Bản án số 785/2026/DS-PT ngày 15/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 785/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 785/2026/DS-PT ngày 15/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 785/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: TRẦN THỊ YẾN N - TỐNG ĐỨC H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 785/2026/DS-PT Bản án số 785/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 785/2026/DS-PT Bản án số 785/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 785/2026/DS-PT
Ngày: 15-06-2026
Về việc” tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng
thê chấp quyền sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thuý Lành
Bà Võ Thị Hồng Mai
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn, Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Đoàn Thị Thuỷ Tiên, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 06 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở
phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sthụ số 117/2026/TLPT-DS
ngày 09 tháng 03 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 421/2025/DS-ST ngày 29 tháng 09 năm 2025
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 259/2026/-PT ngày
10 tháng 03 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 2004
2. Ông Nguyễn Tấn S, sinh năm 2007
Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của N ông S: Ông Thân Trung Đ, sinh
năm 1974
Địa chỉ: Số B, ấp G, xã H, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Mai T, sinh
năm: 1976 – Luật sư Công ty L và công sự – Đoàn luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số A, đường L, phường M, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
2
- Bị đơn: Ông Tống Đức H, sinh năm 1995
Địa chỉ: Tổ F, ấp B, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi ở hiện nay: Số C T, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh năm:
1982
Địa chỉ: Số H T, Thới Tam T1, xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Văn phòng C (tên cũ Văn phòng C1).
Địa chỉ trụ sở: ấp C, xã Đ, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc N1, sinh năm 1969
Địa chỉ: ấp R, xã H, tỉnh Tây Ninh.(vắng mặt)
3. Ông Đỗ Văn P, sinh năm 1965
Địa chỉ: Ấp R, xã Đ, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
4. Ngân hàng T4 (tên cũ là Ngân hàng T5)
Địa chỉ trụ sở: Số A H, phường L, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đăng B Chức vụ: Chuyên viên ban
Công nợ (có mặt ).
5. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1979
Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của T2: Ông Huỳnh Thế S1, sinh
năm: 1981
Địa chỉ: Xóm F, H, B, T, Bình Định.
Theo văn bản uỷ quyền ngày 26/3/2026 (có mặt).
6. Bà Dương Thị Q, sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh.
Tạm trú: Ấp Chánh, xã Đ, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị Yến N, Nguyễn Tấn S.
NI DUNG V ÁN
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến N, ông Nguyễn Tấn S do ông Thân Trung Đ
đại diện trình bày:
Ngày 05/12/2022, bà Nguyễn Thị T2 mẹ ruột của bà Nguyễn Thị Yến N, ông
Nguyễn Tấn S vay của ông Tống Đức H số tiền 800.000.000 đồng, hai bên có
làm Hợp đồng cam kết thế chấp quyền sử dụng đất và thỏa thuận thời hạn vay là 01
năm, lãi suất 1%/tháng tại Hợp đồng cam kết thế chấp quyền sdụng đất thể hiện
tài sản thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 695, 97, cùng tờ bản đồ s23, diện tích
1.410,4m
2
, đất tọa lạc tại xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
3
Để đảm bảo việc vay tiền thế chấp nêu trên ông Tống Đức H yêu cầu
T2 phải hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên
cho ông Tống Đức H. Ngày 05/12/2022 bà Nguyễn Thị Yến N, ông Nguyễn Tấn S
(do Nguyễn Thị T2 đại diện) ông Tống Đức H hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số công chứng 10195, quyền số 12/2022/TP/CC-SCC/HĐGD tại
Văn phòng C1 (nay Văn phòng C) đối với thửa đất số 685, diện tích theo giấy
CNQSD đất là 300,4m2, diện tích đo đạc thực tế là 259m2 và thửa đất 97, diện tích
theo Giấy CNQSD đất là 1168m2, diện tích đo đạc thực tế 151,4m2, ng tờ bản
đồ số 23 đất tọa lạc tại Đ, tỉnh Tây Ninh. Thực tế N, ông S hợp đồng chuyển
nhượng quyền sdụng đất với ông H để đảm bảo việc vay tiền củaT2 với ông
H.
Về mặt giấy tờ thì với ông Tống Đức H, tuy nhiên giao dịch nhận tiền
đống lãi là bà T2 thực hiện với bà Dương Thị Q.
Sau khi vay tiền thì hàng tháng đóng tiền lãi đầy đủ cho Q, việc giao
dịch và đóng tiền lãi cho bà Q thì không có giấy tờ gì, chỉ là nhận và đóng tiền trực
tiếp thôi. Bà T2 không cung cấp được tài liệu chứng cứ thể hiện giữa bà T2 và bà Q
có việc giao nhận, tiền.
Qua tìm hiểu thì bà được biết hiện tại thửa đất 695, 97 của bà đã được ông H
đã thế chấp cho Ngân hàng T5 để vay tiền.
Nay N ông S khởi kiện yêu cầu như sau: hiệu hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 10195, quyền số 12/2022/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 05/12/2022 tại Văn phòng C1 (nay văn phòng C) giữa
Nguyễn Thị Yến N, ông Nguyễn Tấn S ông Tống Đức H đối với thửa đất số 685,
diện tích theo giấy CNQSD đất 300,4m2, diện tích đo đạc thực tế 259m2
thửa đất 97, diện tích theo Giấy CNQSD đất là 1168m2, diện tích đo đạc thực tế
151,4m2, cùng tờ bản đồ số 23, đất tọa lạc tại xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được kết ông
Tống Đức H với Nguyễn Thị Ngọc N1 được công chứng số 10651, quyển số
12/2022TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2.
Tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được kết giữa
Nguyễn Thị Ngọc N1, ông Đỗ Văn P với ông Tống Đức H, được công chứng s
718, quyền số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C3.
hiệu Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ngày 10/03/2023 giữa ông Tống Đức H Ngân
hàng T5 (nay Ngân hàng T4) được Văn phòng C4 1051, quyển số
03/2023/TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 685, diện tích theo giấy CNQSD
đất 300,4m2, diện tích đo đạc thực tế 259m2 thửa đất 97, diện tích theo Giấy
CNQSD đất là 1168m2, diện tích đo đạc thực tế là 151,4m2, cùng tờ bản đồ số 23,
đất tọa lạc tại xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Bị đơn ông Thống Đức H1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc N1, ông Đỗ Văn
P, bà Dương Thị Q vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
4
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T2 trình bày: Ngày
05/12/2022 bà có vay tiền 800.000.000 đồng của Tống Đức H, để đảm bảo khoảng
vay này, Tống Đức H yêu cầu N, S phải hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất đối với 02 thửa đất 695, 97, tờ bản đồ số 23, đất tọa lạc tại Đ, huyện Đ, tỉnh
Long An. Giữa bà và Tống Đức H lập Hợp đồng cam kết thế chấp quyền sử dụng
đất đề ngày 05/12/2022 vơi bên ANguyễn Thị Yến N, Nguyễn Tấn S với bên B
Tống Đức H, nhưng ký tên bên A bà, người nhận tiền cũng là bà, phía cuối của
hợp đồng thế chấp có nội dung: “hai bên cùng thống nhất lập phụ hợp đồng bổ sung
một số điều khoản của hợp đồng chuyển nhượng vai tài sản, thửa đất 97 + 695, tờ
bản đồ số 23, diện tích 1168m2, Đức Lập H2, Đ, Long An”, nội dung này do Tống
Đức H viết. Bà chỉ giữ được bản phô tô, còn bản chính do Tống Đức H giữ. Từ khi
vay tiền cho đến nay gia đình bà là người trực tiếp quản lý, sử dụng 02 thửa đất 695,
97 này. Trên hợp đồng cam kết thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Tống
Đức H thì thỏa thuận thời hạn 01 năm, lãi suất ngân hàng. đã đóng được 04
lần lãi cho ông H thông qua người môi giới tên Q, mỗi tháng 8.000.000 đồng, đóng
tiền mặt, khi đóng không giấy tờ. biết Tống Đức H thông qua người môi
giới tên Q, tôi biết bà Q thông qua nhiêu người chỉ, chứ thực tế cũng không biết bà
Q họ tên đầy đủ, năm sinh, địa chỉ, sau 04 tháng tôi đóng lãi cho Q, tôi yêu cầu
được xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Q nhiều lần hẹn, sau đo
không liên lạc được nữa. Nên con bà làm đơn khởi kiện tại Tòa án. Trên thửa đất 97
có căn nhà cấp 4 đã được xây dựng từ trước năm 2000, gia đình tôi sử dụng ổn định,
sau khi chồng bà mất thì bà cùng 02 con Nguyễn Thị Yến N và Nguyễn Tấn S cùng
nhau sinh sống trên thửa thửa đất 97, 695 này. sau khi hợp đồng vay tiền có thế
chấp đất cho ông H thì nhà đất vẫn do bà cùng 02 con trực tiếp quản lý sử dụng. Sau
khi vay tiền thì 03 ngày sau phía bên ông Tống Đức H nhà xem nhà,
nghĩ là bà vay tiền nên đồng ý. không có biết được Ngân hàng thẩm định
đất, nếu biết Ngân hàng vô thẩm định đất, chụp hình nhà cửa thì bà đã không đồng
ý.
chỉ vay tiền của Tống Đức H, để đảm bảo khoảng vay phía ông H yêu cầu
hai con Nguyễn Thị Yến N Nguyễn Tấn S phải ký hợp đồng chuyển nhượng
đối với 02 thửa đất 97, 695. Do đó, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của Nguyễn Thị Yến N Nguyễn Tấn S, xác định không tranh chấp, không
có yêu cầu gì khác trong vụ án này.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập Ngân hàng T5 (nay
Ngân hàng T4) do ông Đăng B trình bày: Ngày 10/03/2023 Ngân hàng và ông
Tống Đức H đã Hợp đồng tín dụng số 123/2023/LOS22/MG001/HĐTD/040 ngày
10/03/2023. Theo đó, Ngân hàng đã cho ông Tống Đức H vay số tiền 3.800.000.000
đồng, thời hạn vay là 300 tháng (từ ngày 13/03/2023 đến ngày 13/03/2048).
Tài sản bảo đảm cho khoản vay Quyền sử dụng đất theo Hợp đồng thế chấp
Quyền sử dụng đất số 123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ngày 10/03/2023. Chi tiết
tài sản thế chấp như sau: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 97, tờ bản đồ số 23
theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số DK 767135, svào scấp GCN CS 15866 do Sở TN&MT tỉnh L cấp
ngày 27/12/2022; Diện tích 1.168 m
2
, đất tại nông thôn,địa chỉ thửa đất ấp Đ,
Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay Đ, tỉnh Tây Ninh); Quyền sử dụng đất thuộc
5
thửa đất số 695, tbản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DK 767136, số vào số cấp GCN CS
15867 do Sở TN&MT tỉnh L cấp ngày 27/12/2022. Diện tích 300,4m
2
, đất chuyên
trồng lúa nước. Địa chỉ thửa đất ấp Đ, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay Đ,
tỉnh Tây Ninh).
Việc kết Hợp đồng tín dụng Hợp đồng thế chấp nêu trên đã được các
bên ký kết, công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp
luật. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng đã ký, ông Tống Đức H đã vi phạm Hợp
đồng tín dụng và làm phát sinh nợ quá hạn.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 123/2023/LOS22/MG001/HDTD/040 ngày
10/03/2023, tạm tính đến hết ngày 12/9/2025, ông Tống Đức H còn nợ Ngân hàng
T5 tổng số tiền 5.361.260.247 đồng (trong đó nợ gốc 3.748.953.513 đồng; nợ
lãi trong hạn 229.733.893 đồng, nợ lãi quá hạn 1.337.760.690 đồng; lãi chậm
trả 44.809.151 đồng). Lãi vay và/hoặc phí tạm tính đến hết ngày 12/9/2025 tiếp
tục phát sinh kể từ ngày 13/9/2025 cho đến khi Bên vay trả dứt nợ.
Hiện Nguyễn Thị Yến N, ông Nguyễn Thanh S2 phát sinh tranh chấp tài
sản với ông Tống Đức H, Ngân hàng nhận thấy việc Nguyễn Thị Yến N khởi kiện
ông Tống Đức H về việc tranh chấp tài sản (hiện đang thế chấp tại Ngân hàng) trong
vụ án nêu trên làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân
hàng. Ngân hàng có yêu cầu độc lập như sau: Yêu cầu ông Tống Đức H phải thanh
toán một lần, toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng với tổng số tiền tạm tính đến hết
ngày 12/9/2025 là 5.361.260.247 đồng, trong đó nợ gốc 3.748.953.513 đồng, nợ
lãi trong hạn 229.733.893 đồng, nợ lãi quá hạn 1.337.760.690 đồng, lãi chậm
trả 44.809.151 đồng. Ông Tống Đức H còn phải thanh toán toàn bộ nợ lãi trong
hạn, nợ lãi quá hạn và phí phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất đã thỏa
thuận trong Hợp đồng tín dụng số 123/2023/LOS22/MG001/HĐTD/040 ngày
10/03/2023 đã ký kết với Ngân hàng kể từ ngày 01/12/2023 cho đến khi thanh toán
xong khoản nợ.
Trường hợp ông Tống Đức H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu quan
thi hành án thẩm quyền x tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số
123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ngày 10/03/2023 để thu hồi nợ.
Trường hợp số tiến phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản
nợ của ông Tống Đức H tại Ngân hàng thì ông Tống Đức H phải tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C (trước đây là văn phòng
C1) trình bày:
Qua tra cứu hồ được lưu giữ tại Văn phòng công chứng kết quả xác
minh, được thể hiện như sau: Vào các ngày 06/12/2022, 30/12/2022 ngày
21/02/2023, ng chứng viên văn phòng công chứng Trần Hu T3 vào 03
(ba) Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất. Từ c tiếp nhận hồ sơ, xử hồ cho đến việc vào các Hợp đồng, công
chứng viên Trần Hữu T3 đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, trách nhiệm nghĩa
6
vụ của công chứng viên đúng theo quy định của Luật công chứng các quy định
khác của pháp luật.
Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án sử dụng Mãnh trích đo địa chính s
306-2024 ngày 13/5/2024 của Công ty TNHH Đ1 được Chi nhánh văn phòng đăng
đất đai huyện Đ duyệt ngày 29/5/2024 Chứng thư thẩm định giá số
218/04/06/2024/TĐG LA-BĐS ngày 04/06/2024 của Công ty cổ phần T6 để làm
sở giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Yến N, ông Nguyễn Tấn S
ông Thân Trung Đ trình bày: Căn cứ vào hợp đồng cam kết thế chấp quyền sử
dụng đất ngày 05/12/2022 giữa bà N, ông S, T2 với ông Tống Đức H. Tuy ông H
vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không tiến hành đối chất, căn cứ
vào quá trình ký kết hợp đồng giữa các bên, bàn giao tài sản, thẩm định tài sản nên
đủ cơ sở để xác định hợp đồng các bên ký kết giả tạo theo Điều 124 Bộ luât dân
sự năm 2015 nhằm che đậy hợp đồn vay tiền, đối tượng không thực hiện được
theo quy định tại Điều 408 Bộ luât dân sự năm 2015. Đối với yêu cầu độc lập của
ngân hàng, ngân hàng cho rằng người thứ ba ngay tình đề nghị được công nhận
hợp đồng thế chấp, do hợp đồng chuyển nhượng của N, S với Tống Đức H bị
hiệu, bên ngân hàng nhận thế chấp nhưng không xem xét, thẩm định tài sản theo
đúng quy định, chữ của ông Tống Đức H không giống với chứ ký trong hợp đồng
chuyển nhượng, gia đình N, ông S, T2 vẫn đang quản nhà đất tranh chấp,
nhưng biên bản thẩm định không có tên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn xác định không yêu cầu giải
quyết hậu quả khi tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu, trong trường hợp hợp
đồng thế chấp được công nhận, nguyên đơn cũng không yêu cầu ông H phải tr
lại giá trị quyền sử dụng đât đang tranh chấp, nguyên đơn không có tranh chấp, yêu
cầu gì khác trong vụ án này.
Ông Lê Đăng B đại diện Ngân hàng T5 (nay Ngân hàng T4) trình bày: Ngân
hàng trong không tranh luận về hợp đồng tín dụng. Ngân hàng chỉ tranh luận đối với
hợp đồng thế chấp, hợp đồng thế chấp giữa ngân hàng với ông Tống Đức H được
thực hiện đúng quy định, quy trình thẩm định, định giá tài sản được thực hiện đúng
đảm bảo quy định. Ngân hàng đơn vị định giá 02 lần thẩm định tài sản thế
chấp, những lần thẩm định đều được ông Tống Đức H chủ sử dụng quyền sử dụng
của 02 thửa đất 695, 97 dẫn vào toàn bộ khu đất, mở cửa nhà chụp hình, tiến hành
thẩm định, định giá, tại thời điểm thẩm hình và hình ảnh thì nguyên đơn đều có mặt
nhà, đồng ý với việc ngân hàng thẩm định, không có phản đối, hay tranh chấp. Do
đó, giao dịch giữa ông Tống Đức H với nguyên đơn ngân hàng hoàn toàn không biết,
đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của Ngân hàng.
Tại Bản án sơ thẩm số 421/2025/DS-ST ngày 29 tháng 09 năm 2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh, đã căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản
1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271,
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2025 các Điều 133, 408, 463, 466, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm
2015; khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26, 27, 29 Nghị quyết
7
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Yến
N, ông Nguyễn Tấn S về việc “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất” với bị đơn ông Tống Đức H.
2. Tuyên bố các hợp đồng sau đây bị vô hiệu:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng 10195, quyền số
12/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/12/2022 tại Văn phòng C1 (nay văn phòng
C) giữa bà Nguyễn Thị Yến N, ông Nguyễn Tấn S với ông Tống Đức H;
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng số 10651,
quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2 giữa ông Tống Đức H với
Nguyễn Thị Ngọc N1;
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được được công chứng số 718,
quyền số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C3 giữa bà Nguyễn Thị Ngọc
N1, ông Đỗ Văn P với ông Tống Đức H.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn Nguyễn Thị Yến N,
ông Nguyễn Tấn S đối với bị đơn ông Tống Đức H, về việc yêu cầu hiệu hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ngày
10/03/2023 giữa Ngân hàng T5 (nay là Ngân hàng T4) với ông Tống Đức H.
4. Vgiải quyết hậu quả pháp của hợp đồng hiệu: Các đương skhông
yêu cầu nên không xem xét, giaỉ quyết, nếu có tranh chấp thì skhởi kiện trong một
vụ án khác.
5. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của Ngân hàng T5 (nay Ngân hàng
T4) đối với ông Tống Đức H.
Buộc ông Tống Đức H phải thanh toán cho phải thanh toán cho Ngân hàng T5
(nay Ngân hàng T4) số tiền gốc lãi tính đến ngày 12/9/2025 là 5.361.260.247
đồng; trong đó nợ gốc là 3.748.953.513 đồng; nợ lãi trong hạn là 229.733.893 đồng,
nợ lãi quá hạn là 1.337.760.690 đồng; lãi chậm trả là 44.809.151 đồng. Thanh toán
ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 13/9/2025, ông Tống Đức H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn
của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp
đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín
dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của
Ngân hàng cho vay thì lãi suất khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân
hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với
sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
6. Trong trường hợp ông tống Đức H không trả hoặc trả không đầy đủ nghĩa vụ
trả nợ nêu trên, Ngân hàng T5 (nay là Ngân hàng T4) được quyền yêu cầu Cơ quan
thi hành án dân sự thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ
đối với: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 97, tờ bản đồ số 23, diện tích đo đạc
8
thực tế 1151,4 m
2
, đất tại nông thôn; tại ấp Đ, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay
Đ, tỉnh Tây Ninh) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số DK 767135, số vào sổ cấp GCN: CS 15866 do
Sở Tài nguyên và i trường tỉnh L (cũ) cấp ngày 27/12/2022; Quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất số 695, tờ bản đồ số 23, diện tích đo đạc thực tế là 259m
2
, đất chuyên
trồng lúa nước, tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh)
theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nở và tài sản khác gắn
liền với đất số DK 767136, svào scấp GCN: CS 15867 do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh L (cũ) cấp ngày 27/12/2022. (Theo mãnh trích đo bản đồ địa chính số
306-2024).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, thời hạn kháng
cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 06/10/2026, ông Nguyễn Tấn S,bà Nguyễn Thị Yến N kháng cáo một
phần bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh, không đồng ý với
việc cấp thẩm xác định Ngân hàng T5 người thba ngay tình không chấp
nhận yêu cầu tuyên hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Tống
Đức H với Ngân hàng. Ông S đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, không
công nhận Ngân hàng là người thứ ba ngay tình và tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp
nêu trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thoả thuận được với nhau về
việc giải quyềt vụ án, không cung cấp chứng cứ mới.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Thị Yến N, ông
Nguyễn Tấn S trình bày: Giữ nguyên nội dung khởi kiện yêu cầu kháng cáo. Cho
rằng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn với ông Tống
Đức H các giao dịch chuyển nhượng tiếp theo chỉ là giao dịch giả tạo nhằm bảo
đảm cho khoản vay 800.000.000 đồng giữa Nguyễn Thị T2 với ông H, không
phải giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực sự. Từ khi kết các hợp
đồng đến nay, gia đình bà T2, bà N và ông S vẫn trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất
tranh chấp, không có việc giao nhận tài sản trên thực tế.
Đối với hợp đồng thế chấp giữa ông Tống Đức H và Ngân hàng T5 (nay
Ngân hàng T4), đại diện nguyên đơn cho rằng Ngân hàng không đủ điều kiện được
công nhận là người thứ ba ngay tình. Tại cấp thẩm, bà Nguyễn Thị T2 không trình
bày việc mở cửa cho cán bộ Ngân hàng vào thẩm định tài sản thế chấp mà chỉ thừa
nhận sau khi vay tiền có mở cửa cho những người đi cùng ông H vào xem nhà đất,
không biết những người này cán bộ Ngân hàng hay người liên quan đến việc
thẩm định tài sản. Do đó, không có căn cứ xác định nguyên đơn hoặc bà T2 biết và
đồng ý cho Ngân hàng tiến hành thẩm định tài sản để nhận thế chấp.
Ngoài ra, hồ thẩm định tài sản của Ngân hàng còn nhiều điểm chưa được
làm rõ về người tham gia thẩm định, người hướng dẫn ranh giới, người mở cửa nhà
chữ trên các tài liệu thẩm định. vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án thẩm, tuyên hiệu Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất số 123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ngày 10/3/2023 giữa ông
9
Tống Đức H và Ngân hàng, đồng thời không công nhận Ngân hàng là người thứ ba
ngay tình đối với tài sản tranh chấp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Tài liệu,
chứng cứ trong hồ sơ thể hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên
đơn ông Tống Đức H phát sinh từ quan hệ vay tiền giữa Nguyễn Thị T2 vi
ông H. Tuy nhiên, quá trình thực hiện các giao dịch sự tham gia của Dương
Thị Q, trong khi Q vắng mặt chưa được làm vai trò, trách nhiệm đối với các
giao dịch liên quan.
Đối với Hợp đồng tín dụng số 123/2023/LOS22/MG001/HĐTD/040 và Hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ny
10/3/2023, ông H thừa nhận các hợp đồng tại Văn phòng công chứng nhưng
không thừa nhận việc trực tiếp tham gia thẩm định tài sản, không thừa nhận chữ ký
của mình trong các biên bản thẩm định tài sản, biên bản khảo sát hiện trạng do Ngân
hàng cung cấp. Việc xác định chữ trên các tài liệu này ý nghĩa quan trọng trong
việc đánh giá tính hợp pháp của quá trình thẩm định xác lập giao dịch thế chấp.Do
đó, đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên a để tạo điều kiện cho các đương sự
thực hiện việc trưng cầu giám định chữ của ông Tống Đức H trên các tài liệu
thẩm định tài sản do Ngân hàng xuất trình nhằm làm sự thật khách quan của vụ
án.
Trường hợp Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ điều kiện giải quyết vụ án thì đề
nghị chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tấn S Nguyễn Thị Yến N, sửa Bản
án dân sự thẩm theo hướng không công nhận Ngân hàng T5 (nay Ngân hàng
T4) là người thứ ba ngay tình, tuyên vô hiệu Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
số 123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ngày 10/3/2023 được công chứng số 1051,
quyển số 03/2023/TP/CC-SCC/HĐGD giữa ông Tống Đức H Ngân hàng đối với
các thửa đất số 97 và 695, tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Tống Đức H trình bày: Ông
Tống Đức H xác nhận vào ngày 05/12/2022 cho Nguyễn Thị T2 (là mẹ ruột
của bà Nguyễn Thị Yến N và ông Nguyễn Tấn S) vay số tiền 800.000.000 đồng. Để
bảo đảm cho khoản vay này, các bên có thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất công chứng số 10195, quyển số 12/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày
05/12/2022 tại Văn phòng C1 đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 695, diện
tích 300,4m² và thửa đất số 97, diện tích 1.168m², cùng tờ bản đồ số 23, tọa lạc tại
xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
Ông H trình bày việc vay tiền, giao nhận tiền thỏa thuận liên quan đến
khoản vay chủ yếu do Dương Thị Q trực tiếp thực hiện với Nguyễn Thị T2.
Ông H chỉ người đứng tên các giấy tờ theo yêu cầu của Q. Sau đó, đối
với các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đăng ký sang tên quyền sử dụng
đất cũng như việc vay vốn tại Ngân hàng T5 (nay là Ngân hàng T4), ông H đều thực
hiện theo sự hướng dẫn của bà Q.
Ngày 10/3/2023, ông H Hợp đồng tín dụng số
123/2023/LOS22/MG001/HĐTD/040 với Ngân hàng T5 để vay số tiền
3.800.000.000 đồng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
10
123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ngày 10/3/2023, được Văn phòng C4, quyển số
03/2023/TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản thế chấp gồm quyền sử dụng đất thuộc thửa
đất số 97, diện tích 1.168m² thửa đất số 695, diện tích 300,4m², cùng tờ bản đồ
số 23, tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
Tuy nhiên, ông H không thừa nhận việc trực tiếp tham gia quá trình thẩm định
tài sản của Ngân hàng tại thực địa. Ông cho rằng ông không có mặt tại hiện trường,
không dẫn cán bộ Ngân hàng đi xem tài sản, không mở cửa nhà để phục vụ việc
thẩm định không tên vào các biên bản thẩm định tài sản, biên bản khảo sát
hiện trạng do Ngân hàng xuất trình. Ông trình bày việc ký kết các hồ sơ vay vốn và
thế chấp chỉ được thực hiện tại Văn phòng công chứng theo yêu cầu của bà Q.
Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng, ông H không đồng ý với yêu cầu
buộc ông phải thanh toán khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng và cũng không đồng ý
việc tiếp tục duy trì hiệu lực của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên. Ông
cho rằng bản thân chỉ tên theo sự sắp xếp của bà Dương Thị Q, không trực tiếp
thực hiện các giao dịch liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài sản không tham
gia quá trình thẩm định tài sản bảo đảm của Ngân hàng.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng T4 (trước đây Ngân hàng T5)
trình bày: Không đồng ý với toàn bộ nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Tấn S,
Nguyễn Thị Yến N, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn người
đại diện theo ủy quyền của ông Tống Đức H.
Ngân hàng cho rằng việc kết Hợp đồng n dụng số
123/2023/LOS22/MG001/HĐTD/040 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ngày 10/3/2023 giữa Ngân hàng với ông Tống Đức
H được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm
nhận thế chấp, ông H là người đứng tên hợp pháp trên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với các thửa đất số 97 và 695, tờ bản đồ số 23, tài sản đã được đăng
quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định và không có thông tin tranh chấp, ngăn
chặn hoặc hạn chế giao dịch.
Trước khi giải ngân, Ngân hàng đã thực hiện đầy đủ việc khảo sát, thẩm định
thực tế tài sản bảo đảm. Quá trình thẩm định sự tham gia của ông Tống Đức H,
đồng thời bà Nguyễn Thị T2 người đang sinh sống tại nhà đất tranh chấp đã trực
tiếp mở cửa cho đoàn thẩm định vào kiểm tra hiện trạng nhà, đất. Trong suốt quá
trình khảo sát, thẩm định, không bất kỳ nhân nào phản đối, ngăn cản hoặc
thông báo cho Ngân hàng biết về việc tài sản đang tranh chấp hay việc các hợp
đồng chuyển nhượng trước đó là giả tạo.
Đối với ý kiến cho rằng ông H không biên bản thẩm định tài sản, Ngân
hàng cho rằng việc xác nhận trên các tài liệu nghiệp vụ không nhất thiết phải
được thực hiện ngay tại hiện trường thẩm định mà có thể được thực hiện tại các địa
điểm khác theo quy trình nghiệp vụ của Ngân hàng. Mặt khác, việc ông H hiện nay
không thừa nhận chữ của mình chỉ lời trình bày một phía, chưa căn cứ chứng
minh và không làm ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của hợp đồng tín dụng, hợp đồng
thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm hợp pháp.
11
Do đó, Ngân hàng là người thứ ba ngay tình theo quy định tại khoản 2 Điều
133 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng cần được
pháp luật bảo vệ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông Nguyễn Tấn S Nguyễn Thị Yến N, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm,
công nhận hiệu lực của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ngày 10/3/2023 và chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc
lập của Ngân hàng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu
ý kiến cho rằng:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa những người tham gia tố
tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của
Nguyễn Thị Yến N ông Nguyễn Tấn S được thực hiện trong thời hạn luật định,
đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp thẩm tuyên hiệu các hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa các bên căn cứ. Đối với Hợp đồng thế chấp quyền s
dụng đất ngày 10/3/2023 giữa ông Tống Đức H Ngân hàng T4 (trước đây là Ngân
hàng T5), hợp đồng được lập đúng hình thức, công chứng đăng giao dịch
bảo đảm hợp pháp. Ngân hàng đã thực hiện việc thẩm định tài sản trước khi nhận
thế chấp và thuộc trường hợp người thứ ba ngay tình theo quy định tại khoản 2 Điều
133 Bộ luật Dân sự. Do đó, kháng cáo của Nguyễn Thị Yến N ông Nguyễn
Tấn S không có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng t xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị Yến N và ông Nguyễn Tấn S, giữ
nguyên Bản án dân sự thẩm số 421/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 3, tỉnh Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa, ý kiến tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tính hợp lệ của kháng cáo: Đơn kháng cáo của Nguyễn Thị Yến N và ông
Nguyễn Tấn S được thực hiện đúng theo quy định tại các 271, 272, Điều 273 276
của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt
Văn phòng C, Nguyễn Thị Ngọc N1, ông Đỗ Văn P, Dương Thị Q nhưng
những người này đã được triệu tập hợp lệ đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ các
Điều 296 của Bộ luật Ttụng dân sự Tòa án tiến hành xét xvắng mặt các đương
sự này.
[1.3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Căn cứ nội dung đơn kháng cáo của
Nguyễn Thị Yến N ông Nguyễn Tấn S, cấp phúc thẩm xem xét lại phần bản án
sơ thẩm bị kháng cáo theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự.
12
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Yến N, ông Nguyễn Tấn
S.
[2.1] Tại cấp thẩm, Tòa án đã tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất công chứng số 10195 ngày 05/12/2022 giữa bà Nguyễn Thị Yến
N, ông Nguyễn Tấn S với ông Tống Đức H, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất công chứng s 10651 ngày 30/12/2022 giữa ông Tống Đức H với
Nguyễn Thị Ngọc N1 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng
số 718 ngày 21/02/2023 giữa bà Nguyễn Thị Ngọc N1, ông Đỗ Văn P với ông Tống
Đức H đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 97, thửa đất số 695, ng tọa
lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh). Phần quyết
định này không bị kháng cáo, kháng nghị và đã có hiệu lực pháp luật.
[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo của Nguyễn Thị Yến N, ông Nguyễn Tấn S
về việc yêu cầu tuyên hiệu Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ngày 10/3/2023 giữa ông Tống Đức H Ngân
hàng T5 (nay Ngân hàng T4), được Văn phòng C4, quyển số 03/2023/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 10/3/2023 đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 97, tờ bản
đồ số 23, diện tích 1.168m² (diện tích đo đạc thực tế 1.151,4m²), loại đất ở tại nông
thôn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DK 767135, số vào sổ cấp GCN
CS 15866 thửa đất số 695, tờ bản đồ số 23, diện tích 300,4m² (diện tích đo đạc
thực tế 259m²), loại đất chuyên trồng lúa nước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số DK 767136, số vào sổ cấp GCN CS 15867, cùng tọa lạc tại ấp Đ, Đ, huyện
Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh).
Xét thấy, sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng đăng ký biến động, ông Tống
Đức H đã được quan nhà nước thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số DK 767135 DK 767136 ngày 27/12/2022 đối với hai thửa đất nêu
trên. Tại thời điểm ký kết Hợp đồng thế chấp ngày 10/3/2023, ông H là người đứng
tên hợp pháp trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các thửa đất không bị
biên, không bị ngăn chặn giao dịch và không có thông tin tranh chấp được đăng ký
tại cơ quan có thẩm quyền.
Trước khi ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp, Ngân hàng T5 đã
tiến hành thẩm định hồ pháp lý, kiểm tra thực địa định giá tài sản bảo đảm theo
quy trình nghiệp vụ. Biên bản kiểm tra thực tế tài sản bảo đảm ngày 24/02/2023 cùng
các tài liệu, hình ảnh lưu trong hồ sơ tín dụng thể hiện cán bộ Ngân hàng đã trực tiếp
đến hiện trường khảo sát nhà, đất trên thửa đất s97 thửa đất số 695. Thực tế trên
đất căn nhà cấp 4 đang được gia đình T2 sử dụng Ngân hàng đã tiếp cận
được hiện trạng nhà đất để tiến hành thẩm định.
Tại cấp thẩm, bà Nguyễn Thị T2 thừa nhận sau khi vay tiền có mở cửa cho
ông H những người đi cùng vào xem nhà đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện
nguyên đơn cho rằng T2 không biết những người này cán bộ Ngân hàng
chỉ nghĩ người cho vay tiền đến xem tài sản. Tuy nhiên, lời trình bày này không
làm thay đổi bản chất vụ việc. Bởi lẽ, việc Ngân hàng đã thực tế tiếp cận, khảo sát,
chụp ảnh thẩm định tài sản có thật. Đồng thời, trong suốt quá trình thẩm định
không bất kỳ ai phản đối, ngăn cản hoặc thông báo cho Ngân hàng biết về việc
các hợp đồng chuyển nhượng trước đó giả tạo hoặc tài sản đang tranh chấp. Do
13
đó, việc nguyên đơn cho rằng Ngân hàng không thẩm định tài sản hoặc không biết
hiện trạng sử dụng tài sản là không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Đối với ý kiến của đại diện nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền
của ông Tống Đức H người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông H cho rằng
ông H không ký các biên bản thẩm định tài sản, không trực tiếp tham gia việc khảo
sát thực địa nên đề nghị tạm ngừng phiên tòa để giám định chữ ký, thấy rằng:
Các biên bản thẩm định tài sản không phải là căn cứ duy nhất làm phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền nghĩa vụ của các bên trong giao dịch tín dụng. Căn
cứ xác lập quyền nghĩa vụ của các bên Hợp đồng tín dụng Hợp đồng thế
chấp đã được các bên kết, được công chứng hợp pháp và đăng giao dịch bảo
đảm theo quy định pháp luật. Mặt khác, việc người đại diện ông H hiện nay không
thừa nhận chữ của ông H trên các tài liệu thẩm định chỉ lời trình bày đơn
phương, không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có sự giả mạo chữ ký.
Ngoài ra, việc ký xác nhận trên các biên bản thẩm định không nhất thiết phải
được thực hiện ngay tại hiện trường thẩm định tài sản. Quá trình thẩm định thể
được thực hiện tại thực địa, còn việc hoàn thiện hồ sơ nghiệp vụ và ký xác nhận có
thể được thực hiện tại địa điểm khác theo quy trình nội bộ của tổ chức tín dụng. Do
đó, việc có hay không giám định chữ trên các biên bản thẩm định không làm thay
đổi bản chất của giao dịch thế chấp đã được xác lập hợp pháp giữa ông H và Ngân
hàng.
Các chứng cứ hiện trong hồ đã đầy đsở đgiải quyết vụ án, việc
giám định chữ theo yêu cầu của nguyên đơn phía ông H không phải là tình tiết
quyết định đối với việc xác định hiệu lực của Hợp đồng thế chấp. Vì vậy, không có
căn cứ chấp nhận đề nghị tạm ngừng phiên tòa để thực hiện việc giám định chữ ký.
Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015,
trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại quan Nhà
nước thẩm quyền, sau đó được chuyển giao hoặc được xác lập giao dịch với người
thứ ba ngay tình căn cứ vào việc đăng đó tquyền lợi của người thứ ba ngay tình
được pháp luật bảo vệ.
[2.4] Trong vụ án này, Ngân hàng T4 Số căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho ông Tống Đức H để
xác lập giao dịch thế chấp, đã thực hiện đầy đủ việc thẩm định hồ sơ pháp lý và tình
trạng thực tế tài sản Ngân hàng không biết việc các giao dịch chuyển nhượng trước
đó bị hiệu. Do đó, có đủ căn cứ xác định Ngân hàng T4 người thứ ba ngay tình
theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015. Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất số 123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ngày 10/3/2023 giữa ông
Tống Đức H Ngân hàng T4) hiệu lực. Tòa án cấp thẩm không chấp nhận
yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng thế chấp của bà Nguyễn Thị Yến N và ông Nguyễn
Tấn S là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Từ những phân tích trên, không căn cứ chấp nhận kháng cáo của
Nguyễn Thị Yến N ông Nguyễn Tấn S, giữ nguyên bản án dân sthẩm của
Toà án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
14
tỉnh Tây Ninh tại phiên toà đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ
nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của Nguyễn Thị Yến N
ông Nguyễn Tấn S không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Yến N ông Nguyễn
Tấn S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp được đối trừ vào nghĩa vụ án phí phải chịu.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị Yến N, ông
Nguyễn Tấn S.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 421/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh.
Căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1
Điều 39, Điều 147, Điều 148, 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của B
luật Tố tụng dân sự; Điều 133, 408, 463, 466, 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26, 27, 29 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Yến
N, ông Nguyễn Tấn S về việc “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất” với bị đơn ông Tống Đức H.
2. Tuyên bố các hợp đồng sau đây bị vô hiệu:
2,1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng 10195, quyền
số 12/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/12/2022 tại Văn phòng C1 (nay văn
phòng C) giữa bà Nguyễn Thị Yến N, ông Nguyễn Tấn S với ông Tống Đức H;
2.2. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng số 10651,
quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C2 giữa ông Tống Đức H với
Nguyễn Thị Ngọc N1;
2.3. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất được được công chứng số
718, quyền số 02/2023TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C3 giữa bà Nguyễn Thị
Ngọc N1, ông Đỗ Văn P với ông Tống Đức H.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn Nguyễn Thị Yến N,
ông Nguyễn Tấn S đối với bị đơn ông Tống Đức H, về việc yêu cầu hiệu hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 123/2023/MG001/02.HĐTC/040 ny
10/03/2023 giữa Ngân hàng T5 (nay là Ngân hàng T4) với ông Tống Đức H.
15
4. Vgiải quyết hậu quả pháp của hợp đồng hiệu: Các đương skhông
yêu cầu nên không xem xét, giải quyết, nếu có tranh chấp thì sẽ khởi kiện trong một
vụ án khác.
5. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của Ngân hàng T5 (nay Ngân hàng
T4) đối với ông Tống Đức H.
Buộc ông Tống Đức H phải thanh toán cho Ngân hàng T5 (nay là Ngân hàng
T4) số tiền gốc lãi tính đến ngày 12/9/2025 5.361.260.247 đồng (Năm tỷ, ba
trăm sáu mươi mốt triệu, hai trăm sáu mươi nghìn, hai trăm bốn mươi bảy đồng)
(trong đó nợ gốc 3.748.953.513 đồng, nợ lãi trong hạn 229.733.893 đồng, nợ
lãi quá hạn 1.337.760.690 đồng, lãi chậm trả 44.809.151 đồng). Thanh toán
ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 13/9/2025, ông Tống Đức H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn
của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp
đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín
dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của
Ngân hàng cho vay thì lãi suất khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân
hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với
sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trong trường hợp ông Tống Đức H không trả hoặc trả không đầy đủ nghĩa
vụ trả nợ nêu trên, Ngân hàng T5 (nay Ngân hàng T4) được quyền yêu cầu
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp để thu
hồi nợ đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 97, tờ bản đồ số 23, diện tích đo
đạc thực tế là 1151,4 m
2
, đất ở tại nông thôn; tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
(nay Đ, tỉnh Tây Ninh) theo Giấy chứng nhận Quyền sdụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DK 767135, số vào sổ cấp GCN CS
15866 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L (cũ) cấp ngày 27/12/2022; Quyền sử
dụng đất thuộc thửa đất số 695, tờ bản đồ s23, diện tích đo đạc thực tế 259m
2
,
đất chuyên trồng lúa nước, tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh
Tây Ninh) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số DK 767136, số vào scấp GCN CS 15867 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh L (cũ) cấp ngày 27/12/2022. (Theo mãnh trích đo bản đồ địa
chính số 306-2024).
6. Vchi phí thẩm định, định giá, giám định: Ông Tống Đức H nghĩa vụ
trả cho bà Nguyễn Thị Yến N, ông Nguyễn Tấn S số iền 39.828.000 đồng ( Ba mươi
chín triệu, tám trăm hai mươi tám nghìn đồng).
7. Ván phí dân sự thẩm: Buộc ông Tống Đức H phải chịu 57.580.630
đồng (Năm mươi bảy triệu, năm trăm tám mươi nghìn, sáu trăm ba mươi đồng).
Nguyễn Thị Yến N, ông Nguyễn Tấn S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm
nghìn) nhưng được khấu trừ 900.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã
nộp theo các biên lai thu số 0006764 ngày 30/10/2023, 0005018 ngày 04/7/2024,
0005370 ngày 07/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long
An (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh) sang án phí . H3 lại cho bà N, ông S
600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí còn thừa.
16
Ngân hàng T5 (nay là Ngân hàng T4) không phải chịu án phí.
Hoàn trả cho Ngân hàng T5 (nay là Ngân hàng T4) số tiền tạm ứng án phí đã
nộp là 55.711.000 đồng (Năm mươi lăm triệu, bảy trăm mười một nghìn đồng) tạm
ứng án pđã nộp theo biên lai thu số 0005410 ngày 12/8/2024 tại Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh).
8. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Thị Yến N phải chịu 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013149 ngày
25/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh tây N2. Bà N đã nộp đủ án phí dân sự phúc
thẩm.
Ông Nguyễn Tấn S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được
khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu
số 0013147 ngày 25/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Ông S đã nộp
đủ án phí dân sự phúc thẩm.
9. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định
tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) tngười được thi
hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi nh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo
quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 3 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tỉnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Diễm Hằng
17
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 785/2026/DS-PT Bản án số 785/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 785/2026/DS-PT Bản án số 785/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất