo; quyền và nghĩa
vụ của các đương sự ở giai đoạn thi hành án.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 14 tháng 10 năm 2025, bị đơn ông H1 kháng cáo một phần bản án,
không đồng ý Bản án sơ thẩm đã tuyên. Yêu cầu công nhận di chúc lập ngày
07/9/2017 tại Ủy ban nhân dân xã H (nayphường T).
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn ông H1 do ông  là người đại diện ủy quyền có lời trình bày: Ngày
07/9/2017 cụ S1 và cụ H5 ông đã lập di chúc để lại QSDĐ cho ông và bà M, trên
đất có 02 căn nhà. Di chúc cụ S1 cụ H5 23/7/2020 thay đổi nội dung di chúc,
ông không được biết và cụ S1 trong tình trạng ông không minh mẫn, cụ S1 mất
sau thời điểm lập di chúc hơn 02 tháng. Những chữ trong di chúc không phải
6
của cụ S1 nhưng ông không cung cấp được văn bản gốc để yêu cầu giám định.
Các anh chị em đã lập gia đình nơi ổn định. Hiện nay căn nhà nơi sinh
sống duy nhất của ông cùng vợ các con, yêu cầu được đồng sở hữu. Nếu không,
đồng ý nhận hiện vật và trả giá trị lại cho các hàng thừa kế.
Nguyên đơn N, H, ông T do người đại diện ủy quyền có lời trình bày:
Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của ông H1. Di chúc ngày 23/7/2020 hợp
pháp. Ông T không đồng ý đồng sở hữu vì liên quan đến quyền định đoạt tài sản.
Nếu ông H1 muốn nhận tài sản trả giá trị, các nguyên đơn đồng ý.
Kim sát viên đại diện Viện kim sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biu:
Cấp phúc thẩm thực hiện đúng pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến
khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
tòa các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn ông H1
kháng cáo đúng quy định tại các Điều 273, Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên
đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về yêu cầu kháng cáo: Ông H1 kháng cáo yêu cầu công nhận di chúc ngày
07/9/2017 để lại phần QSDĐ cho ông H1 và bà M. Ông T không đồng ý, yêu cầu
chia di sản thừa kế theo di chúc ngày 23/7/2020. Ngày 6/11/2018 ông S1, H5
hủy di chúc ngày 7/9/2017. Cấp thẩm công nhận di chúc ngày 23/7/2020 chia thừa
kế theo di chúc. Tuy nhiên, ông H1 thừa kế thứ 01 không tên trong di chúc,
không có khả năng lao động nên được chia 2/3 trên một xuất thừa kế theo quy định
điểm b khoản 2 Điều 644 Bộ luật Dân sự. Đồng thời, phần di chúc của cụ H5 để cho
chị L2 đã chết trước người để lại di chúc (chết 2018) được chia theo pháp luật làm
09 phần và bà H5 được hưởng thửa kế phần từ chị L2 mất đã được hưởng di sản của
cụ S1 chia thừa kế theo pháp luật là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm bị đơn có nhu cầu nhận nhà và đất để có nơi sinh sống nên
cần giao toàn bộ tài sản thửa đất 27 cho ông H1, ông H1 nghĩa vụ trả lại giá trị
cho các hàng thừa kế.
Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông H1. Căn cứ
khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa ản án dân sự sơ thẩm số
478/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10
Tây Ninh về cách chia di sản thừa kế.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông H1 được nộp trong thời hạn
luật định, đúng hình thức theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo của ông H1: Ông H1 yêu cầu công nhận di chúc
ngày 7/9/2017 cụ S1 và cụ H5 để thửa đất 27 cho ông H1 và bà M. Ông H1 và bà
M đang sinh sống tại 02 căn nhà trên thửa đất trên, trong đó 01 căn ncủa gia
đình ông H1 và 01 căn nhà của cụ S1 và cụ H5. Ông T và các hàng thừa kế bà N,
bà H yêu cầu ông nhận di chúc ngày 23/7/2020, di sản thừa thế thửa đất 26 để lại
cho 06 người con, đồng ý trả lại giá trị nhà cho ông H1.
7
[2.1] Ông H1 trình bày tại thời điểm m 2020 cụ S1 bbệnh nặng, ung thư
tiền liệt tuyến chết vào ngày 06/10/2020, chỉ sau thời điểm lập di chúc hơn 02
tháng, nên không đủ minh mẫn, sáng suốt. Tuy nhiên, ông H1 không căn cứ
chứng minh cho lời trình bày trên. Di chúc, cụ S1 được chứng thực người
làm chứng, công chứng viên người chịu trách nhiệm về việc cụ S1 di chúc
trong trạng thái tinh thần có minh mẫn và sáng suốt hay không. Theo bản tóm tắt
bệnh án của cụ S1 tại Bệnh viện Đ do ông H1 cung cấp (bút lục số 122) thể hiện
nội dung “Cụ S1 vào viện ngày 29/5/2020, ra viện ngày 04/6/2020 trong tình trạng
bị K tiền liệt tuyến di căn xương, bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt KPS 60, nhịp tim đều,
phổi trong, bụng mềm, yếu toàn thân liệt dây VII ngoại biên”. Như vậy, theo
hồ bệnh án cụ S1 vẫn tỉnh tiếp xúc tốt, ông H1 cho rằng cụ S1 lập di chúc
trong tình trạng không đủ minh mẫn, sáng suốt không căn cứ. Ông H1 không
cung cấp tài liệu giám định y khoa để chứng minh trạng thái tinh thần của cụ S1
tại thời điểm ký di chúc không minh mẫn; đồng thời trình bày không phải chữ ký
của cụ S1, cụ H5. Tuy nhiên, lời trình bày trên không căn cứ chứng minh. Ông
H1 không cung cấp văn bản gốc cho việc yêu cầu giám định. Nên lời trình bày
của ông H1 không có căn cứ để chấp nhận.
[2.2] Ngày 07/9/2017 cụ S1 cụ H5 đã lập di chúc cho ông H1 được hưởng
thừa kế căn nhà có diện tích chiều ngang 3,5m x chiều dài 28m, M được hưởng
thừa kế căn nhà diện tích chiều ngang 4m x chiều dài 28m, được chứng thực
tại Ủy ban nhân dân H, huyện H (nay phường T), tỉnh Tây Ninh, di chúc
được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H (nay là phường T), tỉnh Tây
Ninh. Nhưng đến ngày ngày 06/11/2018 cụ S1 và cụ H5 đã lập văn bản “Yêu cầu
hủy chứng thực Hủy di chúc ngày 07/9/2017”. Do đó, bản di chúc lập ngày
07/9/2017 không còn hiệu lực.
[2.3] Di chúc của cụ S1 lập ngày 23/7/2020, tại Văn phòng C, số công
chứng: 5892 quyển số 17TP/CC-SCC/HĐGD. Di chúc của cụ H5 lập ngày
23/7/2020 tại Văn phòng C, số công chứng 5893 quyển số 17TP/CC-SCC/HĐGD.
Cả 02 di chúc trên đều có nội dung để lại toàn bộ tài sản của cụ S1 trong khối tài
sản chung với cụ H5 cho 06 người con gồm M, bà H, bà D, bà N, L2 ông
T. Cụ S1 lập di chúc trong tình trạng minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe
dọa, cưỡng ép. Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái
đạo đức xã hội, được công chứng tại Văn phòng C. Do đó di chúc hợp pháp theo
quy định tại các Điều 624, 625, 630, 635 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.4] Theo Giấy chứng nhận QSDĐ số C 879613, số vào sổ cấp GCN 03216
QSDĐ/D6 cấp ngày 14/06/1994 cho cụ S1 đứng tên quyền sdụng đất thửa số
2094, tờ bản đồ số 01, diện tích 175m
2
, tọa lạc tại: Ấp H, H, huyện H (nay
phường T), tỉnh Tây Ninh. Theo Bản trích đo chỉnh bản đồ địa chính ngày
08/01/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T - Chi nhánh H6: Thửa đất mới
số 27, tờ bản đồ 24, diện tích 194m
2
. Cả nguyên đơn, bị đơn những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận thửa đất trên di sản của cụ S1
cụ H5 để lại. Công trình trên đất 02 căn nhà cấp 4 được xây dựng vào năm 2013,
tổng trị g2.222.669.000 đồng, trong đó 01 căn nhà cấp 4 của gia đình ông
H1 đang ở là do vợ chồng ông H1 xây nên tất cả đồng ý trả lại cho ông H1 giá trị
8
căn nhà 95.507.299 đồng, 01 căn nhà của cụ S1 và cụ H5 hiện ông T đang
các bên không tranh chấp. Như vậy, sau khi khấu trừ giá trị căn nhà của ông H1
với số tiền 95.507.299 đồng, phần di sản của cụ S1 cụ H5 còn lại trị giá
2.127.161.701 (làm tròn 2.127.162.000) đồng.
[2.5] Theo di chúc ngày 23/7/2020 để lại cho 06 người con, ông H1 hàng
thừa kế thứ 01 không tên trong di chúc, tuy nhiên ông H1 bị tai biến, ngồi xe
lăn không có khả năng lao động nhưng không được người lập di chúc cho hưởng
di sản, nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 644 của Bộ luật Dân sự năm
2015, ông H1 vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người
thừa kế theo pháp luật. Cụ thể: x (2.127.162.000 đồng : 2 : 9) = 78.783.778
đồng.
[2.6] Phần di sản còn lại của cụ S1 984.797.222 đồng chia theo di chúc
cho 06 người con gồm M, H, bà D, N, ông T, bà L2 mỗi người được
hưởng 164.132.870 đồng. Năm 2021, L2 chết, phần tài sản L2 hưởng
164.132.870 đồng theo di chúc của cụ S1 được chuyển tiếp cho những người
hàng thừa kế thứ nhất của L2 gồm cụ H5 (mruột), ông S1 (chồng), cháu T2
(con ruột) mỗi người 54.710.957 đồng.
[2.7] Di chúc của cụ H5 lập ngày 23/7/2020 có nội dung đlại toàn btài
sản của cụ H5 trong khối tài sản chung với cụ S1 cho 06 người con gồmM, bà
H, D, bà N, L2 ông T. Như đã nhận định tại phần [2.6], ông H1 được
hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.
Cụ thể: ⅔ x (2.127.162.000 đồng : 2 : 9) = 78.783.778 đồng. Phần di sản còn lại
của cụ H5 984.797.222 đồng + hưởng chuyển tiếp từ L2 54.710.957 đồng,
tổng trị giá là 1.039.508.179 đồng.
[2.8] L2 chết trước cụ H5, nên theo Điều 643 của Bộ luật Dân sự năm
2015, phần di chúc liên quan L2 không hiệu lực pháp luật. Do đó, khi cụ H5
chết thì M, bà H, bà D, bà N, ông T mỗi người được hưởng
1
/
6
theo di chúc của
cụ H5 (984.797.222 đồng : 6 = 164.132.870 đồng); còn phần tài sản của cụ H5 di
chúc cho L2 phải phân chia theo pháp luật, cụ thể là: 164.132.870 đồng +
54.710.957 đồng = 218.843.827 đồng được phân chia theo pháp luật thành 09 kỷ
phần, mỗi kỷ phần trị giá 24.315.981 đồng.
[3] Về diện thừa kế, hàng thừa kế, người thừa kế: Căn cứ các Điều 651, 652
của Bộ luật Dân sự năm 2015, người được hưởng di sản do cụ H5 để lại theo pháp
luật gồm: Ông H1, ông T, bà N, bà H, bà D, bà M, cháu T2 (thừa kế thế vị của bà
Lương Ngọc L2), chị D1 cháu Trần Xuân D2 (thừa kế thế vcủa Lương
Ngọc P), chị Lương K chị Lương Ngọc Q (thừa kế thế vị của ông Lương Tấn
A).
[3.1] Như vậy, Ông H1 được hưởng 78.783.778 đồng + 78.783.778 đồng +
24.315.981 đồng = 181.883.536 đồng. Bà M, bà H, bà D, bà N, ông T mỗi người
được hưởng 164.132.870 đồng + 164.132.870 đồng + 24.315.981 đồng =
352.581.721 đồng. Ông S1 được hưởng 54.710.957 đồng; cháu T2 được hưởng
54.710.957 đồng + 24.315.981 đồng = 79.026.938 đồng; Chị Mỹ D1, cháu Xuân
D2 mỗi người được hưởng 24.315.981 đồng/2 = 12.157.990 đồng. Chị Lương K,
9
chị Lương Ngọc Q mỗi người được hưởng 24.315.981 đồng/2 = 12.157.990 đồng.
Thanh toán giá trị kỷ phần được hưởng cho ông H1 181.883.536 đồng; M,
H, D, N, ông T mỗi người 352.581.721 đồng; thanh toán cho ông S1
54.710.957 đồng và cháu T2 79.026.938 đồng; thanh toán cho cháu Mỹ D1, cháu
Xuân D2, chị Lương K, chị Lương Ngọc Q mỗi người 12.157.990 đồng. Ông H1
được hưởng 78.783.778 đồng + 78.783.778 đồng + 24.315.981 đồng =
181.883.536 đồng.
[4] Thửa đất số 27 hiện nay có căn nhà thứ 01 ông H1 và vợ H2, con tên
T3L1 đang sinh sống không còn nơi ở nào khác. Căn nhà thứ 02 của cS1 và
cụ H5 hiện nay M không còn sinh sống, ông T làm tài xế và thỉnh thoảng về
sinh sống. Do đó, ông H1 yêu cầu được nhận thửa đất 27 để nơi sinh sống ổn
định, đồng ý trả giá trị cho các hàng thừa kế phợp cần chấp nhận. Căn nhà
của cụ S1 cụ H5 không ai tranh chấp nên không xem xét cần giao thửa đất
toàn bộ tài sản trên đất cho ông H1 toàn quyền sử dụng. Ông H1 được quyền sử
dụng đất thửa số 27, tờ bản đồ 24, diện tích 194 m
2
, tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện
H (nay phường T), tỉnh Tây Ninh 02 căn nhà cấp 4 trên đất, ông H1 nghĩa
vụ trả giá trị tương đương phần di sản được hưởng thừa kế.
[5] Cụ thể ông H1 trả giá trị cho các hàng thừa kế như sau:
- Bà M, bà H, bà D, bà N, ông T mỗi người số tiền là 352.581.721 đồng.
- Ông S1 số tiền 54.710.957 đồng;
- Cháu T2 số tiền 79.026.938 đồng;
- Chị Mỹ D1, cháu Xuân D2 mỗi người số tiền 24.315.981 đồng/2 =
12.157.990 đồng.
- Chị Lương K, chị Lương Ngọc Q mỗi người số tiền 24.315.981 đồng/2 =
12.157.990 đồng.
[6] Từ những phân tích ở mục [2], [2.1], [2.2], [2.3], [2.4], Hội đồng xét xử
xét thấy kháng cáo của bị đơn ông H1 không căn cứ chấp nhận. Lời trình bày
của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh căn cứ chấp nhận. Sửa Bản
án dân sự thẩm số 478/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 10 – Tây Ninh về cách chia di sản.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
ông H1 phải chịu theo quy định. Tuy nhiên, ông H1 được miễn án phí thuộc trường
hợp người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lương Tấn H1.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 478/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh.
10
Căn cứ các Điều 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự;
Các Điều 611, 612, 613, 623, 643, 644, 650, 651, 652, 659, 660 của Bộ luật
Dân sự năm 2015;
Các Điều 12, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Ngọc
N, bà Lương Ngọc H, ông Lương Tấn T về việc phân chia di sản thừa kế của cụ
Lương Tăng S1 và cụ Nguyễn Thị H5.
2. Di sản của cụ Lương Tăng S1 và cụ Nguyễn Thị H5 được phân chia như
sau:
2.1 Ông Lương Tấn H1 được quyền sử dụng thửa đất số 27, diện tích đo
đạc thực tế 194m
2
, tờ bản đồ số 24, đất tọa lạc tại: khu phố H, phường H, thị xã H
(nay là phường T), tỉnh Tây Ninh, giấy chứng nhận quyền s dụng đất số
C879613, số vào sổ cấp GCN 03216QSDĐ/D6 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh
Tây Ninh cấp ngày 14-06-1994 cho cụ Lương Tăng S1 đứng tên.
(Vị trí thửa đất theo Mảnh trích lục số 66/TĐ-BĐĐC ngày 08/01/2020)
Ông Lương Tấn H1 có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
để làm thủ tục đăng quyền sdụng đất phù hợp với quyết định của bản án theo
quy định pháp luật.
2.2 Ông Lương Tấn H1 có nghĩa vụ thanh toán cho Lương Ngọc M, bà
Lương Ngọc H, Lương Ngọc D, Lương Ngọc N, ông Lương Tấn T mỗi
người số tiền 352.581.721 (ba trăm năm mươi hai triệu năm trăm m mươi mốt
nghìn bảy trăm hai mươi mt) đồng;
2.3 Ông Lương Tấn H1 nghĩa vụ thanh toán cho ông Phạm Hoàng S số
tiền 54.710.957 (năm mươi bốn triệu bảy trăm mười nghìn chín trăm năm mươi
bảy) đồng.
2.4 Ông Lương Tấn H1 nghĩa vụ thanh toán cho cháu Phạm Minh T2 số
tiền 79.026.938 (bảy mươi chín triệu không trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm ba
mươi tám) đồng (giao cho ông Phạm Hoàng S là người giám hộ quản lý).
2.5 Ông Lương Tấn H1 có nghĩa vụ thanh toán cho cháu Trần Thị Mỹ D1,
cháu Trần Xuân D2 (giao cho ông Trần Văn Ú người giám hộ quản lý), chị
Lương K, chị Lương Ngọc Q mỗi người số tiền 12.157.990 (mười hai triệu một
trăm năm mươi bảy nghìn chín trăm chín mươi) đồng.
K từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
11
3. Chi phí tố tụng khác: Lương Ngọc M, Lương Ngọc H, Lương
Ngọc D, Lương Ngọc N, ông Lương Tấn T tnguyện chịu chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 10.000.000 (mười triệu) đồng. (đã nộp xong).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1 Ông Lương Tấn H1, Nguyễn Thị H2, cháu Trần Xuân D2 được miễn
án phí.
4.2 Buộc ông Lương Tấn T, Lương Ngọc M, bà Lương Ngọc H,
Lương Ngọc D, Lương Ngọc N mỗi người phải chịu 17.629.086 (mười bảy
triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn không trăm m mươi sáu) đồng. Khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án phí ông Lương Tấn T, Lương Ngọc H, Lương Ngọc N
đã nộp là 3.750.000 (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số
0011835, 0011836, 0011837 ngày 06/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị
xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Tây
Ninh). Buộc ông Lương Tấn T, Lương Ngọc H, Lương Ngọc N mỗi người
còn phải nộp số tiền 13.879.086 (mười ba triệu tám trăm bảy mươi chín nghìn
không trăm tám mươi sáu) đồng.
4.3 Buộc ông Phạm Hoàng S phải chịu 2.735.548 (hai triệu bảy trăm ba
mươi m nghìn năm trăm bốn mươi m) đồng; cháu Phạm Minh T2 phải chịu
3.951.347 (ba triệu chín trămm mươi mốt nghìn ba trăm bốn mươi bảy) đồng;
4.4 Buộc chị Trần Thị Mỹ D1, chị Lương K, chị Lương Ngọc Q mỗi người
phải chịu 607.900 (sáu trăm lẻ bảy nghìn chín trăm) đồng.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lương Tấn H1 được miễn án phí.
6. Án xử công khai phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay sau khi
tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND Khu vực 10-Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Bích Tuyền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 819/2026/DS-PT Bản án số 819/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 819/2026/DS-PT Bản án số 819/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất