Bản án số 781/2026/DS-PT ngày 21/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 781/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 781/2026/DS-PT ngày 21/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 781/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phan Văn C - Võ Thanh T. T/c đòi lại Tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 781/2026/DS-PT Bản án số 781/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 781/2026/DS-PT Bản án số 781/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN T
Bản án số: 781/2026/DS-PT
Ngày: 21/7/2026
V/v tranh chấp đòi lại tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lâm;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan;
Bà Phan Thị Tuyết Mai.
- Thư phiên tòa: Đặng Thị Ngọt, TTòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 787/2026/TLPT-DS ngày 01
tháng 6 năm 2026, về tranh chấp đòi lại tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 917/2026/QĐ-PT
ngày 08 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Văn C, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Số A, Đường C, phường T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Thị Mộng V, sinh năm
1992; địa chỉ: Số C, đường L, phường C, thành phố Cần Thơ; người đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 28/4/2025). (có mặt)
- Bị đơn:
1. Ông Võ Thanh T, sinh năm 1958;
2. Bà Giang Kim N, sinh năm 1979;
Cùng địa chỉ: Số E, Đường C, phường T, thành phố Cần Thơ. (đều có đơn
đề nghị xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đỗ Duy T1, sinh năm 1980;
2
2. Bà Lâm Kim L, sinh năm 1986;
Cùng địa chỉ: Khóm G, phường T, tỉnh Mau. (có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt)
3. Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Số D, KDC H, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ cư trú hiện nay: Số E, đường P, khóm A, phường P, tỉnh Vĩnh Long. Địa
chỉ liên hệ: Số B, Quốc lộ E, xã L, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)
4. Bà Lê Thị Hương G, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Số A, Đường C, phường T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của Thị Hương G: Thị Mộng V,
sinh năm 1992; địa chỉ: Số C, đường L, phường C, thành phố Cần Thơ; là người
đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Hương G (văn bản ủy quyền ngày
28/7/2025). (có mặt)
- Người kháng cáo: Ông Võ Thanh T, bà Giang Kim N - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 4 năm 2025, đơn khởi kiện bổ sung
ngày 21 tháng 10 năm 2025 của nguyên đơn ông Phan Văn C và trong quá trình
giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của ông đều trình bày:
Đầu tháng 07/2022, ông Đỗ Duy T1 nhu cầu bán 02 phần đất nên ông
C liên hệ thỏa thuận để mua, cụ thể: Các thửa đất theo các Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BI
297300 (số vào sổ CH00508), do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện C, tỉnh Hậu
Giang cấp ngày 12/01/2012 số BS 672989 (số vào sổ CH00875), do UBND
huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 15/6/2016, đất tọa lạc tại ấp T, thị trấn C,
huyện C, tỉnh Hậu Giang, với giá 9.900.000.000 đồng, thỏa thuận ông T1 cho
ông C trả trước 8.000.000.000 đồng ông C đã đưa cho ông T1 xong, ông
Công n lại ông T1 1.900.000.000 đồng trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày công
chứng. Giao dịch chuyển nhượng với vợ chồng ông T1 chưa thực hiện chuyển
nhượng qua cho ông C đứng tên. Ông C báo với ông T N ông T1
nhu cầu bán 02 miếng đất, vợ chồng ông T, bà N rủ ông hùn vốn mua, ông T, bà
N p 1.600.000.000 đồng. Khi thỏa thuận với ông T1 xong, N báo đã
người mua là Nguyễn Thị Hồng P với giá 14.000.000.000 đồng, bà N đã thỏa
thuận nhận tiền cọc 1.000.000.000 đồng.
Ngày 29/7/2022, ông T1 đã đến Văn phòng C1 để thực hiện ký chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị Hồng P theo hợp đồng có số công
chứng 3633, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD để chuyển nhượng 02 quyền
sử dụng đất cho P với giá 13.500.000.000 đồng. Vào ngày 03/11/2022, P
đã chuyển khoản cho N số tiền mua 02 miếng đất của ông T1
9.000.000.000 đồng, phần tiền còn lại 5.000.000.000 đồng thì N cũng đã
nhận đủ từ bà P.
3
Sau khi nhận đủ số tiền 14.000.000.000 đồng chuyển nhượng 02 miếng
đất mua của ông T1 thì N không chuyển phần vốn lợi nhuận lại cho vợ
chồng ông C như cam kết, N chiếm gi sử dụng toàn bộ số tiền
14.000.000.000 đồng.
Ông Công nhận thấy ông T và N dùng thủ đoạn gian dối đưa ra nhiều
do hứa hẹn nhằm chiếm đoạt tài sản góp vốn của ông nên ông gửi đơn tố
cáo đến quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H. Tại các buổi làm việc, N
không thừa nhận việc góp vốn cùng mua đất của ông T1 với ông C. Sau đó,
N khởi kiện về số tiền mà N chuyển khoản cho ông C, trong đó số
tiền 1.600.000.000 đồng hùn vốn mua đất của ông T1 tại Tòa án nhân dân
(TAND) quận N, thành phố Cần Thơ đã được giải quyết bằng Bản án số
123/2025/DS-ST ngày 02/6/2025.
Qua quá trình làm việc tại Công an, quan Cảnh sát điều tra xác định
không yếu tố hình sự, stiền ông C trả tiền mua đất của ông T1 tiền nằm
ngoài số tiền ông C ông T, N chuyển qua lại đã được giải quyết TAND
quận Ninh Kiều.
Do đó, ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Công nhận các thửa đất theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền shữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BI 297300 (số vào sổ
CH00508), do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 12/01/2012 số BS
672989 (số vào sổ CH00875), do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày
15/6/2016 cho ông C. Ông C tự nguyện hoàn trả lại cho N ông T số tiền
1.600.000.000 đồng đã góp vốn.
- Tuyên hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công
chứng 3633, quyển số 02/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/7/2022, được công
chứng tại Văn phòng C1, giữa ông Đỗ Duy T1, Lâm Kim L với Nguyễn
Thị Hồng P. Hủy phần chỉnh biến động “Chuyển nhượng cho Nguyễn Thị
Hồng P” đối với các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số BI 297300 (số vào sổ CH00508), do UBND
huyện C cấp ngày 12/01/2012 số BS 672989 (số vào sổ CH00875), do
UBND huyện C cấp ngày 15/6/2016.
Đến ngày 21/10/2025, ông C khởi kiện bổ sung, yêu cầu ông T, N
trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông số tiền mà ông đã thanh toán cho ông
Đỗ Duy T1 Lâm Thị Kim L tổng cộng 9.900.000.000 đồng. phần đất
ông yêu cầu Tòa án công nhận cho ông thì P đã thế chấp bảo đảm nghĩa vụ
tại Ngân hàng đã được giải quyết bằng Bản án số 127/2025/DS-ST ngày
18/9/2025 của TAND khu vực 3 - Cần Thơ, theo đó Ngân hàng quyền yêu
cầu phát mãi 02 phần đất đã thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng
nếu bà P không thực hiện đầy đủ thanh toán nợ cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của ông C chỉ yêu cầu
N trách nhiệm trả lại cho ông C số tiền 9.900.000.000 đồng, đồng thời rút lại
yêu cầu khởi kiện đối với ông T.
4
Đối với bị đơn ông Thanh T Giang Kim N: Trong quá trình giải
quyết vụ án, ông bà đều vắng mặt, không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của
mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông C.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Đỗ Duy T1 và bà Lâm Kim L trình bày:
Ông, thỏa thuận chuyển nhượng 02 phần đất cho ông C theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với
đất số BI 297300 (số vào sổ CH00508), do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp
ngày 12/01/2012 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất sBS 672989 (số vào sổ CH00875), do UBND
huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 15/6/2016. Ông C đã trả trước cho ông,
đến ngày 26/7/2022 là 8.000.000.000 đồng. Đến ngày 29/7/2022, ông C gọi ông,
ra văn phòng công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất.
Tuy nhiên, lúc này người nhận chuyển nhượng Nguyễn Thị Hồng P
giá chuyển nhượng 13.500.000.000 đồng. Lúc đó, ông biết ông C đã thoả
thuận chuyển nhượng lại cho bà P với giá 13.500.000.000 đồng, ông vẫn
đồng ý, chỉ cần ông C trả đủ cho ông bà 9.900.000.000 đồng là được. Sau khi ký
hợp đồng chuyển nhượng, ông C tiếp tục trả cho ông nhiều lần được thêm
1.287.000.000 đồng, tổng cộng đã thanh toán được 9.287.000.000 đồng, còn n
lại 613.000.000 đồng. Ông, không hề nhận khoản tiền nào khác, không nhận
khoản tiền nào từ P hoặc của ai khác từ việc bán 02 quyền sử dụng đất nêu
trên.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông C, ông đồng ý yêu cầu tuyên b
hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông,
P, đồng ý công nhận quyền sử dụng đất 02 phần đất này cho ông C, ông
chuyển nhượng cho ông C và nhận tiền từ ông C. Đối với số tiền ông C còn nợ
ông, bà 613.000.000 đồng, ông, ông C tự thoả thuận với nhau, không yêu
cầu Toà án giải quyết trong vụ án này. Ông, bà xin vắng mặt trong quá trình Tòa
án giải quyết vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Lê Thị Hương G trình bày:
Ông Phan Văn C (chồng bà) đơn khởi kiện đối với vợ chồng ông
Thanh T, bà Giang Kim N. thống nhất với ý kiến của ông C, quyết định và ý
kiến của ông C cũng là của bà.
Đối với người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Hồng P:
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà không có trình bày ý kiến hay yêu cầu gì.
Tại Bản án số 11/2026/DS-ST ngày 26/01/2026, Tòa án nhân dân khu vực
14 - Cần Thơ đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một
5
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật pháp
người chưa thành niên, Luật Phá sản Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
năm 2025; các Điều 163, 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn C đối với ông
Thanh T.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn C. Buộc bà Giang Kim
N trách nhiệm trả lại cho ông Phan Văn C số tiền 9.900.000.000 đồng (Chín
tỷ chín trăm triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi nh án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và
quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 18/3/2026, N ông T cùng có đơn kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết sửa bản án thẩm
theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện hợp pháp của ông C không rút đơn khởi kiện. Bà N, ông T
đơn đề nghị xét xử vắng mặt không rút kháng cáo. Ông T1, L cũng đề
nghị xét xử vắng mặt, còn P vắng mặt không có do. Các đương sự không
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đối với yêu cầu kháng cáo của
N ông T không căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không
chấp nhận áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của bị đơn Giang Kim N, ông Thanh T
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Duy T1, Lâm Kim L,
Nguyễn Thị Hồng P: Các ông, bà đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để
6
tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng vắng mặt, đối với N, ông T, ông T1,
L thì đề nghị xét xử vắng mặt, còn bà P vắng mặt không sự kiện bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử
vắng mặt đối với các ông, bà.
[2] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của Giang
Kim N ông Thanh T đảm bảo về hình thức nội dung, đúng người có
quyền kháng cáo, còn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại các Điều 271,
Điều 272 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên hợp lệ, đủ điều
kiện để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[3] Xét kháng cáo của N ông T, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận
thấy:
[4] Theo lời trình bày của ông C, vào ngày 18/7/2022, giữa ông C với ông
Đỗ Duy T1 bà Lâm Kim L lập văn bản thỏa thuận chuyển nhượng 02 thửa
đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BI 297300, do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp
ngày 12/01/2012 số BS 672989, do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp
ngày 15/6/2016, đất tọa lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang với giá
9.900.000.000 đồng nhưng chưa lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất. Sau đó, ông C với Giang Kim N thỏa thuận hùn vốn với nhau để
chuyển nhượng 02 thửa đất này của ông T1, L nhằm mục đích bán lại để
kiếm lời, ông C góp 8.300.000.000 đồng, còn N góp 1.600.000.000 đồng.
N m được người mua lại 02 thửa đất này là Nguyễn Thị Hồng P với giá
14.000.000.000 đồng. Ngày 29/7/2022, ông T1 đã đến Văn phòng C1 hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trực tiếp với P, trong hợp đồng thể
hiện giá chuyển nhượng 13.500.000.000 đồng. P đã trả tiền chuyển nhượng
trực tiếp cho N nhưng bà N không trả lại cho ông C 9.900.000.000 đồng, dẫn
đến việc hiện nay ông C mới trả được cho ông T1, bà L 9.287.000.000 đồng, còn
nợ lại ông T1, L 613.00.000 đồng (ông T1, L không yêu cầu giải quyết
trong vụ án này).
[5] Quá trình giải quyết vụ án, bà N và ông T luôn vắng mặt. Tòa án cũng
đã tiến hành thu thập các lời khai của N tại quan Cảnh sát điều tra Công
an tỉnh H cũ. Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/3/2025 (bút lục 15) N trình
bày, mua đất của ông T1 do ông C trả cho ông T1, nhưng bà chuyển tiền cọc cho
vợ chồng ông C với số tiền hơn 3.000.000.000 đồng, 6.000.000.000 đồng còn lại
vay của ông C, đất của ông T1 người mua, ông C chỉ cho vay
6.000.000.000 đồng và bà đã trả xong qua chuyển khoản. Bán đất mua được của
ông T1 do bán, bà nhận tiền từ P bằng hình thức chuyển khoản
9.000.000.000 đồng, còn lại 5.000.000.000 đồng P còn nợ viết giấy
tay để ghi nhớ nợ. Tuy nhiên, ông C không thừa nhận bà N là người mua đất của
ông T1, không thừa nhận việc cho vay 6.000.000.000 đồng, N cũng
không tài liệu, chứng cứ chứng minh việc này. Mặt khác, ông T1 L
cũng xác định chỉ thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông C, chỉ
7
có nhận tiền từ ông C, không có nhận khoản tiền nào từ bà P hay ai khác. Do đó,
bà N cho rằng bà là người chuyển nhượng đất của ông T1 là không có cơ sở.
[6] Đối với ông T, tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của ông
C đã rút lại yêu cầu khởi kiện của ông C đối với ông T nên cấp thẩm đã đình
chỉ xét xử đối với yêu cầu này đúng quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[7] Mặc ông C không chứng minh được ông với N, ông T thỏa
thuận hùn vốn chuyển nhượng 02 thửa đất của ông T1, L nhưng căn cứ vào
lời trình bày của các bên sở khẳng định, ông C người nhận chuyển
nhượng 02 thửa đất của ông T1, L với giá 9.900.000.000 đồng. Hiện nay, 02
thửa đất này N đã chuyển nhượng cho P với giá 14.000.000.000 đồng, đã
được chỉnh lý sang tên cho bà P ngày 04/8/2022, bà N là người nhận tiền chuyển
nhượng từ P cho nên cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C,
buộc N hoàn trả lại cho ông C số tiền 9.900.000.000 đồng căn cứ, đúng
quy định tại Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; còn tiền ông Công nợ ông
T1, L, do ông T1, L không yêu cầu độc lập trong vụ án này nên cấp
thẩm dành quyền khởi kiện thành vụ án khác cho ông nếu sau này tranh
chấp là có căn cứ.
[8] N, ông T kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án
thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C
không có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.
[9] Các phần khác trong quyết định của bản án thẩm không kháng
cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra xem xét.
[10] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề
nghị của Kiểm sát viên, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của N, ông T,
căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản
án dân sự sơ thẩm.
[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án quy định: “Đương sự kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nếu Tòa
án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định thẩm bị kháng cáo, trừ
trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí phúc thẩm” điểm đ
khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết này ng quy định những trường hợp được
miễn nộp tiền án phí trong đó đối tượng người cao tuổi. N, ông T
người kháng cáo không được chấp nhận, đối với bà N không thuộc trường hợp
được miễn hoặc không phải chịu án phí phúc thẩm nênphải chịu án phí phúc
thẩm là 300.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã
nộp, còn ông T người cao tuổi, đơn yêu cầu miễn nộp tiền án phí phúc
thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận miễn án phí phúc thẩm cho ông.
Vì các lẽ trên;
8
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Giang Kim N ông
Võ Thanh T.
1. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 26 tháng
01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ, cụ thể:
Tuyên xử:
1.1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn C, về
việc yêu cầu ông Võ Thanh T liên đới với bà Giang Kim N trả lại cho ông số tiền
9.900.000.000 đồng (Chín tỷ chín trăm triệu đồng).
1.2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn C. Buộc Giang
Kim N có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Phan Văn C số tiền 9.900.000.000 đồng
(Chín tỷ chín trăm triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của ông Phan Văn C cho đến khi
thi hành án xong, Giang Kim N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
1.3. Về chi phí tố tụng: Ông Phan Văn C phải chịu chi phí trích lục hồ
là 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) và đã nộp xong.
1.4. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phan Văn C không phải chịu được hoàn trả lại số tiền tạm ứng
án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án số 0005179 ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng THADS Khu vực
14 Cần Thơ) 59.000.000 đồng (Năm mươi chín triệu đồng), theo biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007613 ngày 27 tháng 10 năm 2025 của
Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
- Giang Kim N phải chịu 117.900.000 đồng (Một trăm mười bảy
triệu chín trăm nghìn đồng).
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Võ Thanh T được miễn.
- Giang Kim N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005547 ngày 27
tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố C.
9
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quyền thỏa thuận thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36 và 72 Luật Thi hành án dân sự năm
2025; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi
hành án dân sự năm 2025.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND khu vực 14 - Cần Thơ;
- VKSND TP Cần Thơ;
- VKSND khu vực 14 - Cần Thơ;
- THADS TP Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ ván.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hoàng Lâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 781/2026/DS-PT Bản án số 781/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 781/2026/DS-PT Bản án số 781/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất