Bản án số 193/2026/DS-PT ngày 05/02/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 193/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 193/2026/DS-PT ngày 05/02/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 193/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn M. Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 414/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 193/2026/DS-PT
Ngày: 05-02-2026
“V/v tranh chấp vô hiệu hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán:Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Bà Trịnh Thị Phúc
- Thư phiên tòa: Ông Trung Kiên - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 ngày 05 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 884 /2025/TLPT-DS
ngày 17 tháng 11 năm 2025 v“tranh chấp hiệu hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 414/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 832/2025/QĐ-PT ngày
12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1964 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Số I đường T, Khu phố A, phường T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông M: Thị D, sinh
năm 1974 (có mặt).
Địa chỉ trú: Số D, đường số A - T, Khu phố A, phường T, tỉnh Tây Ninh.
(Văn bản ủy quyền ngày 19/01/2026)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1973 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Số F, đường Q, khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Minh H, sinh năm 1985 (có mặt)
2
Địa chỉ cư trú: Tổ G, ấp B, xã C, tỉnh Tây Ninh.
3.2. Ông Bùi Đắc A (vắng mặt).
3.3. Bà Nguyễn Thị Phương T (vắng mặt).
Cùng địa chỉ trú tại: Số A đường N, Khu phố D, phường L, tỉnh Tây
Ninh.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Huỳnh Văn M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại
phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Huỳnh Văn M trình bày:
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 120/2025/DSPT ngày 12 tháng 3 năm 2025
của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã tuyên: “Chấp nhận một phần yêu cầu khởi
kiện của ông Huỳnh Văn M. Buộc ông Nguyễn Tấn P nghĩa vụ trả cho ông
Huỳnh Văn M tổng số tiền 700.000.000 đồng. Ghi nhận ông M không yêu cầu tính
lãi”.
Vào ngày 09/4/2025, ông đã có đơn yêu cầu thi hành án bản án nêu trên tại
Chi cc Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Ngày 15/4/2025,
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định thi
hành án theo yêu cầu số 381/QĐ-CCTHADS buộc ông Nguyễn Tấn P phải thi
hành án khoản tiền 700.000.000 đồng cho ông.Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày
ra Quyết định thi hành án số 381, ông P không đến quan thi hành án dân sự,
không tự nguyện thi hành cho ông bất kỳ khoản tiền nào.
Sau đó ông tự tìm hiểu và phát hiện vào ngày 12/4/2025, ông Nguyễn Tấn
P đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 1286, TBĐ số 28, tọa lạc tại ấp G,
B, tỉnh Tây Ninh cho ông Trần Minh H. Do đó ngày 16/5/2025, ông đã nộp
Đơn khởi kiện yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
P và ông H đối với phần đất nêu trên, ông cho rằng ông P cố tình tẩu tán tài sản,
không thực hiện nghĩa vụ thi hành án cho ông.
Đến ngày 19/5/2025, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh ra
Thông báo số 1153/TB-CCTHADS về việc yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô
hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền huỷ giấy tờ liên quan đến giao dịch và
giao cho ông cùng ngày 19/5/2025. Ông chưa nhận được Quyết định về việc hoãn
thi hành án số 04/QĐ-CCTHA ngày 16/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Tây Ninh.
Ngoài phần đất nêu trên, ông không biết ông Nguyễn Tấn P có còn tài sản
nào khác để đảm bảo cho việc thi hành án của ông hay không. Khi cho ông P vay
tiền thì ông ông P không thoả thuận biện pháp bảo đảm nào. Trong quá trình
giải quyết vụ án “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với ông Nguyễn Văn L, ông
Nguyễn Tấn P thì ông cũng không yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời nào đối với ông P, ông L.
3
Nay ông khởi kiện yêu cầu hu hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng
đất giữa ông Nguyễn Tấn P và ông Trần Minh H đối với quyền sử dụng đất thửa
1286, TBĐ số 28, tọa lạc tại ấp G, xã B, tnh Tây Ninh.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn P trình bày trong quá trình giải quyết vụ án tại
Tòa cấp sơ thẩm như sau:
- Vquan hgiữa ông và ông Huỳnh Văn M: Tại Bản án dân sự sơ thẩm số
260/2025/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh
Tây Ninh đã tuyên “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn M
về việc yêu cầu ông Nguyễn Tấn P cùng liên đới với ông L trả cho ông M số tiền
tổng cộng 938.985.000 đồng, trong đó nợ gốc 700.000.000 đồng tiền lãi
238.985.000 đồng”.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 120/2025/DSPT ngày 12/3/2025 của Tòa
án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã sửa Bản án thẩm theo hướng “Chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn M. Buộc ông Nguyễn Tấn P nghĩa
vụ trả cho ông Huỳnh Văn M tổng số tiền 700.000.000 đồng. Ghi nhận ông M
không yêu cầu tính lãi”.
Ông không đồng ý với bản án phúc thẩm nên đã khiếu nại theo thủ tục giám
đốc thẩm được Tòa án nhân dân cấp cao Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận đơn vào ngày 20/5/2025 đã thông báo
cho ông đang xem xét giải quyết đơn của ông. Ngày 27/5/2025, ông tiếp tục làm
Đơn đề nghị hoãn thi hành án bản án nêu trên gửi đến Viện Kiểm sát nhân dân
cấp cao và Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Việc ông có nợ
tiền ông M hay không vẫn chưa có phán quyết cuối cùng của Tòa án nên Chi cục
Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh hướng dẫn ông M khởi kiện hủy bỏ hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông là không đúng.
- Về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Trần Minh H:
Vào ngày 15/4/2022, ông vay tiền Ngân hàng TMCP S1 thế chấp
quyền sử dụng đất thửa 1286, TBĐ s28, tọa lạc tại ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh
Tây Ninh đđảm bảo khoản vay. Giá trị quyền sử dụng đất của ông được Ngân
hàng định giá hơn 1.100.000.000 đồng nhưng khoản nợ ông vay Ngân hàng chỉ
có 600.000.000 đồng.
Ông biết việc giá trị tài sản ông dôi nên ông có nói với ông Trần Minh
H vay tiền thế chấp quyền sử dụng đất này cho ông Trần Minh H để vay số
tiền 450.000.000 đồng. Ngày 24/02/2024, ông ông Trần Minh H Hợp
đồng vay tài sản thế chấp quyền sử dụng đất, có người làm chứng ông Đỗ
Tuấn K. Sau đó, do không tiền thanh toán cho ông H nên đã thỏa thuận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thửa 1286, TBĐ số 28, tọa lạc tại ấp G, B, thành
phố T, tỉnh Tây Ninh cho ông H với giá 1.120.000.000 đồng. Ông H đồng ý, ông
H đã thanh toán tiền nợ Ngân hàng cho ông 600.000.000 đồng và khấu trừ nợ
gốc, nợ lãi với ông H 450.000.000 đồng. Ông H thanh toán tiền chênh lệch cho
ông là 70.000.000 đồng.
4
Ngày 12/4/2025, ông ông H đã Hợp đồng chuyển nhượng quyền s
dụng đất đối với thửa 1286, TBĐ số 28, tọa lạc tại ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh
Tây Ninh tại Văn phòng C. Tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng thì không
quyết định kê biên tài sản hoặc quyết định tạm ngừng đăng ký biến động gì đối
với thửa đất này.
Việc ông M cho rằng ông tẩu tán tài sản là không có căn cứ, vì đất này ông
đang thế chấp cho Ngân hàng, quan thi hành án dân sự cũng không thể biên
được. Việc ông chuyển nhượng đất cho ông H do thỏa thuận trước đó của hai
bên, ông không có tiền thanh toán cho ông H thì ông cấn trừ đất. Hơn nữa, số tiền
ông bán đất cho ông H ng để trả nợ cho Ngân hàng và trả nợ cho ông H, không
có việc tẩu tán tài sản.
Ông H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất nêu trên theo đúng
quy định của pháp luật. Ông H sử dụng đất ổn định, đã làm ranh hàng rào bằng
tường gạch, không ai tranh chấp, không biết việc nhầm thửa. Việc này ông ông
H, vợ chồng ông A, bà T tự liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh
theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh H trình bày:
Ông và ông P chỉ có quan hệ quen biết ngoài xã hội, không có quan hệ
con, họ hàng gì. Năm 2024, do ông Đỗ Tuấn K giới thiệu ông Nguyễn Tấn P vay
tiền của ông nên ông cho ông P vay số tiền nợ gốc 450 triệu đồng, lãi suất
2%/tháng. Hai bên thothuận ông P đóng lãi hàng tháng, ông P dùng quyền sử
dụng đất thửa 1286, TBĐ số 28, tọa lạc tại ấp G, B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh
để đảm bảo khoản vay, lúc này ông P có đưa cho ông xem giấy đất photo nên ông
đồng ý cho ông P vay tiền. Lúc này ông ông P chỉ Giấy vay tiền viết tay.
Sau đó, khi ông giao tiền cho ông P xong thì ông có làm Hợp đồng vay tài sản và
thế chấp quyền sử dụng đất.
Ông P đóng lãi cho ông đầy đủ, đến khoảng tháng 3 năm 2025, ông P báo
với ông là không còn khả năng đóng lãi nữa nên kêu ông lấy đất. Lúc này ông P
mới báo cho ông biết đất đã thế chấp cho Ngân hàng S2 số tiền nợ gốc
600.000.000 đồng, cấn trừ tiền nợ ông P nợ ông là 450.000.000 đồng, ông bù cho
ông P thêm 70.000.000 đồng vì ông P nói khi ngân hàng cho vay định giá đất của
ông P khoản 1,1 tỷ đồng 1,2 tỷ đồng, ông thấy giá cả hợp nên ông đồng ý
mua để thu hồi nợ.
Vào ngày 12/4/2025, ông ông P đến Ngân hàng S2 Chi nhánh T3 trả
nợ cho ông P lấy bản chính giấy đsau đó Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất tại Văn phòng C. Ông đã giao cho ông P số tiền mặt là 600.000.000
đồng để ông P trả tiền Ngân hàng. Ngay sau khi hợp đồng xong thì ông giao
cho ông P số tiền 70.000.000 đồng, không lập giấy tờ gì. Tổng cộng ông giao cho
ông P tiền mặt là 670.0000.0000 đồng, còn 450.000.000 đồng là cấn trừ nợ ông P
nợ ông. Lý do cấn trừ 450.000.000 đồng tiền nợ từ khi ông P mượn tiền ông,
ông P đóng tiền lãi cho ông, hơn nữa ông đòi tiền nhiều lần ông P mới đưa
phương án trả tiền là mua đất cấn trừ nợ cho ông nên ông chỉ lấy tiền gc của ông
5
P là 450.000.000 đồng. Việc ông P mượn tiền ông vào năm 2024 là hoàn toàn có
thật, ông giao tiền mặt, có sự làm chứng của ông Đỗ Tuấn K.
Sau khi hợp đồng chuyển nhượng thì ông đã thực hiện thủ tục đăng ký
biến động sang tên quyền sử dụng đất. Tại thời điểm ông hợp đồng chuyển
nhượng với ông P thì không có ai ngăn chặn gì, không có văn bản nào của Toà án
hoặc quan Thi hành án dân sự thẩm quyền áp dụng quyết định ngăn chặn
hoặc thông báo tạm dừng việc đăng sở hữu. Hiện nay ông đã được cấp Giấy
chứng nhận quyền sdụng đất đối với thửa 1286, TBĐ số 28, tọa lạc tại ấp G, xã
B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Tại thời điểm ông nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất nêu trên thì ông không biết ông P phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án gì,
cho ai. Ông P đã giao đất cho ông, ông người trực tiếp quản sử dụng đất, hiện
trạng trên có 01 căn nhà khung sắt tiền chế mái lợp tole. Đất có chiều ngang 06m,
chiều dài hơn 90m toạ lạc tại Hẻm A, ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn M. việc
ông P nợ tiền ông M nhưng không có bảo đảm. Khi ông nhận chuyển nhượng đất
của ông P thì đất đang thế chấp ngân hàng, ông phải trả tiền vào ngân hàng cho
ông P để lấy giấy đỏ ra; việc ông P bán đất cho ông còn nhằm mục đích cấn trừ
nợ cho ông; khi ông ký hợp đồng chuyển nhượng và đăng ký tại Văn phòng đăng
ký đất đai cũng không có ngăn chặn gì.
Trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện ca ông M thì phải giải
quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông;
buộc ông P trả lại cho ông số tiền chuyển nhượng; phần đất này phải bảo đảm cho
việc thanh toán tiền chuyển nhượng. Bởi vì, ông là người trả tiền vào Ngân hàng
rút bản chính giấy đra, nếu không có việc mua bán đất giữa ông và ông P thì đất
này vẫn thuộc tài sản bảo đảm khoản vay của ông P tại Ngân hàng. Ông không
biết việc sử dụng đất nhầm thửa, ông không yêu cầu giải quyết trong ván này,
trường hợp cần thiết thì ông sẽ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều
chỉnh theo quy định ca pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Đắc A Nguyễn Th
Phương T trình bày:
Vợ chồng ông bà chủ quyền sử dụng đất thửa số 1287, TBĐ số 28, toạ
lạc tại ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố G, phường B, tỉnh
Tây Ninh). Vợ chồng ông bà sử dụng đất ổn định, có hàng rào làm ranh do chủ sử
dụng đất liền kề xây dựng, không biết việc nhầm thửa, không tranh chấp
trong vụ án này. Trường hợp cần thiết điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thì vợ chồng ông bà sliên hệ với chủ sử dụng đất thửa 1286 để làm thủ tục
điều chỉnh theo quy định của pháp luật.
Vụ án được Tòa án cấp thẩm tiến hành hòa giải nhưng các đương s
không thỏa thuận được với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 414/2025/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh đã xử:
6
Căn cứ vào Điều 122, 123, 126, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn M đối với ông
Nguyễn Tấn P vviệc tuyên hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
số ng chứng 1064, quyển số 04/2025.TP/CC-SCC?HĐGD ngày 12/4/2025 tại
Văn phòng C1 đối với phần đất thửa số 1286, TBĐ số 28, toạ lạc tại ấp G, xã B,
thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố G, phường B, tỉnh Tây Ninh).
2. Về án phí dân sự thẩm: Ông Huỳnh Văn M được miễn tiền án pdân
sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Tấn P không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về chi phí tố tụng: Ông M phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
là 1.500.000 đồng, ghi nhận ông M đã nộp xong.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên vquyền, thời hạn kháng cáo, quyền
và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 09/10/2025, Nguyên đơn ông Huỳnh Văn M kháng cáo không đồng
ý với bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vi
lý do Tòa án cấp sơ thẩm đã chưa đánh giá đúng bản chất ca vụ án, khi tuyên bố
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất s 1064, quyển số 04/2025.TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 12/4/2025 giữa ông Nguyễn Tấn P ông Trần Minh H đối với
thửa đất số 1286, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại ấp G, B, tỉnh Tây Ninh (nay
khu phố G, phường B, tỉnh Tây Ninh) là hợp pháp và có hiệu lực. Toà án cấp
thẩm đã bỏ qua quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án gây thiệt hại
nghiêm trọng cho ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn ông Huỳnh Văn M do Thị D người đại diện theo ủy
quyền trình bày nội dung kháng cáo và đề nghị hủy bản án sơ thẩm với lý do:
1. Thứ nhất, Tòa án xác định sai quan hệ tranh chấp:
Theo nội dung đơn khởi kiện ông Huỳnh Văn M yêu cầu Tòa án tuyên bố
hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Tấn P
ông Trần Minh H1 đối với thửa đất số 1286, tờ bản đồ số 28, diện tích 515,0m²
(270m² đất ở tại nông thôn + 245m² đất trồng lúa còn lại), tọa lạc tại ấp G, xã B,
thành phố T, tỉnh Tây Ninh và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy
định của pháp luật với lý do: Ông M cho rằng ông P đã chuyển nhượng thửa đất
này nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án trả số tiền 700.000.000
đồng cho ông M bên thứ ba giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo
7
quy định của pháp luật. Do đó, cần xác định đây vụ án “tranh chấp yêu cầu
tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” chứ không phải
vụ án “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” như Tòa án cấp
sơ thẩm đã xác định.
2. Thứ hai, Tòa án đưa thiếu người tham gia tố tụng:
Ông M yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất đã được Văn phòng C1 chứng nhận ngày 12/4/2025 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm
không đưa Văn phòng Công chứng Lương Tâm T1 vào tham gia tố tụng với
cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là thiếu người tham gia
tố tụng. Bởi lẽ, nếu yêu cầu khởi kiện của ông M được Tòa án chấp nhận thì s
tuyên bố vô hiệu đối với văn bản công chứng của Văn phòng C1.
3. Thứ ba, Tòa án chưa điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ đầy đủ, thiếu
khách quan:
Định giá đất thực tế thửa đất số 1286, tờ bản đồ số 28, diện tích ngang 06m,
dài 90m, tọa lạc tại Hẻm A, ấp G, B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay khu
phố G, phường B) mà ông P đã chuyển nhượng cho ông H vào ngày 12/04/2025,
với giá chuyển nhượng 1.120.000.000 đồng là không đúng với giá đất thực tế
chuyển nhượng. Thc tế giá đất lúa có thổ cư tại vị trí thửa đất này vào thời điểm
tháng 04/2025 chỉ khoảng từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng/ 1 mét
ngang mặt tiền đường hẻm (trị giá phần đất này khoảng từ 600.000.000 đồng đến
720.000.000 đồng). Giá trị tài sản cũng là căn cứ để Tòa án xem xét có việc ông
P ông H có việc cấu kết, thông đồng để tẩu tán tài sản hay không nhưng Tòa
án cấp sơ thẩm chưa tiến hành định giá tài sản mà chỉ cho ông P và ông H tthỏa
thuận giá với nhau thửa đất này trị giá 1.200.000.000 đồng. Tòa án công nhận giá
này để làm căn cứ xử bác yêu cầu khởi kiện của ông M là không đúng quy định
pháp luật.
Chưa xác minh quan chức năng (Văn phòng Đ) xem thửa đất ông P
chuyển nhượng cho ông H phải tài sản duy nhất của ông P hay không. Trong
trường hợp ông P còn tài sản khác xem thửa đất ông P chuyển nhượng cho ông H
phải tài sản duy để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án cho ông M thì ông M sẽ
rút đơn khởi kiện. Đây cũng là căn cứ pháp lý để Tòa án xem xét chấp nhận hay
bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Trong “Hợp đồng tín dụng trung dài hạn” số 69/2022, ngày 15/04/2012 (bút
lục 65, 66) thể hiện ngoài thửa đất số 1286 đang tranh chấp này ra, ông Nguyễn
Tấn P còn 02 tài sản khác gồm: Thửa đất số 161, tờ bản đồ số 19 tọa lạc tại
Khu phố C, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh do ông P đứng tên được cấp
ngày 16/06/2015; thửa đất số 409, tờ bản đsố 12 tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện
H, tỉnh Tây Ninh do ông P đứng tên được cấp ngày 01/08/2019.
Chưa thu thập bản sao hồ sơ chuyển nhượng thửa đất số 1286, tờ bản đồ số
28, tọa lạc tại Hẻm A, ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu ph G,
phường B, tỉnh Tây Ninh) giữa ông P với ông H hồ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng thửa đất này cho ông H. Bởi lẽ, ngày 12/4/2025 (Thứ Bảy) ông P
8
ông H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất này, thì ngày
17/4/2025 (chỉ cách 04 ngày làm việc của cơ quan hành chính Nhà nước) thì ông
Trần Minh H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu giấy mới.
Do đó, cần văn bản làm việc với quan đã cấp giấy đất cho ông Trần Minh
H (Văn phòng Đ - Chi nhánh thành phố T3) về việc trình tự, thủ tục, thời gian thu
hồi giấy chứng nhận quyền sdụng đất do ông Nguyễn Tấn P đứng tên được cấp
ngày 24/6/2019 (theo mẫu cũ) và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này
cho ông H (theo mẫu mới), nộp thuế chuyển nhượng có đúng quy định của pháp
luật hay không. Bởi lẽ với thời gian 04 ngày làm việc cấp tốc ban hành giấy
đất mới như vậy là không bình thường so với tiến độ, số lượng hồ sơ tiếp nhận
giải quyết của Văn phòng Đ - Chi nhánh thành phố T3 ttrước đến thời điểm ông
P và ông H nộp hồ để làm thủ tục sang tên (có thể xảy ra tiêu cực trong việc
này).
Ngoài ra, việc chuyển nhượng đất giữa ông P ông H sai thửa đất so
với thực địa bản đồ địa chính (chuyển nhượng thửa 1286 nhưng đất của ông P
thực tế thửa 1287), tại sao trước khi thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng
đất từ ông P qua ông H, Văn phòng đăng đất đai không kiểm tra thực tế thửa
đất, không phát hiện ra việc sai sót, nhầm lẫn này, tại sao không bản tả thửa
đất hai bên chuyển nhượng theo quy định, tại sao ông P được cấp đất cấp sai thửa
nhưng vẫn thực hiện được thủ tục chuyển nhượng sang tên, cấp đổi giấy đất mới
cho ông H dẫn đến việc ông M khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông P ông H đối với thửa đất số 1286 cũng bị nhầm
lẫn, nhưng Tòa án không xem xét vấn đề chuyển nhượng không đúng thửa đất này
mà cho rằng ông M khôngquyền yêu cầu tuyên bố hợp đng vô hiệu do nhầm
lẫn để bác yêu cầu khởi kiện ca ông M là không đúng.
Trong biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 16/9/2025 có nội dung thể
hiện: Ông Lâm Thanh H2 cán bcủa Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường
B, tỉnh Tây Ninh cung cấp thông tin: “Phần đất của ông P quản lý sdụng sau đó
giao cho ông H thuộc thửa 1287, không phải thửa 1286”. Nghĩa là quan chức
năng đã cấp nhầm thửa đất giữa ông Nguyễn Tấn P (thửa 1287) với thửa đất của
vợ chồng ông Bùi Đắc A, Nguyễn Thị Phương T (thửa 1286). Điều này dẫn
đến ông M khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng thửa 1286 của
ông P cho ông H là không đúng về mặt pháp (sai thửa đất). Lẽ ra Tòa án cần
tiến hành biện pháp ban hành văn bản hoặc xác minh cơ quan thẩm quyền để
làm việc nhầm lẫn này hay không; trình tự, thủ tục cấp đất đúng quy định
hay không mà cấp sai 02 thửa đất này, hướng khắc phục ra sao; tình trạng pháp
của 02 thửa đất này hiện nay như thế nào. Sau khi đã làm rõ, xác định ông Mai
K1 không đúng thửa đất thì giải thích để ông M rút đơn khởi kiện, nếu ông M
không tự rút đơn thì Tòa án đình chỉ trả lại đơn kiện do ông Mai K1 không đúng
đối tượng. Tuy nhiên, thực tế Tòa án cấp sơ thẩm chưa điều tra thu thập chứng cứ
để làm rõ vấn đề này mà tuyên xử không chấp nhận đơn khởi kiện của ông M
không đúng pháp luật.
9
Việc cấp sai thửa đất số 1286 cho ông P dẫn đến nhiều hệ quả khác. Nếu vị
trí thửa đất s1287 mới đúng đất của ông P thì việc ông P chuyển nhượng thửa
đất số 1286 cho ông H cũng sai quy định của pháp luật. Như vậy, thửa đất s1287
của ông P về mặt pháp chưa chuyển nhượng cho ai thì việc quan Thi hành
án biên thửa đất số 1287 của ông P để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án trả tiền
cho ông M là đúng pháp luật.
Chưa thu thập bản sao hồ ông Nguyễn Tấn P thế chấp giấy đất này để
vay tiền của Ngân hàng TMCP S1 và thời gian, số tiền tất toán nợ của ông P đối
ngân hàng, đxem xét về tình trạng khoản vay của ông P. Việc ngụy tạo chứng
cứ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 1286 giữa ông P ông
H còn thể hiện trong chính lời khai của ông P ông H tại Tòa án nhưng chưa
được Tòa án cấp sơ thẩm đối chất làm rõ để chứng minh sự thật khách quan của
vụ án, cụ thể:
Lời khai của các bên không thống nhất: Lời khai của ông P (tại trang 4 của
bản án sơ thẩm) thể hiện: Đất “đã làm ranh hàng rào bằng tường gạch". Lời khai
của ông H (tại bút lục số 44, 73 và trang 5 của bản án sơ thẩm) thể hiện: Tại thời
điểm nhận chuyển nhượng “hiện trạng đất nêu trên là đất trống, 01 căn nhà
khung sắt tiền chế mái lợp tole, chưa hàng rào....”. “Đất này đất trồng cây
lâu năm, ông đang dự tính xin lên thổ cư nhưng do đang tranh chấp nên không lên
thổ được”. Tại trang 1/12 trang 2/12 của “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất” (bút lục 58) thể hiện: Thửa đất số 1286 này cấp cho ông Nguyễn Tấn P ngày
24/6/2019, diện tích 515m² (trong đó: đất tại nông thôn 270m² + đất trồng lúa
nước còn lại 245m²). Ông H nhận chuyển nhượng thửa đất 1286 này của ông P
vào ngày 12/04/2025, nếu thực tế có việc chuyển nhượng này thì tại sao ông H lại
không biết hiện trạng đất của mình như thế nào, mục đích sử dụng đất ra sao.
Ngoài ra, tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/9/2025 (bút lục
92, 93) thể hiện: Hướng Đông thửa đất 1286 giáp đường bê ng 06 mét nhưng
trong đồ đất thể hiện đường bê tông chỉ 04 mét, việc xác định lộ giới ln
hay nhỏ sẽ làm ảnh hưởng đến giá trị đất tranh chấp.
4. Thứ tư, quan điểm xét xử của Tòa án cấp thẩm không hợp tình,
không hợp lý:
Tòa án xét xử không công bằng, không khách quan, không bảo vệ quyền
lợi cho ông M không đúng pháp luật và đạo đức xã hi, bởi lẽ:
Ngày 15/4/2022 vợ chồng ông Nguyễn Tấn P, Đỗ Tuyết V thế chấp thửa
đất số 1286 do ông P đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp
ngày 24/6/2019 cho Ngân hàng TMCP S1 chi nhánh T3 (S2) để vay số tiền
600.000.000 đồng (theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 69/2022/HĐTDTDH-
CN/SHB.131800 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 59/2022/HĐTC-
CN/SHB.131800. ngày 15/04/2022); thời hạn vay 180 tháng (15 năm).
Ngày 13/04/2023 ông M cho ông P vay số tiền 700.000.000 đồng, mục đích
là để ông P trả khoản nợ này cho ngân hàng S2. Do ông P không trả tiền vay đáo
hạn ngân hàng nên ông M khởi kiện được giải quyết bằng Bản án phúc thẩm
10
số: 120/2025/DS-PT ngày 12/03/2025 ca TAND tỉnh Tây Ninh hiệu lực thi
hành, buộc ông P nghĩa vụ trả cho ông M 700.000.000 đồng, ông M không yêu
cầu tính tiền lãi. Cùng ngày 09/04/2025 ông M nhận Bản án phúc thẩm làm
đơn yêu cầu thi hành án. Ngày 12/04/2025 ông P công chứng hợp đồng chuyển
nhượng thửa đất số 1286 cho ông H (sau khi Tòa án đã xử phúc thẩm và sau khi
ông M đã làm đơn yêu cầu thi hành án). Ngày 17/4/2025 ông H được cấp đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 1286 này.
Như vậy, lẽ ra ông M phải được ưu tiên thi hành án đối với thửa đất này,
bởi trước đó (ngày 13/04/2023) ông M đã cho ông P vay tiền để trả nợ cho ngân
hàng thế chấp thửa đất này để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Giả sử thực tế ngày
24/02/2024 ông H cho ông P vay 450.000.000 đồng thì cũng sau ngày ông
M cho ông P vay tiền để trả nợ ngân hàng (nhưng ông P không trả nợ cho ngân
hàng sử dụng vào mục đích khác) số tiền này ông P vẫn chưa trả lại cho
ông M.
Sau đó, ông P và ông H cấu kết với nhau ngụy tạo chứng cứ ngày
24/02/2024 hai bên “Hợp đồng vay tài sản thế chấp quyền sử dụng đất”
nhằm mc đích hợp thức hóa việc ông P tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ
cho ông M. Tuy nhiên, việc thế chấp tài sản quyền sử dụng đất đđảm bảo
nghĩa vụ trả nợ vay của ông P đối với ông H không hợp pháp (thời điểm đó
giấy đất của ông P đang thế chấp cho ngân hàng đvay tiền, hợp đồng này vi
phạm về nội dung hình thức của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất theo
quy định của B luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024.
Phần nhận định của bản án sơ thẩm để Tòa án làm căn cứ không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông M thiếu tính thuyết phục, cụ thể:
- Tòa án cấp thẩm cho rằng ông M cho ông P vay tiền không biện
pháp bảo đảm nào về tài sản tại giai đoạn thi hành án ông M cũng không yêu
cầu áp dụng biện pháp ngăn chặn nào.
Thực tế, khoản tiền 700.000.000 đồng ông M cho ông P vay để trả nợ
đáo hạn ngân hàng, trong thời gian ngắn, tài sản thì ông P đã thể chấp cho ngân
hàng, giả sử ông P thế chấp quyền sử dụng đất cho ông M để vay số tiền này
thì cũng không được pháp luật công nhận.
Ông M chỉ mới nhận được bản án phúc thẩm vào ngày 09/04/2025 và làm
đơn yêu cầu thi hành ánng ngày. Theo Luật Thi hành án thì nghĩa vụ cung cấp
thông tin về tài sản của bên phải thi hành ánnghĩa vụ của bên yêu cầu thi hành
án. Ông M một người công dân bình thường thì làm sao tìm hiểu được thông
tin về tài sản của ông P, nên phải nhờ sự hỗ trợ của quan thi hành án để xác
minh tài sản của ông P. Tuy nhiên, chỉ 03 ngày sau (ngày 12/04/2025) kể từ ngày
ông M làm đơn yêu cầu thi hành án chỉ 05 ngày sau thì thửa đất này đã được
sang tên cho ông H thì mới biết được ông P đã nhanh chóng chuyển nhượng thửa
đất này cho ông H để tẩu tán tài sản. Với thời gian quá nhanh như vậy nên ông M
không kịp m đơn đnghị áp dụng biện pháp ngăn chặn việc ông P chuyển
nhượng, sang tên thửa đất này cho người khác.
11
Tòa án cho rằng ông P chuyển nhượng thửa đất 1286 cho ông H lấy tiền trả
cho ngân hàng, đây một trong các n cứ để Tòa án nhận định việc ông P chuyển
nhượng thửa đất số 1286 cho ông Mai S khi đã bản án phúc thẩm nhưng không
dấu hiệu ông P tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án trả nợ cho ông
M. Thấy rằng:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng s 69 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất số 59 ký cùng ngày 15/04/2022 thì thửa đất số 1286 do ông P đứng tên được
cấp ngày 24/6/2019 vợ chồng ông P, bà V thế chấp cho ngân hàng S2 để vay số
tiền 600.000.000 đồng, thời hạn vay 180 tháng (15 năm), hạn trả nợ cuối cùng vào
ngày 15/04/2037. Căn cứ phiếu tất toán khoản vay ngày 11/04/2025 đối với khoản
nợ 600.000.000 đồng này (bút lục số 67) thể hiện 519.839.919 đồng. T2 nợ gốc:
Thu tiền lãi trong hạn: 20.000.000 đồng. Tổng thu: 519.839.919 đồng. Như vậy:
Khoản vay này chưa đến hạn trả, ông P chưa vi phạm hợp đồng tín dụng vtrả
tiền gốc tiền lãi (nợ gốc chỉ còn gần 520.000.000 đồng, đã trả gốc khoảng
20.000.000 đồng; chưa phát sinh lãi phạt do chậm trả).
Căn cứ phiếu tất toán khoản vay ngày 11/04/2025 (bút lục số 68) thể hiện:
Trả của khoản nợ vay ngày 24/05/2019 số tiền 700.000.000 đồng, thời hạn vay
120 tháng (10 năm), hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 24/05/2019. Ông P cho rằng
thửa số 1286, TBĐ số 28, toạ lạc tại ấp G, B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh
nguồn gốc trước đây do ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm
2019, ông thế chấp thửa đất này để vay Ngân hàng. Do không tiền trả cho Ngân
hàng nên ông và thế chấp bằng tài sản khác (bởi thửa đất 1286 cấp cho ông P
vào ngày 24/06/2019 sau ngày ông P vay số tiền 700.000.000 đồngy):
Tòa án cấp thẩm cho rằng ông P chuyển nhượng thửa đất số 1286 cho
ông H với s tiền 1.120.000.000 đồng, mục đích ông P sử dụng số tiền này để trả
nợ gốc và lãi cho ngân hàng tổng cộng 806.639.919 đồng (cả hai khoản vay)
trả nợ cho ông H 450.000.000 đồng, nên ông H được chuyển giao quyền đối kháng
với người thba (nghĩa là ông M). Trong khi đó các khoản nợ của ông P tại ngân
hàng S2 đều chưa đến hạn trả, nợ chưa quá hạn; thay chuyển nhượng đất thế
chấp (thửa 1286) để trả khoản nợ thửa đất này tài sản bảo đảm nợ vay
600.000.000 đồng thì ông P lại trả luôn khoản nợ 700.000.000 đồng được thế chấp
bằng tài sản khác. Vậy động cơ, mục đích trả nợ trước hạn của các khoản vay của
ông P tại ngân hàng là gì.
Vấn đề đặt ra là: Tại sao nợ của ông H do ông P và ông H cấu kết ngụy tạo
chứng cứ thì lại được Tòa án bảo vệ, trong khi đó ngày 13/04/2023 ông M chuyển
số tiền 700.000.000 đồng vào tài khoản cho ông P vay khoản nợ thật và đã
được Tòa án công nhận bằng bản án có hiệu thi hành mà lại không được bảo vệ.
Từ các phân tích trên, có đủ căn cứ chứng minh hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất là không đúng pháp luật, việc cấu kết, thông đồng giữa ông
P với ông H, sự giúp sức của người làm chứng của quan chức năng để
ông P tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án làm nh hưởng đến quyền
lợi của ông M, nên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M.
12
Bị đơn ông Nguyễn Tấn P trình bày: Thửa số 1286, TBĐ số 28, toạ lạc tại
ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc trước đây do ông đứng tên
giấy chứng nhận quyền sdụng đất. Năm 2019, ông thế chấp thửa đất này để vay
Ngân hàng. Do không tiền trả gốc lãi cho Ngân hàng nên giữa ông và ông
P thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất 1286 để trả nợ cho Ngân hàng. Ông P đã
giao tiền cho ông để thanh toán khoản nợ 600.000.000 đồng cho Ngân hàng, để
lấy giấy chứng nhận quyền sdụng đất ra làm hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất cho ông H. Ông đã giao đất cho ông H, ông H đã xây nhà tạm trên
đất. Việc chuyển nhượng đất giữa ông ông H là thật, bởi ông vỡ nợ, không
có khả năng trả gốc và lãi cho Ngân hàng. Nếu ông H không đưa tiền cho ông để
trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng đã phát mãi tài sản và tài sản này không còn.
Ông H cũng không biết ông ntiền ông M nên ông M cho rằng ông và ông H
thông đồng với nhau là không đúng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh H trình bày: Ông
nhận chuyển nhượng đất của ông P hoàn toàn hợp pháp, ngay tình. Ông người
bỏ tiền ra cho ông P trả nợ Ngân hàng để chuộc lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Sau khi xóa thế chấp hai bên mới thực hiện việc chuyển nhượng. Ông
đã thanh toán đủ tiền và nhận đất. Sau khi nhận đất ông đã xây hàng rào, cất nhà
trên đất, ông đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đề nghị
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm
đương schấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của
đương sự trong thời hạn luật định đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo quan điểm giải quyết vụ án đối với kháng cáo
của nguyên đơn: Kiểm sát viên phân tích căn cứ nội dung kháng cáo của nguyên
đơn và không có cơ sở chấp nhận kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn M được thực hiện đúng
theo quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp
nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa, các đương sự mặt đủ
điều kiện để xét xử phúc thẩm.
[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Huỳnh Văn M yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số ng chứng 1064, quyển số 04/2025.TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 12/4/2025 tại Văn phòng C đối với phần đất thửa số 1286, TBĐ số 28, toạ
lạc tại ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố G, phường B, tỉnh
Tây Ninh), giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu tài sản được thi hành án
cho ông M.
13
Toà án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi xét xthẩm, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Các đương sự còn lại không kháng cáo, Viện kiểm sát không
kháng nghị. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn đề nghị hủy bản án thẩm, các đương sự không thỏa thuận với nhau việc
giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp
phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng o, liên quan đến nội
dung kháng cáo của đương sự.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Văn M, thấy rằng:
[3.1] Về thủ tục tố tụng:
[3.1.1] Về quan hệ tranh chấp:
Theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự quy định những tranh chấp
về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: “3. Tranh chấp về giao dịch
dân sự, hợp đồng dân sự”.
Theo nội dung đơn khởi kiện ông Hunh Văn M yêu cầu Tòa án tuyên bố
hiệu hợp đng chuyển nhượng quyền s dụng đất được xác lập giữa ông
Nguyễn Tấn P ông Trần Minh H đối với thửa đất số 1286, tờ bản đồ s28, diện
tích 515,0m² (270m² đất ở tại nông thôn và 245m² đất trồng lúa), tọa lạc tại ấp G,
B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu theo
quy định của pháp luật. cho rằng ông P đã chuyển nhượng thửa đất này cho
ông H nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án trả số tiền 700.000.000
đồng cho ông M nên hậu quả của hợp đồng vô hiệu tài sản này dùng để thi hành
án theo quy định của pháp luật.
Thấy rằng, ông M không phải chủ thể thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất. Ông M bên thứ ba khởi kiện yêu cầu hiệu hợp đồng
cho rằng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P ông H nhằm tẩu
tán tài sản trốn tránh nghĩa vụ thi hành án cho ông M. Đây giao dịch dân sự
được Tòa án cấp thẩm thụ giải quyết tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông M về việc yêu cầu hiệu hợp đồng nêu trên. Tuy nhiên, tại trang
01 tiêu đề của bản xác định “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất” là chưa chính xác. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm sửa lại tiêu đquan htranh
chấp “tranh chấp hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” cho phù
hợp.
[3.1.2] Về người tham gia tố tụng:
Người đại diện theo ủy quyền của ông M cho rằng ông M yêu cầu tuyên bố
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được Văn phòng C1 chứng nhận
ngày 12/4/2025 nhưng Tòa án cấp thẩm không đưa Văn phòng Công chứng
Lương Tâm T1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong vụ án là thiếu người tham gia t tụng.
Thấy rằng: Trường hợp này các đương sự không yêu cầu nghĩa vụ giải thích
của Công chứng viên theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 17 của Luật Công
14
chứng sửa đổi năm 2018, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công
chứng của tổ chức hành nghcông chứng tTòa án xem xét đưa tổ chức hành
nghề công chứng vào tham gia tố tụng với cách là người quyền lợi, nghĩa v
liên quan. Do đó, a án cấp thẩm không đưa Văn phòng C1 phù hợp quy
định mục 3 phần IV của Văn bản Số: 02/TANDTC-PC ngày 02 tháng 8 năm 2021,
về việc giải đáp một s vướng mắc trong xét xcủa Hội đồng Thẩm phán, Tòa án
nhân dân tối cao.
[3.2] Về nội dung:
[3.2.1] Về vị trí đất tranh chấp:
Ông Huỳnh Văn M yêu cầu hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất số công chứng 1064, quyển số 04/2025.TP/CC-SCC/HĐGD ngày
12/4/2025 tại Văn phòng C1 đối với phần đất thửa số 1286, TBĐ số 28, toạ lạc tại
ấp G, B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay khu phố G, phường B, tỉnh y
Ninh) được xác lập giữa ông Nguyễn Tấn P và ông Trần Minh H. Thửa đất 1286
hiện do ông Trần Minh H là người đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AA 01360970 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố Đ cấp
cho ông H ngày 17/4/2025. Ông H người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất.
Trên đất công tnh, vật kiến trúc của ông H, ngoài ra không tài sản của
người khác.
[3.2.2] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/4/2025
giữa ông Nguyễn Tấn P ông Trần Minh H đối với quyền sử dụng đất thửa số
1286, TBĐ số 28, toạ lạc tại ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu
phố G, phường B, tỉnh Tây Ninh) được lập thành văn bản, công chứng theo
quy định của pháp luật.
Ngày 15/4/2022 vợ chồng ông Nguyễn Tấn P, bà Đỗ Tuyết V thế chấp thửa
đất số 1286 do ông P đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp
ngày 24/6/2019 cho Ngân hàng TMCP S1 chi nhánh T3 (S2) để vay số tiền
600.000.000 đồng (theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn s69/2022/HĐTDTDH-
CN/SHB.131800 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 59/2022/HĐTC-
CN/SHB.131800. ngày 15/04/2022); thời hạn vay 180 tháng (15 năm).
Ông P và ông H xác định do ông P1 bị vỡ nợ, không khả năng thanh
toán tiền gốc lãi định kỳ cho Ngân hàng nên ông H đã giao cho ông P
600.000.000 đồng để ông P thanh toán nợ Ngân hàng. Sau khi, thực hiện xóa thế
chấp , ngày 12/04/2025 ông P công chứng hợp đồng chuyển nhượng thửa đất
số 1286 cho ông H.
Ngày 17/4/2025, ông H được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa
đất số 1286 này. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H trên cơ
sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đúng quy định Nghị định số:
101/2024/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2024, về việc quy đnh về điều tra cơ bản
đất đai; đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu tài sản
gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai và Nghị định số: 151/2025/NĐ-CP
ngày 12 tháng 6 năm 2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền
15
địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai sửa đổi, bổ sung
nghị định số 101/2024/NĐ-CP . Bà D cho rằng thời gian 04 ngày làm việc cấp
tốc ban hành giấy đất mới như vậy là không bình thường so với tiến độ, số lượng
hồ sơ tiếp nhận nhưng không cấp chứng cứ chứng minh việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông H không đúng quy định của pháp luật.
[3.2.3] Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/9/2025 của Tòa
án cấp sơ thẩm (bút lục 92, 93) và bảnnh hiện trạng tài sản do D cung cấp tại
phiên tòa phúc thẩm thhiện: thửa đất 1286 đang tranh chấp hàng rào xung
quanh, trên đấtcăn nhà. Ông P và ông H xác định ông H nhận đất đã xây nhà
và làm hàng rào trên đất, tài sản này thuộc quyền sở hữu của ông H đang quản lý,
sử dụng. Bà D xác định nguồn gốc đất ca ông P chuyển nhượng cho ông H, còn
tài sản trên đất thì ông M không biết thuộc quyền sở hữu của ai. Thấy rằng, mặc
dù ông P ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H là thời điểm
sau khi bản án tranh chấp hợp đồng vay giữa ông M và ông P có hiệu lực, ông P
là người có nghĩa vụ trả nợ vay cho ông M. Tuy nhiên, trước khi ông P và ông H
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì thửa đất y được ông P thế
chấp cho Ngân hàng để vay tiền. Do ông P không có tiền trả gốc và lãi cho Ngân
hàng theo định kỳ nên chính ông H người bỏ tiền ra cho ông P trả nợ Ngân hàng
để chuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thời điểm hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thì thửa đất này không tranh chấp, không cầm cố, thế chấp cho nhân, tổ
chức nào, không bkê biên đthi hành án. Ông H cũng không biết ông P người
đang nghĩa vụ thi hành án cho ông M tiền nợ. Như vậy, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P ông H thật. Hợp chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đã hoàn thành về hình thức và nội dung. Ông P thanh toán đủ
tiền, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đã nhận đất xây nhà,
làm hàng rào toàn bộ khu đất nên ông H người ngay tình được pháp luật bảo vệ
theo quy định tại Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015.
[4] Đối với trình bày của nguyên đơn về thu thập chứng vần đề có cấp
nhầm số thửa đất hay không, thấy rằng do yêu cầu khởi kiện hiệu hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông M không được chấp nhận nên không
xem xét vấn đnày. Ông H chủ thể đang đươc nhà nước công nhận quyền sử
đất được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kiểm tra, điều chỉnh
lại nếu có theo quy định của pháp pháp.
Ông M không chứng minh được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông P và ông H nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án cấp
thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M căn cứ. Ông M kháng
cáo nhưng không cung cấp chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án nên không
có cơ sở chấp nhận. Chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên
tòa.
Những thiếu sót vtố tụng và thu thập chứng cứ mà người đại diện theo ủy
quyền của ông M nêu ra cũng không làm thay đổi bản chất của nội dung vụ án
nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
16
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Huỳnh Văn M được miễn án phí.
[6] Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn M.
Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự thẩm số 414/2025/DS-ST ngày
27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 Tây Ninh.
Căn cứ vào Điều 122, 123, 126, 500, 501, 502, 503 của B luật Dân sự; các
Điều 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn M đối với ông
Nguyễn Tấn P về việc tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
số công chứng 1064, quyển số 04/2025.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/4/2025 tại
Văn phòng C đối với phần đất thửa số 1286, TBĐ số 28, toạ lạc tại ấp G, B,
thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố G, phường B, tỉnh Tây Ninh).
2. Về án phí dân sự thẩm: Ông Huỳnh Văn M được miễn tiền án pdân
sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Tấn P không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về chi phí tố tụng: Ông M phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
là 1.500.000 đồng (ông M đã nộp xong).
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Văn M được miễn án phí.
5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trong trường hợp bản án được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân
sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu
thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
17
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 10 - Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 10-Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án; án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Vân
Tải về
Bản án số 193/2026/DS-PT Bản án số 193/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 193/2026/DS-PT Bản án số 193/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất