Bản án số 01/2026/LĐ-PT ngày 05/02/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2026/LĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 01/2026/LĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2026/LĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2026/LĐ-PT ngày 05/02/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Trị |
| Số hiệu: | 01/2026/LĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Lao động |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về tiền lương, sửa án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 01/2026/LĐ-PT
Ngày 05/02/2026
Về “Tranh chấp tiền lương”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thnh phn Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Thương.
Các Thẩm phán: Ông Phan Hồng Phước;
Ông Trần Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Huệ- Thư k Ta n nhân dân tỉnh
Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Phương Nhung - Kiểm st viên.
Ngày 26 thng 01 năm 2026, tại trụ sở Ta n nhân dân tỉnh Quảng Trị
xét xử phúc thẩm công khai vụ n thụ l số 01/2025/TLPT- LĐ ngày 04 thng
11 năm 2025, về việc“Tranh chấp tiền lương, đòi tiền tạm ứng”.
Do Bản n lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ- ST ngày 12 thng 9 năm
2025 của Ta n nhân dân khu vực 5, tỉnh Quảng Trị, bị khng co, khng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ n ra xét xử phúc thẩm số 02/2025/QĐ-PT ngày
11 thng 12 năm 2025, giữa cc đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh L, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ A, khu
phố A, phường N, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Đức A- Luật sư
thuộc Văn phng L1; địa chỉ: Khu phố I, phường N, tỉnh Quảng Trị (Giấy uỷ
quyền ngày 21/5/2025), có mặt.
2. Bị đơn: Công ty cổ phần G; địa chỉ: Khu công nghiệp Q, xã G, tỉnh
Quảng Trị.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Tấn T- Tổng gim đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H- Luật sư
thuộc Văn phng L2; địa chỉ: Số D T, khu phố A, phường N, tỉnh Quảng Trị
(Giấy ủy quyền ngày 09/6/2025), có mặt.
3. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Anh L là nguyên đơn trong vụ n.
4. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Nguyên đơn ông Nguyễn Anh L trình bày:
Năm 2016, ông Nguyễn Anh L công tác tại Công ty cổ phần G (Viết tắt là
Công ty), với chức vụ Phó Phòng nguyên liệu. Nhằm đp ứng nguyên liệu phục
vụ cho sản xuất kinh doanh của Công ty, ngày 27/5/2016, ông L được Phòng
nguyên liệu phân công thực hiện thu mua, khai thác, vận chuyển diện tích rừng
trồng mua của bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Văn B tại xã C, huyện C, tỉnh
Quảng Trị (cũ). Ông L đã thực hiện hết trách nhiệm đối với công việc được phân
công. Khi khai thác hết toàn bộ lô rừng, toàn bộ số gỗ nguyên liệu nhập về,
Công ty xc định xảy ra lỗ khoảng hơn 1,3 tỷ đồng. Tuy nhiên, giữa Công ty và
ông L chưa thống nhất việc khoản lỗ 1,3 tỷ này thuộc trách nhiệm của ai? cá
nhân ông L hay của Phòng nguyên liệu? nhưng Công ty đã trừ toàn bộ lương,
thưởng của ông L từ thng 4/2017 đến nay, chỉ đóng Bảo hiểm xã hội. Lương
mỗi tháng của ông L tại Công ty sau khi đã trừ tiền đóng Bảo hiểm xã hội là
11.000.000 đồng. Từ thng 4/2017 đến thời điểm khởi kiện tháng 3/2025 (95
tháng); Công ty không trả lương 95 thng x 11.000.000 đồng = 1.045.000.000
đồng. Việc Công ty không chi trả tiền lương cho ông L đã ảnh hưởng trực tiếp
đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông L. Ông L đã gửi đơn đề nghị hoà giải đến
Liên đoàn lao động thành phố Đ để giải quyết tranh chấp giữa Ông với Công ty.
Ngày 09/5/2025, Hoà giải viên lao động đã tiến hành hoà giải nhưng kết quả
không thành.
Ông L khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc Công ty cổ phần G có
nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Anh L, tiền lương từ thng 04 năm 2017 đến tháng
03 năm 2025 là 1.045.000.000 đồng.
Tại phiên ta sơ thẩm, ông Nguyễn Anh L xin rút một phần yêu cầu khởi
kiện đối với số tiền 114.255.154 đồng, chỉ yêu cầu Công ty phải trả tiền lương
tính từ thng 4/2017 đến thng 12/2024 theo bảng tổng hợp tiền lương của Công
ty cung cấp cho Ta n với số tiền 930.744.846 đồng.
Bị đơn Công ty cổ phn G có yêu cu phản tố v trình by ý kiến đối với
yêu cu khởi kiện của nguyên đơn:
Công ty cổ phần G k hợp đồng lao động với ông Nguyễn Anh L, thời hạn của
hợp đồng lao động: Không xc định thời hạn.
Ngày 27/5/2016, Phng Nguyên liệu của Công ty có Giấy đề xuất với nội
dung:“Đã thỏa thuận giá cả mua bán lô rừng Keo tràm của bà Nguyễn Thị H1,
ông Nguyễn Văn B tại xã C, huyện C trồng tháng 9/2010 với diện tích 96ha, trữ
lượng đánh giá 100-110 tấn không bóc vỏ/ha, giá mua rừng (thỏa thuận)
60.000.000 đồng/ha…đề nghị Công ty cho hướng giải quyết”. Sau đó, P Nguyên
liệu giao cho ông L là Phó phng Nguyên liệu của Công ty G chịu trch nhiệm
thực hiện thu mua, khai thc, vận chuyển diện tích rừng Tràm trên. Ngày
29/5/2016, cá nhân ông L (bên B) là bên mua và bà Nguyễn Thị H1, ông
Nguyễn Văn B (Bên A) là bên bn k kết Hợp đồng mua bn rừng trồng sản
xuất với diện tích 96ha, gi mua rừng (thỏa thuận) 60.000.000 đồng/ha. Tổng
gi trị 5.760.000.000 đồng. Ngày 30/5/2016, ông L viết Giấy đề nghị tạm ứng
tiền của Công ty G với nội dung: “…Ngày 29/5/2016 tôi có thỏa thuận, ký kết
hợp đồng mua bán lô rừng trồng Keo tràm của bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn
3
Xuân B1….với diện tích 96ha…..số tiền đề nghị tạm ứng 90% giá trị hợp đồng
là 5.184.000.000 đồng; phương thức hoàn ứng bằng khối lượng gỗ nhập về
Công ty theo giá thông báo tại thời điểm nhập hàng; thời hạn hoàn ứng trong
vòng 90 ngày kể từ ngày chuyển tiền. Tôi xin cam kết đưa toàn bộ khối lượng
sản phẩm gỗ nguyên liệu khai thác từ lô hàng rừng nhập về Công ty và chịu
trách nhiệm trong trường hợp không đạt khối lượng (nộp lại phần còn thiếu)”.
Do Công ty có nhu cầu thu mua nguyên liệu để sản xuất kinh doanh nên
Công ty C2 thỏa thuận cam kết c nhân ban đầu nêu trên của ông L và đồng
cho ông L mượn tiền bằng phương thức tạm ứng và trả tiền cho Công ty bằng
nguyên liệu nhập cho Công ty theo đơn gi Công ty ấn định được thể hiện cam
kết tại mục 3 của Giấy đề nghị tạm ứng chuyển tiền mua rừng ngày 30/5/2016.
Vì vậy, trong giấy đề nghị tạm ứng ngày 30/5/2016 lãnh đạo Công ty ghi duyệt:
“Ghi nợ Nguyễn Anh L”.
Ngày 15/8/2016, ông L tiếp tục viết Giấy đề xuất xin tạm ứng với nội
dung:“Ngày 29/5/2016, tôi có thỏa thuận, ký hợp đồng mua bán lô rừng trồng
Keo Tràm của bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Văn B tại xã C, huyện C trồng
tháng 9/2010 với diện tích 96ha, trữ lượng rừng ước tính khoảng 9.000 tấn, giá
trị sản lượng gỗ của lô rừng tính theo giá thời điểm hiện tại: 9.000 tấn x
840.000 đồng/tấn = 7.560.000.000 đồng…Giá trị đã tạm ứng: Tiền mua rừng
5.184.000.000 đồng; ứng tiền trả khai thác 600.000.000 đồng = 5.684.000.000
đồng. Diện tích đã khai thác khoảng 50%, khối lượng, khối lượng nhập đến hết
ngày 14/8/2016 là 4.357,80 tấn với giá trị ước tính đã hoàn ứng khoảng
3.700.000.000 đồng và đề nghị tạm ứng số tiền 200.000.000 đồng”. Ngày
05/7/2016, ông L tạm ứng số tiền 400.000.000 đồng; ngày 15/7/2016 ông L tạm
ứng số tiền 200.000.000 đồng và ngày 15/8/2016 ông L tạm ứng số tiền
200.000.000 đồng.
Từ ngày 31/5/2016 đến ngày 15/8/2016, Công ty đã cho ông L tạm ứng số
tiền mua rừng là 5.984.000.000 đồng phù hợp với trình bày của ông L thể hiện
tại phiên họp về việc giải quyết đơn kiến nghị của ông L ngày 06/2/2024, đơn
khiếu nại ngày 11/10/2024: “Tôi đứng ra tạm ứng cá nhân với số tiền
5.984.000.000 đồng…”. Ông L đã nhập nguyên liệu gỗ hoàn ứng cho Công ty từ
ngày 30/6/2016 đến 31/8/2017 có gi trị là 4.644.303.800 đồng. Số tiền tạm ứng
mua rừng mà ông L cn nợ Công ty là 1.384.303.800 đồng. Tại Biên bản họp
giải quyết đơn kiến nghị ngày 06/02/2024, ông L trình bày: “…Cá nhân tôi đã
tạm ứng Công ty để thanh toán hợp đồng trên….tính theo giá trị tiền thì bị lỗ
1,34 tỷ đồng…theo cam kết tôi chịu trách nhiệm khoản lỗ này…và đã nộp lại
công ty số tiền 640 triệu đồng”. Ông L đã hoàn ứng mua rừng số tiền
640.000.000 đồng, ông L cn nợ tạm ứng mua rừng của Công ty số tiền
699.696.200 đồng.
Ngoài ra, ông L cn tạm ứng tiền của Công ty cho cc công việc khc với
tổng số tiền 181.385.173 đồng, cụ thể: Năm 2009, ông L tạm ứng đi làm việc
với xã H số tiền 45.095.000 đồng; ngày 30/1/2015, tạm ứng giải quyết khó khăn
số tiền 100.000.000 đồng; ngày 13/12/2022, ngày 28/12/2023, ngày 1/4/2024 và
ngày 03/7/2024 tạm ứng đi công tc tổng số tiền 25.000.000 đồng, trong số
4
25.000.000 đồng này đã hoàn ứng số tiền 13.895.000 đồng, cn nợ tạm ứng
11.105.000 đồng; truy thu tiền bảo hiểm thng 11/2023 số tiền 415.350 đồng;
thuế thu nhập c nhân thng 5/2016 số tiền 1.064.823 đồng và công nợ năm
2015 chuyển qua cn nợ tạm ứng là 9.810.000 đồng. Cn nợ tạm ứng cho cc
công việc khc số tiền 167.490.173 đồng.
Việc c nhân ông L tạm ứng tiền của Công ty để mua bn rừng, hoàn ứng
không đủ nên cn nợ tạm ứng với số tiền 699.696.200 đồng, ông L đã cam kết
thời hạn hoàn ứng trong vng 90 ngày kể từ ngày chuyển tiền, nhưng đến nay
ông L vẫn không cung cấp được chứng từ hoàn tạm ứng cho Công ty. Ông L còn
tạm ứng tiền cho cc công việc khc với tổng số tiền 167.490.173 đồng cũng
không có chứng từ hoàn ứng. Theo quy định của Luật kế toán khoản 1 Điều 22
Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ T2 hướng dẫn chế độ
kế ton doanh nghiệp thì ông L là người được Công ty cho tạm ứng tiền để giải
quyết công việc đã được Công ty đồng , nhưng khi giải quyết xong công việc
ông L đã không thực hiện thủ tục hoàn ứng theo quy định của Bộ T2 hướng dẫn
chế độ kế ton doanh nghiệp và ông L không xuất trình được hóa đơn, chứng từ
gốc, chứng cứ chứng minh về việc đã sử dụng hết số tiền đang nợ tạm ứng
867.186.373 đồng thì phải có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền tạm ứng cn nợ cho
Công ty.
Vì vậy, Công ty cổ phần G có yêu cầu phản tố đề nghị Ta n giải quyết
buộc ông Nguyễn Anh L phải trả cho Công ty số tiền 867.186.373 đồng.
Ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện: Do ông Nguyễn Anh L cn nợ tiền tạm
ứng của Công ty chưa trả với tổng số tiền 867.186.373 đồng, Công ty nhiều lần
yêu cầu ông Nguyễn Anh L trả nợ, nhưng không trả và theo cc đơn đề nghị của
ông L đồng đề nghị Công ty khấu trừ 30% lương. Theo đơn trình bày của
Công ty đề ngày 25/6/2025 do có sự nhầm lẫn về thời gian thu lương nên Công
ty xin sửa đổi, bổ sung như sau: Theo đơn khởi kiện của ông L yêu cầu trả lại
tiền lương tính từ thng 4/2017 đến thng 3/2025 là 95 thng x 11.000.000 đồng
= 1.045.000.000 đồng. Công ty cung cấp bảng lương của ông L được hưởng
theo ngày công lao động cùng tiền thưởng tính từ thng 4/2017 đến thng
12/2024 với tổng số tiền lương mà Công ty đã trừ là 930.744.846 đồng (có bảng
lương kèm theo). Thực tế, có thng Công ty chỉ đồng khấu trừ một phần, số
tiền cn lại Công ty chuyển vào số tài khoản của ông L. Vì vậy, Công ty đồng
trả số tiền lương trên cho ông Nguyễn Anh L. Cn việc ông L cho rằng mức
lương mỗi thng 11.000.000 đồng là không có cơ sở.
Ngày 06/01/2025, ông L có đơn xin nghỉ ốm và điều trị bệnh từ 07/1/2025
cho đến khi bình phục. Công ty nhiều lần thông bo ông L cung cấp bệnh n để
Công ty làm chế độ ốm đau dài ngày theo Luật Bảo hiểm xã hội cho ông L,
nhưng ông L không cung cấp nên Công ty không có cơ sở làm chế độ hưởng
lương bảo hiểm xã hội cho ông L. Vì vậy, từ thng 01/2025 đến nay ông L
không làm việc nên Công ty không có cơ sở để trả lương.
* Đối với yêu cầu số tiền lãi chậm thanh ton tính từ ngày Ta n thụ l
tạm tính từ ngày 18/6/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm tạm tính đến ngày
5
18/7/2025 (01 thng) với mức lãi suất 10%/năm là 7.226.553 đồng, Công ty xin
rút phần yêu cầu này.
* Tại phiên ta sơ thẩm, Công ty rút một phần yêu cầu phản tố với số tiền
93.744.823 đồng trong tổng số tiền yêu cầu ông L phải trả do tạm ứng cho các
công việc khc là 167.490.173 đồng, chỉ yêu cầu ông L phải trả cho Công ty số
tiền 73.745.350 đồng.
Tổng cộng ông L phải trả 699.696.200 đồng + 73.745.350 đồng =
773.441.550 đồng.
Đối với yêu cầu phản tố của Công ty, ông L có ý kiến như sau:
Để thực hiện nhiệm vụ được phân công, ông L k kết hợp đồng mua bn
rừng trồng sản xuất với trị gi 5.760.000.000 đồng. Sau đó, ông L tạm ứng tiền
để thực hiện hợp đồng trên với tổng số tiền 5.984.000.000 đồng. Đợt ông L tạm
ứng số tiền 5.784.000.000 đồng và trong giấy đề nghị tạm ứng chuyển tiền mua
rừng ngày 30/5/2016 kế ton của Công ty yêu cầu ông L phải ghi nội dung:
Hoàn ứng bằng khối lượng gỗ nhập về Công ty. Đợt 2 ông L tạm ứng số tiền
200.000.000 đồng và chứng từ chuyển tiền của Công ty T3 rõ “tạm ứng đợt 2
thanh toán chi phí khai thác, vận chuyển gỗ nguyên liệu”. Toàn bộ số tiền ông L
tạm ứng để phục vụ Công ty, ông L không sử dụng vào mục đích c nhân và
Công ty cũng không có quy định về việc cho nhân viên Công ty mượn tiền để sử
dụng vào mục đích c nhân.
Sau đó, Công ty cho rằng, ông L thực hiện việc thu mua để xảy ra lỗ số
tiền 1.34 tỷ đồng. Như vậy, Công ty xc định trong qu trình làm việc ông L có
hành vi gây thiệt hại tài sản cho Công ty nên phải bồi thường cho Công ty số
tiền 1.34 tỷ đồng. Căn cứ quy định tại Điều 129, Điều 130 Bộ luật lao động nếu
trong quá trình làm việc ông L gây thiệt hại về tài sản của người sử dụng lao
động thì ông L phải bồi thường thiệt hại cho Công ty. Tại Điều 71 Nghị định số
145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính Phủ quy định về trình tự, thủ tục
xử l bồi thường thiệt hại thì khi xảy ra thiệt hại Công ty phải yêu cầu ông L
tường trình sự việc. Sau đó, Công ty phải tiến hành họp xử l bồi thường thiệt
hại và ra quyết định xử l bồi thường thiệt hại. Căn cứ vào quyết định này Công
ty mới buộc ông L phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và ông L có quyền
khiếu nại quyết định hoặc khởi kiện yêu cầu Ta n buộc Công ty thu hồi quyết
định xử l bồi thường thiệt hại nếu quyết định này không đúng, nhưng Công ty
không thực hiện đúng theo trình tự quy định trên dẫn đến quyền lợi của ông L bị
xâm phạm.
Ngày 25/6/2025, Công ty có yêu cầu phản tố buộc ông L phải bồi thường
thiệt hại là không đúng vì thời hiệu xử l bồi thường thiệt hại đã hết theo quy
định tại khoản 1 Điều 72 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của
Chính Phủ quy định thời hiệu xử l bồi thường thiệt hại là 06 thng kể từ ngày
ông L có hành vi gây thiệt hại cho Công ty, nhưng đến ngày 25/6/2025 sau gần
10 năm Công ty mới có yêu cầu phản tố buộc ông L phải bồi thường thiệt hại là
đã hết thời hiệu nên Công ty không thể yêu cầu ông L bồi thường thiệt hại theo
quy định php luật. Trong số tiền 167.490.173 đồng thì có số tiền tạm ứng
100.000.000 đồng ngày 30/01/2015, công ty đã trừ lương đến thng 4/2017 và
6
công ty cũng không có văn bản yêu cầu ông L trả khoản tạm ứng cn lại này. Vì
vậy, việc Công ty yêu cầu phản tố buộc ông L phải trả số tiền 874.412.926 đồng
tiền bồi thường thiệt hại là không có căn cứ. Đề nghị Ta n đình chỉ yêu cầu
phản tố của bị đơn.
Công ty G trình bày: Việc ông L tạm ứng tiền của Công ty, nhưng không
hoàn ứng thì phải có nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền đã tạm ứng của Công ty. Đây
không phải yêu cầu bồi thường thiệt hại và không có hành vi gây thiệt hại hay vi
phạm nghĩa vụ nào cần phải bồi thường thiệt hại để p dụng thời hiệu xử l bồi
thường thiệt hại theo quy định của Luật lao động nên Công ty không chấp nhận
kiến trên của ông L.
Với những nội dung trên,
Tại Bản án lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ- ST ngày 12 tháng 9 năm
2025, Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm
đ khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 13, Điều 14, Điều 18, Điều 20, Điều
21, Điều 90, Điều 94, Điều 95 của Bộ luật lao động năm 2019; khoản 1 Điều 22
Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ T2 hướng dẫn chế độ
kế ton doanh nghiệp; khoản 2, khoản 5 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về n phí và lệ
phí Ta n, tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử:
+ Đối với phần ông Nguyễn Anh L rút một phần yêu cầu khởi kiện với số
tiền 114.255.154 đồng.
+ Đối với phần Công ty G rút một phần yêu cầu phản tố với số tiền
93.744.823 đồng và yêu cầu trả tiền lãi 7.226.553 đồng, tổng cộng 100.971.376
đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Anh L:
Buộc Công ty cổ Phần G trả cho ông Nguyễn Anh L tiền lương tính từ
thng 4/2017 đến thng 12/2024 với tổng số tiền 930.744.846 đồng.
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty cổ Phần G:
Buộc ông Nguyễn Anh L phải trả cho Công ty cổ Phần G số tiền
773.441.550 đồng, trong đó: T1 tạm ứng mua rừng là 699.696.200 đồng, tiền
tạm ứng khc 73.745.350 đồng.
Ngoài ra, bản n sơ thẩm cn quyết định về n phí, chi phí tố tụng, quyền,
nghĩa vụ thi hành n và quyền khng co theo quy định của php luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 23/09/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Anh L khng co 1 phần bản
n sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày
12/9/2025 của Toà n nhân dân Khu vực 5- Quảng Trị theo hướng đình chỉ yêu
cầu phản tố của bị đơn.
- Quyết định khng nghị phúc thẩm số 60/QĐ-VKS-LĐ ngày 10/10/2025
của Viện trưởng Viện kiểm st nhân dân tỉnh Quảng Trị: Đề nghị hủy một phần
Bản n lao động sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 12/9/2025 ngày 12/9/2025 của
7
Toà n nhân dân Khu vực 5- Quảng Trị đối với phần buộc ông Nguyễn Anh L
phải trả cho Công ty cổ phần G VRG số tiền tạm ứng mua rừng là 699.696.200
đồng; giao hồ sơ vụ n cho Ta n nhân dân Khu vực 5 giải quyết lại theo thủ
tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn thay đổi nội dung khng co, đề nghị Hội đồng xét xử sửa
một phần bản n sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị
đơn buộc nguyên đơn phải có nghĩa vụ trả số tiền 699.969.000 đồng.
- Viện kiểm st nhân dân tỉnh Quảng Trị thay đổi nội dung khng nghị, đề nghị
sửa một phần bản n sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn phần
buộc ông Nguyễn Anh L phải trả cho Công ty cổ phần G VRG số tiền tạm ứng
mua rừng là 699.696.200 đồng.
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và khng co, bị đơn giữ nguyên
yêu cầu phản tố; Viện kiểm st nhân dân tỉnh Quảng Trị không rút khng nghị,
cc đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ n và đề nghị xét xử
theo quy định của php luật.
Phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:
Về thủ tục tố tụng: Trong qu trình giải quyết vụ n cũng như tại phiên
ta, Thẩm phn, Thư k, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng theo trình tự thủ
tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và
nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa
thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 298, khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều
309 BLTTDS; Điều 129, 130 Bộ luật Lao động năm 2019; Khoản 1 Điều 22
Thông tư số 200/2014/TT- 6BTC ngày 22/12/2014 của Bộ T2 hướng dẫn chế độ
kế ton doanh nghiệp; khoản 5 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của UBTVQH quy định về n phí và lệ phí Ta n, sửa một phần
Bản n sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST ngày 12/9/2025 của Ta n nhân dân khu
vực 5 theo hướng:
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty G về việc buộc ông
Nguyễn Anh L phải trả cho Công ty G số tiền tạm ứng mua rừng là 699.696.200
đồng.
- Xc định lại n phí sơ thẩm: Buộc Công ty G chịu n phí theo quy định.
- Giữ nguyên cc nội dung khc của Bản n sơ thẩm số 01/2025/LĐ-ST
ngày 12/9/2025 của Ta n nhân dân khu vực 5, tỉnh Quảng Trị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào cc tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên ta, kết quả
tranh tụng tại phiên ta, kiến của Kiểm st viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ php luật tranh chấp: Ông Nguyễn Anh L khởi kiện yêu cầu
Công ty cổ phần G trả tiền lương; bị đơn Công ty có yêu cầu phản tố buộc ông L
8
hoàn trả tiền đã tạm ứng. Ta n cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 26 và Điều
32 Bộ luật tố tụng dân sự xc định quan hệ “ Tranh chấp về tiền lương và đòi
tiền tạm ứng” là đúng php luật.
[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty cổ phần G có trụ sở tại tỉnh
Quảng Trị; tranh chấp pht sinh từ quan hệ lao động. Ta n nhân dân khu vực 5
thụ l, giải quyết vụ n sơ thẩm theo quy định tại Điều 35 và điểm đ khoản 1
Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự là đúng thẩm quyền;
[1.3] Đối với rút một phần yêu cầu khởi kiện và yêu cầu phản tố:
+ Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 114.255.154
đồng.
+ Bị đơn rút một phần yêu cầu phản tố đối với số tiền 93.744.823 đồng và
tiền lãi 7.226.553 đồng, tổng cộng 100.971.376 đồng.
Ta n cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đốivới cc yêu cầu nêu trên là đúng
quy định php luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Anh L là người lao động của Công ty cổ phần G, giữ chức
vụ Phó phng Nguyên liệu, được Công ty phân công trực tiếp thực hiện việc thu
mua, khai thc, vận chuyển rừng trồng nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh
doanh của Công ty. Việc ông L k kết hợp đồng mua bn rừng trồng sản xuất
với bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn B được thực hiện theo sự phân công,
chỉ đạo của Công ty, nhằm thực hiện nhiệm vụ được giao, không phải giao dịch
dân sự độc lập vì mục đích c nhân của ông L.
Khoản tiền mà Công ty giao cho ông L thông qua cc giấy đề nghị tạm
ứng trong cc ngày 30/5/2016, 05/7/2016, 15/7/2016 và ngày 15/8/2016 pht
sinh trong qu trình thực hiện công việc theo sự phân công, được sử dụng cho
việc mua rừng, khai thc, vận chuyển gỗ nguyên liệu cho Công ty. Do đó, không
có căn cứ xc định đây là quan hệ tạm ứng tiền c nhân giữa ông L và Công ty.
Tuy nhiên, từ thng 4/2017, Công ty đã tự khấu trừ toàn bộ tiền lương,
tiền thưởng của ông L để cấn trừ vào khoản tiền mà Công ty cho rằng ông L còn
nợ, trong khi không có quyết định xử l bồi thường thiệt hại hợp php, xâm
phạm nghiêm trọng quyền được trả lương của người lao động theo quy định của
Bộ luật Lao động. Việc Công ty K toàn bộ tiền lương của ông L trong thời gian
dài mà không có quyết định xử l trch nhiệm vật chất hợp php là xâm phạm
nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp php của người lao động.
Công ty T4 đã khấu trừ của ông L từ thng 4/2017 đến thng 12/2024 là
930.744.846 đồng và đồng trả cho ông L số tiền này, phía ông L cũng chấp
nhận. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định của php luật tố
tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, cc bên không có khng co, không có
kiến tranh luận và không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới đối với nội dung
tiền lương nên Hội đồng xét xử không xem xét lại và giữ nguyên quyết định của
bản n sơ thẩm đối với phần này.
[2.2] Xem xét khng co của nguyên đơn:
9
Ngày 27/5/2016, Phng Nguyên liệu Công ty cổ phần G có Giấy đề xuất
tổ chức mua, khai thc rừng trồng nguyên liệu là lô rừng keo tràm của bà
Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Xuân B1 tại xã C, huyện C (cũ) sau khi Phng
Nguyên liệu đã tìm kiếm, cắt cử cn bộ đi khảo st, đnh gi trữ lượng, chi phí
khai thc, gi cả…đối với diện tích 96 ha, đồng thời đưa ra phương thức quản l
việc cử cn bộ theo dõi, gim st và hàng ngày bo co tiến độ cho Lãnh đạo
Công ty. Dưới đề xuất của Phng, Lãnh đạo Công ty phê duyệt:
“- Công ty thu hồi vốn đầu tư bằng gỗ nguyên liệu, Phòng Nguyên liệu
chịu trách nhiệm về khoản tiền tạm ứng của Công ty (Họp phân công người có
trách nhiệm cụ thể)
- Ông Nguyễn Văn C chịu trách nhiệm bảo lãnh số tiền trên”.
Sau khi có phê duyệt của lãnh đạo công ty, Phng nguyên liệu phân công:
“Ngày 27/5/2016, phòng nguyên liệu họp thống nhất giao cho đ/c Nguyễn Anh L
phó Phòng chịu trách nhiệm thực hiện thu mua, khai thác, vận chuyển diện tích
rừng trồng trên, sau khi Hợp đồng được ký kết”.
Ngày 29/5/2016, tại Công ty cổ phần G, ông Nguyễn Anh L trực tiếp k
kết Hợp đồng mua bn rừng với bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Xuân B1 với
gi cả (60.000.000 đồng/ha) theo khảo st như đề xuất của Công ty.
Ngày 30/5/2016, ông Nguyễn Anh L có Giấy đề nghị tạm ứng chuyển tiền
mua rừng, với 90% gi trị hợp đồng số tiền 5.184.000.000 đồng, duyệt của Lãnh
đạo “ghi nợ Nguyễn Anh L”, số tiền tạm ứng Công ty chuyển trực tiếp vào tài
khoản của người bn là bà H1, ông B1. Ủy nhiệm chi ngày 31/5/2016 với nội
dung “vay ngắn hạn trả tiền thu mua rừng nguyên liệu”.
Như vậy, việc ông Nguyễn Anh L được giao đứng ra k kết hợp đồng mua
rừng với với bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Xuân B1 chỉ là thực hiện nhiệm vụ
được phân công trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty. Số tiền ông
L tạm ứng là vốn của Công ty sử dụng cho hoạt động thu mua nguyên liệu,
không phải khoản tiền tạm ứng giao cho c nhân ông L quản l, sử dụng theo
nghĩa thông thường của quan hệ tạm ứng- hoàn ứng.
Đối với Giấy đề nghị tạm ứng ngày 30/5/2016 của ông L, mặc dù có nội
dung hoàn ứng bằng khối lượng gỗ nhập kho và cam kết chịu trch nhiệm trong
trường hợp không đạt sản lượng, song hồ sơ vụ n không thể hiện giữa Công ty
G và ông L có thỏa thuận giao khon sản lượng, giao khon gi trị hoặc thỏa
thuận chuyển giao toàn bộ rủi ro kinh doanh và nghĩa vụ tài chính từ doanh
nghiệp sang c nhân người lao động. Tại phiên ta phúc thẩm, đại diện theo ủy
quyền của Công ty cho rằng c nhân ông L xin (bằng lời nói) đứng ra khai thc
và được Công ty đồng , nhưng ông L không thừa nhận. Do đó, nội dung cam
kết này không đủ cơ sở để xc lập nghĩa vụ c nhân của ông L.
Đối với nguyên nhân chênh lệch giữa số tiền đã ứng và gi trị gỗ nguyên
liệu thực nhập kho xuất pht từ việc đnh gi trữ lượng rừng ban đầu của Phng
nguyên liệu chưa chính xc, chi phí khai thc và vận chuyển tăng cao, gi thu
mua gỗ của Công ty giảm so với thời điểm k hợp đồng. Đây là cc rủi ro khch
quan trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty.
10
Khoản tiền pht sinh trong vụ việc được sử dụng phục vụ trực tiếp cho
hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty; toàn bộ gỗ nguyên liệu sau khai
thc đều được nhập kho Công ty, do Công ty T5 quản l, sử dụng và hưởng lợi.
Việc ông L đứng tên k hợp đồng mua rừng không làm pht sinh quan hệ dân sự
độc lập giữa ông L và Công ty, mà chỉ là hành vi thực hiện công việc theo sự
phân công trong quan hệ lao động.
Nội dung phê duyệt ngày 27/5/2016, nêu:“Công ty thu hồi vốn đầu tư
bằng gỗ nguyên liệu, Phòng Nguyên liệu chịu trách nhiệm về khoản tiền tạm
ứng của Công ty (Họp phân công người có trách nhiệm cụ thể)” chỉ xc lập
trch nhiệm quản l, tổ chức thực hiện trong nội bộ doanh nghiệp, không thể
hiện việc giao khon sản lượng, giao khon gi trị hoặc chuyển giao rủi ro kinh
doanh cho cá nhân ông L. Việc Ta n cấp sơ thẩm trích dẫn, diễn giải cụm từ
“…chịu trách nhiệm về khoán…” là không đúng tài liệu trong hồ sơ, từ đó buộc
ông L chịu trch nhiệm đối với c nhân là không có căn cứ.
Công ty không chứng minh được ông L có lỗi trong qu trình thực hiện
nhiệm vụ; không chứng minh được ông L chiếm giữ, sử dụng sai mục đích
khoản tiền hoặc gây thiệt hại do vi phạm kỷ luật lao động. Ông L trình bày nhận
trch nhiệm trong bối cảnh lo ngại ảnh hưởng đến việc làm không đủ điều kiện
php l để xc lập trch nhiệm vật chất của người lao động.
Ta n cấp sơ thẩm p dụng Luật Kế ton và Thông tư số 200/2014/TT-
BTC để giải quyết tranh chấp là chưa phù hợp, vì cc quy định này chỉ điều
chỉnh công tc hạch ton, quản l tài chính nội bộ doanh nghiệp, không phải căn
cứ xc lập nghĩa vụ tài sản của người lao động; trong trường hợp này cần ưu tiên
p dụng php luật lao động.
Ngoài ra, Công ty không thực hiện quyết ton, đối chiếu và xử l khoản
tạm ứng kịp thời sau khi kết thúc việc khai thc, nhập kho; việc kéo dài nhiều
năm rồi mới yêu cầu người lao động hoàn trả toàn bộ khoản chênh lệch là không
phù hợp với nguyên tắc quản l tài chính.
Từ cc phân tích trên, có đủ căn cứ xc định việc chấp nhận toàn bộ yêu
cầu phản tố của Công ty là không có cơ sở. Do đó, chấp nhận khng co của ông
Nguyễn Anh L, sửa bản n sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản
tố của Công ty cổ phần G đối với yêu cầu buộc ông L hoàn trả khoản tiền
699.696.200 đồng.
[2.3] Xét khng nghị của Viện kiểm st nhân dân tỉnh Quảng Trị:
Tại giai đoạn phúc thẩm, Ta n cấp phúc thẩm đã tiến hành thu thập bổ
sung đầy đủ cc tài liệu, chứng cứ liên quan theo đúng thẩm quyền và trình tự tố
tụng; đồng thời xem xét toàn diện lời trình bày của cc bên đương sự, kiến của
đại diện Viện kiểm st và cc tài liệu có trong hồ sơ vụ n. Trên cơ sở đó, đã
làm rõ được bản chất quan hệ php l giữa ông L và Công ty là quan hệ lao
động; làm rõ mục đích, phạm vi và tính chất của khoản tiền tạm ứng; cũng như
nguyên nhân pht sinh khoản chênh lệch tài chính là rủi ro trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, không phải là thiệt hại do lỗi của người lao
động, ngoài ra đã tiến hành làm việc với ông Nguyễn Anh C1- Nguyên Phó tổng
gim đốc công ty xc định được phạm vi bảo lãnh của ông trong khoản tiền tạm
11
ứng xc định không có căn cứ xc lập nghĩa vụ c nhân của ông L cũng như của
ông C1 đối với toàn bộ khoản chênh lệch theo yêu cầu phản tố của Công ty. Ông
Trần Xuân Đ- Nguyên Trưởng phng nguyên liệu, Ta n tiến hành lập biên bản
làm việc nhưng ông Đ từ chối đồng thời Ta n triệu tập đến làm việc, ông
không chấp hành do đó không thể tiến hành lấy lời khai.
Mặc dù có thiếu sót trong việc thu thập và đnh gi chứng cứ ở cấp sơ
thẩm, nhưng những thiếu sót này đã được khắc phục đầy đủ tại giai đoạn phúc
thẩm; cc tình tiết của vụ n đã được làm rõ như đã phân tích ở mục [2.2], do
đó, có căn cứ chấp nhận khng nghị của Viện kiểm st nhân dân tỉnh Quảng Trị,
sửa một phần bản n lao động sơ thẩm, không chấp nhận phản tố của bị đơn
buộc nguyên đơn hoàn trả số tiền 699.696.200 đồng.
[2.4] Đối với phần phản tố của bị đơn yêu cầu ông Nguyễn Anh L trả số
tiền 73.745.350 đồng tạm ứng c nhân, số tiền này nguyên đơn có khng co
nhưng tại phiên ta phúc thẩm nguyên đơn rút yêu cầu này, Viện kiểm st không
khng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và giữ nguyên theo bản n sơ
thẩm.
[3] Từ những phân tích, đnh gi nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận
khng co của nguyên đơn, chấp nhận khng nghị của Viện kiểm st nhân dân
tỉnh Quảng Trị; sửa bản n sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản
tố của bị đơn buộc nguyên đơn hoàn trả số tiền 699.696.200 đồng.
[4] Về n phí: Do khng co của nguyên đơn được chấp nhận nên sửa
phần n phí dân sự sơ thẩm và nguyên đơn không phải chịu n phí dân sự phúc
thẩm theo quy định của php luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận
khng nghị của Viện kiểm st nhân dân tỉnh Quảng Trị, chấp nhận khng co
của nguyên đơn ông Nguyễn Anh L; sửa bản n sơ thẩm.
Căn cứ Điều 32; Điều 147, Điều 148, Điều 200; Điều 217, Điều 244 Bộ
luật Tố tụng dân sự; Điều 13, Điều 90, Điều 94, Điều 95 và Điều 129 của Bộ
luật lao động năm 2019; khoản 2 và khoản 5 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng n phí và lệ
phí Ta n, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Anh L:
Buộc Công ty cổ phần G trả cho ông Nguyễn Anh L tiền lương tính từ
thng 4/2017 đến thng 12/2024, số tiền 930.744.846 đồng (Chín trăm ba mươi
triệu, bảy trăm bốn mươi bốn nghìn, tám trăm bốn mươi sáu đồng).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty cổ phần G:
+ Buộc ông Nguyễn Anh L có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ Phần G số tiền
73.745.350 đồng (Bảy mươi ba triệu, bảy trăm bốn mươi lăm nghìn, ba trăm
năm mươi đồng).
12
+ Không chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ Phần G buộc ông Nguyễn
Anh L trả số tiền 699.696.200 đồng (Sáu trăm chín mươi chín triệu, sáu trăm
chín mươi sáu nghìn, hai trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều
9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án.
3. Đình chỉ xét xử:
+ Đối với phần ông Nguyễn Anh L rút một phần yêu cầu khởi kiện số
tiền 114.255.154 đồng (Một trăm mười bốn triệu, hai trăm năm mươi lăm nghìn,
một trăm năm mươi tư đồng).
+ Đối với phần Công ty G rút một phần yêu cầu phản tố số tiền
93.744.823 đồng và yêu cầu trả tiền lãi 7.226.553 đồng, tổng cộng 100.971.376
đồng (Một trăm triệu, chín trăm bảy mươi mốt nghìn, ba trăm bảy mươi sáu
đồng).
4. Về n phí:
[4.1]. Án phí sơ thẩm:
- Buộc ông Nguyễn Anh L phải chịu 3.687.000 đồng n phí lao động sơ
thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng n phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng
theo Biên lai thu tạm ứng n phí số 0000619 ngày 08/10/2025 của Thi hành n
dân sự tỉnh Quảng Trị. Ông L cn phải nộp 3.387.000 (Ba triệu ba trăm tám
mươi bảy nghìn) đồng,
- Buộc Công ty cổ phần G phải chịu 60.013.000 đồng n phí lao động sơ
thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng n phí đã nộp 10.744.000 đồng theo
Biên lai thu tạm ứng n phí số 0000760 ngày 14/7/2025 của Thi hành n dân sự
tỉnh Quảng Trị. Công ty cổ Phần G cn phải nộp 49.269.000 (Bốn mươi chín
triệu, hai trăm sáu mươi chín nghìn) đồng.
[4.2]. Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Anh L không phải chịu n phí lao
động phúc thẩm.
5. Cc quyết định khc của bản n sơ thẩm có hiệu lực php luật kể từ
ngày hết thời hạn khng co, khng nghị.
Bản n phúc thẩm có hiệu lực php luật kể từ ngày tuyên n./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- TAND KV5- Quảng Trị;
- THADS Quảng Trị;
- VKSND KV5- Quảng Trị;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
13
- Cc đương sự;
- Phòng KTNV;
- Tổ HCTP;
- Lưu hồ sơ vụ n.
Đoàn Thị Kim Thương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng