Bản án số 133/2026/DS-PT ngày 06/02/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 133/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 133/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 133/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 133/2026/DS-PT ngày 06/02/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 133/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/02/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 133/2026/DS-PT
Ngày: 06-02-2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và yêu cầu mở lối đi”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Quang Thông
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Tôn
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Vũ Đình Quang - Thư k Tòa án nhân dân tỉnh
Đng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04/02 và ngày 06/02/2026 tại trụ sở 1 Tòa án nhân dân tỉnh
Đng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số: 1068/2025/TLPT-
DS ngày 31 tháng 12 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và yêu cầu mở lối đi”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 219/2025/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 547/2026/QĐ-PT ngày
19 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Nguyễn Trung H, sinh năm 1995.
1.2. Ngô Thị V, sinh năm 1974.
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã Đ, tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Trung H, bà Ngô Thị V: Chị
Phan Thị Ngọc N, sinh năm 1985 (Có mặt). Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đng Tháp
(Hợp đng ủy quyền ngày 04/11/2024).
2. Bị đơn:
2
2.1. Nguyễn Thị M, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị M: Ông Nguyễn Văn G,
sinh năm 1944 (Có mặt). Địa chỉ: Số F, Rạch G, phường M, tỉnh Đng Tháp
(Giấy ủy quyền ngày 18/9/2025).
2.2. Nguyễn Thị Anh T, sinh năm 1993 (Có mặt).
2.3. Nguyễn Hoàng Quốc T1, sinh năm 2001 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã Đ, tỉnh Đng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1993 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.2. Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1997 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp L, xã Đ, tỉnh Đng Tháp.
4. Người kháng cáo: Anh Nguyễn Trung H, bà Ngô Thị V là nguyên đơn
và bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1 là bị
đơn trong vụ án.
NỘI DUNG V ÁN:
Nguyên đơn anh Nguyễn Trung H và bà Ngô Thị V có chị Phan Thị Ngọc
N là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà Ngô Thị V là vợ ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1970 (chết năm 2016).
Ông Đ và bà V có 03 người con là anh Nguyễn Trung H, chị Nguyễn Thị Thùy
D, chị Nguyễn Thị Thùy T2.
Ngày 31/5/2012, bà V và ông Đ có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn
Văn M1 và bà Nguyễn Thị Mai M2 phần đất để làm lối đi diện tích 60m
2
, có chiều
ngang 01m, chiều dài từ thửa đất số 613, tờ bản đ số 12, diện tích 850,2m
2
, theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất số CH02247 do Ủy ban nhân dân
(UBND) huyện G cấp ngày 20/12/2013 cho ông Nguyễn Văn Đ, được chỉnh l tại
mục IV cho anh Nguyễn Trung H ngày 20/9/2016 đi qua thửa đất số 25, tờ bản
đ số 12, diện tích 2.217,4m
2
, theo giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS08623 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh T cấp ngày 17/7/2020 cho bà Nguyễn Thị M và thửa đất số 640, tờ bản đ số
12, diện tích 844,4m
2
, theo giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số CS07690 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp
ngày 21/12/2018 cho bà Nguyễn Thị M ra đường số I, được đo đạc thực tế có diện
tích 52,8m
2
, theo phiếu đo đạc chỉnh l thửa đất ngày 22/5/2025 của Chi nhánh
Văn phòng đăng k đất đai huyện G. Đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền
Giang. Lúc nhận chuyển nhượng QSD đất có lập Tờ cam kết viết tay ngày
31/5/2012, giá chuyển nhượng là 5.000.000 đng. Ông M1, bà M đã nhận đủ tiền
và đã giao đất cho ông Đ, bà V sử dụng đất làm lối đi.
3
Từ năm 2012, gia đình ông Đ, bà V sử dụng lối đi này, có trán bê tông chiều
ngang 50cm.
Năm 2016, ông Đ chết, thửa đất 613, tờ bản đ số 12, diện tích 850,2m
2
,
gia đình bà V thống nhất để cho anh Nguyễn Trung H nhận di sản thừa kế và đứng
tên giấy chứng nhận QSD đất.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Phan Thị Ngọc N là người đại diện theo ủy quyền
của bà Ngô Thị V và anh Nguyễn Trung H yêu cầu như sau:
- Bà Ngô Thị V yêu cầu công nhận hợp đng chuyển nhượng QSD đất theo
Tờ cam kết viết tay xác lập ngày 31/5/2012, giữa ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn
Thị M với ông Nguyễn Văn Đ. Yêu cầu bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh
T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1 phải tiếp tục thực hiện hợp đng chuyển nhượng
QSD đất, đối với diện tích đất 52,8m
2
, có chiều ngang 01m, chiều dài từ thửa đất
613, tờ bản đ số 12, diện tích 850,2m
2
theo giấy chứng nhận QSD đất số
CH02247 do UBND huyện G cấp ngày 20/12/2013, chỉnh l tại mục IV cho anh
Nguyễn Trung H ngày 20/9/2016 đi qua một phần thửa đất số 25, tờ bản đ số 12,
diện tích 2.217,4m
2
, theo giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CS08623 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ) cấp ngày 17/7/2020 cho bà Nguyễn Thị
M và thửa đất số 640, tờ bản đ số 12, diện tích 844,4m
2
, theo giấy chứng nhận
QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS07690 do Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ)
cấp ngày 21/12/2018 cho bà Nguyễn Thị M ra đường số I, được đo đạc theo phiếu
đo đạc chỉnh l thửa đất ngày 22/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng k đất
đai huyện G (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ1); đất tọa lạc ấp B, xã B, huyện G,
tỉnh Tiền Giang (nay là ấp B, xã Đ, tỉnh Đng Tháp).
Bà Ngô Thị V đng tặng cho anh Nguyễn Trung H diện tích đất 52,8m
2
nên trên để làm lối đi.
- Anh Nguyễn Trung H yêu cầu bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T,
anh Nguyễn Hoàng Quốc T1 phải mở lối đi diện tích 52,8m
2
, có chiều ngang 01m,
chiều dài từ thửa đất 613, tờ bản đ số 12, diện tích 850,2m
2
theo giấy chứng nhận
QSD đất số CH02247 do UBND huyện G cấp ngày 20/12/2013, chỉnh l tại mục
IV cho anh Nguyễn Trung H ngày 20/9/2016 đi qua thửa đất số 25, tờ bản đ số
12, diện tích 2.217,4m
2
, theo giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số CS08623 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T
(nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ) cấp ngày 17/7/2020 cho bà Nguyễn
Thị M và thửa đất số 640, tờ bản đ số 12, diện tích 844,4m
2
, theo giấy chứng
nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS07690 do
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh
Đ) cấp ngày 21/12/2018 cho bà Nguyễn Thị M ra đường số I, được đo đạc theo
phiếu đo đạc chỉnh l thửa đất ngày 22/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng k
4
đất đai huyện G (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ1). Đất tọa lạc ấp B, xã B, huyện
G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp B, xã Đ, tỉnh Đng Tháp).
Yêu cầu tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2024/QĐ-BPKCTT ngày
03/10/2024, về việc: “Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định” đối với bà
Nguyễn Thị M cho đến khi án có hiệu lực pháp luật để đảm bảo thi hành án.
Thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng
Quốc T1 trình bày:
Bà Nguyễn Thị M đang đứng tên giấy chứng nhận QSD đất, đối với các
thửa đất 25, tờ bản đ số 12, diện tích 2.217,4m
2
, theo giấy chứng nhận QSD đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS08623 do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh T cấp ngày 17/7/2020 cho bà Nguyễn Thị M và thửa đất số
640, tờ bản đ số 12, diện tích 844,4m
2
, theo giấy chứng nhận QSD đất quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS07690 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh T cấp ngày 21/12/2018 cho bà Nguyễn Thị M, đất tại ấp B, xã B,
huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp B, xã Đ, tỉnh Đng Tháp). Bà M, chị T, anh
T1 hoàn toàn không biết, cũng không có k tên, ghi họ tên trong Tờ cam kết ngày
31/5/2012, vì bà M không biết chữ nên Tờ cam kết ngày 31/5/2012 không có giá
trị pháp l, chứng minh ông M1, bà M chuyển nhượng đất cho ông Đ. Bà M không
có nhận số tiền nào của ông Đ, sau khi ông M1 chết, mới nghe nói ông M1 đã bán
cho ông Đ diện tích đất 40m
2
, giá 5.000.000 đng.
Bà M, chị T, anh T1 không đng anh H yêu cầu mở lối đi trên thửa đất số
25 và thửa đất số 640 của bà M đứng tên giấy chứng nhận QSD đất, vì anh H có
thể yêu cầu mở lối đi ở các thửa đất khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh
Nguyễn Hoàng Quốc T1 yêu cầu như sau:
- Yêu cầu hủy Tờ cam kết lập bằng giấy tay ngày 31/5/2012 của ông
Nguyễn Văn M1.
- Yêu cầu bà Ngô Thị V và anh Nguyễn Trung H có trách nhiệm trả lại cho
bà M, chị T, anh T1 diện tích 60m
2
, thuộc hai thửa đất 25, tờ bản đ số 12, diện
tích 2.217,4m
2
, theo giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CS08623 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp
ngày 17/7/2020 cho bà Nguyễn Thị M và thửa đất số 640, tờ bản đ số 12, diện
tích 844,4m
2
, theo giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CS07690 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày
21/12/2018 cho bà Nguyễn Thị M, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền
Giang.
5
Bà M, chị T, anh T1 không đng cho anh H, bà V mở lối đi trên hai thửa
đất 25, tờ bản đ số 12, diện tích 2.217,4m
2
và thửa đất số 640, tờ bản đ số 12,
diện tích 884,4m
2
do bà M đứng tên giấy chứng nhận QSD đất nêu trên.
Thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thùy D và chị
Nguyễn Thị Thùy T2 trình bày:
Chị D và chị T2 thống nhất theo kiến, yêu cầu của bà V và anh H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 219/2025/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp (viết tắt bản án sơ thẩm) đã
xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị V.
Công nhận một phần hợp đng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo tờ
cam kết được xác lập bằng giấy tay ngày 31/5/2012 của ông Nguyễn Văn M1; đối
với diện tích đất 40m
2
, thuộc một phần thửa đất số 25, tờ bản đ số 12, diện tích
2.217,4m
2
, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số CS08623 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T
(nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ) cấp ngày 17/7/2020 cho bà Nguyễn
Thị M và một phần thửa đất số 640, tờ bản đ số 12, diện tích 844,4m
2
, theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CS07690 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là Sở Nông nghiệp
và Môi trường tỉnh Đ) cấp ngày 21/12/2018 cho bà Nguyễn Thị M; đất tọa lạc tại
ấp B, xã Đ, tỉnh Đng Tháp.
Ghi nhận bà Ngô Thị V tặng cho anh Nguyễn Trung H diện tích đất 40m
2
nêu trên để làm lối đi.
Thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu mở lối đi của anh Ngô Trung H1.
- Anh Nguyễn Trung H được quyền sử dụng diện tích đất 52,8m
2
(bao gm
phần số 1: 28,7m
2
; phần số 2: 23,1m
2
; phần số 4: 1,0m
2
) để làm lối đi từ thửa đất
số 613, tờ bản đ số 12, diện tích 850,2m
2
, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số số CH02247 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 20/12/2013, chỉnh l
tại mục IV cho anh Nguyễn Trung H ngày 20/9/2016 để đi qua một phần thửa đất
số 25, tờ bản đ số 12, diện tích 2.217,4m
2
, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS08632 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh T (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ) cấp
ngày 17/7/2020 cho bà Nguyễn Thị M và một phần thửa đất số 640, tờ bản đ số
12, diện tích 844,4m
2
, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS07690 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh T (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ) cấp ngày 21/12/2018 cho
bà Nguyễn Thị M ra đường số I; đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, tỉnh Đng Tháp (có
Phiếu đo đạc chỉnh l thửa đất kèm theo).
6
- Anh Nguyễn Trung H có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị M, chị
Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1 giá trị đất diện tích 12,8m
2
số
tiền 25.600.000 đng (Hai mươi lăm triệu sáu trăm ngàn đng).
Thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị
Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1.
4. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
để đăng k quyền sử dụng đất hạn chế thửa đất theo quy định tại Điều 171 Luật
đất đai năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2018.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, thời hạn, quyền kháng cáo và
quyền, nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm. Anh Nguyễn Trung H, bà Ngô Thị V là nguyên
đơn và bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1
là bị đơn không thống nhất bản án sơ thẩm, nên đã kháng cáo yêu cầu Tòa án
phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 219/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 2 – Đng Tháp, cụ thể như sau:
- Anh Nguyễn Trung H, bà Ngô Thị V yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa
bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
buộc bị đơn tiếp tục thực hiện hợp đng chuyển nhượng QSD đất ngày 31/5/2012
đối với toàn bộ diện tích đất làm lối đi theo kết quả đo đạc thực tế diện tích
52,8m
2
(chiều ngang 01m, tổng chiều dài 52,8m).
- Bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị V và anh Nguyễn Trung H. Bị đơn không đng
chuyển nhượng đất, không đng mở lối đi, yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu
cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Chị Phan Thị Ngọc N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
anh Nguyễn Trung H, bà Ngô Thị V trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo, đề nghị Hội đng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì ông Nguyễn Văn Đ đã nhận chuyển
nhượng của vợ chng bà M, ông M1 diện tích 60m
2
, chiều ngang 01m, chiều dài
từ thửa đất số 613 ra tới đường số 9 trong Tờ cam kết có thể hiện chiều dài từ lộ
ra tới mé ruộng và gia đình nguyên đơn đã sử dụng từ khi nhận chuyển nhượng
năm 2012 cho đến nay.
- Ông Nguyễn Văn G là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn
Thị M trình bày: Không đng kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đng xét
xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn và chấp nhận phản tố của bị đơn. Vì Tờ cam
kết ngày 31/5/2012 không có giá trị pháp l, không chứng minh được bà M, ông
7
M1 chuyển nhượng cho ông Đ, bà M không biết chữ, không có k tên. Bà M và
các con không hề biết việc chuyển nhượng, không có nhận tiền chuyển nhượng,
sau này khi ông M3 chết thì có nghe nói ông M1 có chuyển nhượng cho ông Đ
diện tích 40m
2
, giá 5.000.000 đng.
- Chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1 là bị đơn trình bày:
Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thống nhất kiến trình bày của ông Nguyễn
Văn G, không bổ sung gì thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đng Tháp phát biểu kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai
đoạn phúc thẩm: Thủ tục kháng cáo của anh Nguyễn Trung H, bà Ngô Thị V, bà
Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1 thực hiện
đúng và hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp
luật của Thẩm phán, Hội đng xét xử và Thư k phiên tòa kể từ khi thụ l vụ án
đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chấp hành và thực hiện đúng, đầy đủ theo
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng,
đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đng xét xử áp dụng khoản
2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn
Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1. Chấp nhận một
phần kháng cáo của anh Nguyễn Trung H, bà Ngô Thị V, sửa một phần bản án
dân sự sơ thẩm số 219/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 2 – Đng Tháp.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm số: 360/PB-
VKS-DS ngày 06/02/2026).
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện
Viện kiểm sát, Hội đng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đng Tháp thụ l và giải quyết
sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu
cầu mở lối đi” là đúng quy định tại Điều 500, 254 Bộ luật Dân sự và khoản 3, 9
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân
sự về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Việc nguyên đơn anh Nguyễn
Trung H, bà Ngô Thị V nộp đơn kháng cáo vào ngày 29/9/2025 và bị đơn bà
Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1 nộp đơn
kháng cáo vào ngày 22/9/2025 là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều
273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Nguyễn Thị Thùy D và chị Nguyễn Thị Thùy
T2 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
8
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị M cho rằng vay Ngân hàng N2 –
Chi nhánh G1 và thế chấp giấy chứng nhận QSD đất thửa 25, tờ bản đ số 12. Tại
Văn bản số 13/NHNo.GCT-KH ngày 04/02/2026 của Ngân hàng N2 – Chi nhánh
G1 thể hiện: Bà M đang còn dư nợ tại Ngân hàng số tiền 145.000.000 đng theo
Hợp đng tín dụng số 6905-LAV-202502570 ngày 29/8/2025. Xét thấy, phần diện
tích tranh chấp 52,8m
2
không ảnh hưởng đến khoản nợ vay tại A Chi nhánh G1.
Vì vậy, Ngân hàng N2 – Chi nhánh G1 không tham gia vụ kiện và không có
kiến. Do đó, Tòa án không đưa Ngân hàng N2 – Chi nhánh G1 vào tham gia tố
tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp, có phát
sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của anh Nguyễn Trung H, bà Ngô Thị V yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn và kháng cáo của bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh
Nguyễn Hoàng Quốc T1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu
phản tố của bị đơn.
Hội đng xét xử xét thấy:
- Các đương sự thống nhất xác định đất tranh chấp diện tích 52,8m
2
, trong
đó, diện tích 28,7m
2
(phần số 1) thuộc một phần thửa đất số 25, tờ bản đ số 12
và diện tích 23,1m
2
(phần số 5) và diện tích 1,0m
2
(phần số 4) thuộc một phần
thửa đất số 640, tờ bản đ số 12, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền
Giang (nay là ấp B, xã Đ, tỉnh Đng Tháp) theo Phiếu đo đạc chỉnh l thửa đất
ngày 22/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai huyện G, tỉnh Tiền
Giang (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ1 - Đng Tháp) có ngun gốc của ông
Nguyễn Văn M1. Hiện tại anh H và bà V sử dụng phần đất tranh chấp này làm lối
đi từ thửa 613, tờ bản đ số 12 ra đường số I, trên đất có tráng một phần bê tông
xi măng. Đây là tình tiết, sự kiện các đương sự thống nhất đúng quy định của pháp
luật không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015.
- Nguyên đơn cho rằng ngày 31/5/2012, ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn
Thị M chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Ngô Thị V diện tích 60m
2
thuộc một phần thửa đất số 25 và 640 theo Tờ cam kết ngày 31/5/2012, với giá
chuyển nhượng là 5.000.000 đng. Bị đơn cho rằng bà M không biết chữ, không
có k tên vào Tờ cam kết ngày 31/5/2012, bị đơn không hề biết việc chuyển
nhượng, không có nhận tiền chuyển nhượng, sau này khi ông M3 chết thì có nghe
nói ông M1 có chuyển nhượng cho ông Đ diện tích 40m
2
, giá 5.000.000 đng.
Tờ cam kết ngày 31/5/2012 thể hiện: “Tôi đứng tên dưới đây là Nguyễn
Văn M1 sinh năm 1964 CMND số 310653427 cùng vợ là bà Nguyễn Thị M sinh
năm 1969 Tháp Mười Đ. Hiện nay cùng cư ngụ (ấp) Tổ an ninh số 36 ấp B, xã B,
G, TG. Nguyên vợ chồng tôi và gia đình tôi thống nhất có nhường lại cho vợ
9
chồng em: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1970 cư ngụ ấp L, xã Đ, G, Tiền Giang một
bờ đất để làm bờ đi chiều dài là lộ ra mé ruộng nhỏ ngang 1m và đã nhận số tiền
rồi là 5.000.000
đ
(Năm triệu đồng chẵn). Nay tôi làm giấy này để làm bằng chứng
sau này cho con tôi và cả gia đình anh em chúng tôi không được gây khó dễ cho
em Đ hoặc tranh chấp ở phần đất trên. Nếu sau này có gì sai trái tôi và gia đình
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Có chữ k của N1 cam kết chng
Nguyễn Văn M1, vợ Nguyễn Thị M và người làm chứng Phạm Thị X, Trần Thị
M4, Nguyễn Thị C, xác nhận của ông Ngô Văn S – Tổ an ninh tự quản 36 xác
nhận ông Nguyễn Văn M1 có nhường cho ông Nguyễn Văn Đ 01 bờ đi là sự thật.
Tại Bản tự khai đề ngày 12/12/2024 của bà Nguyễn Thị C khai: Nguyên
trước đây vào ngày 31/5/2012 em bà là ông Nguyễn Văn M1 có bán cho ông
Nguyễn Văn Đ một đường đi ngang 1m, dài 40m, tổng cộng 40m
2
với số tiền
5.000.000 đng. Khi bà k tên thì thấy trong Tờ cam kết này không có chỉnh sửa
và ghi tên bất cứ chữ nào mà ghi rõ 40m dài và ngang 1m, tổng cộng 40m
2
.
Tại Biên bản hòa giải ngày 29/11/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị M, chị
Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1 trình bày: Trước đây, ông
Nguyễn Văn M1 (chng bà M) và ông Nguyễn Văn Đ (chng bà V) còn sống thì
ông M1 có bán cho ông Đ phần đất 40m
2
bằng giấy tay, không phải 60m
2
như đơn
khởi kiện của bà V và anh H. Văn bản kiến ngày 26/11/2024 có chữ k của
người làm đơn anh Nguyễn Hoàng Quốc T1, người làm chứng Nguyễn Thị Kim
Q và lăn tay của chủ hộ bà Nguyễn Thị M thể hiện nội dung: “…ông Nguyễn Văn
Đ có hỏi ba tôi là ông Nguyễn Văn M1 xin mua đường đi mà ba tôi không bán,
rồi sau đó ông Nguyễn Văn Đ có nhờ bà Nguyễn Thị Kim Q xin ba tôi để lại đường
đi vì thấy ông Đ tội nghiệp. Ông Đ có hỏi ba tôi mua 1m bề ngang, bề dài là 40m
với mức giá 5 triệu đồng, trong cuộc mua bán này chỉ có 03 người biết, tức người
bán là ông Nguyễn Văn M1 (đã mất), người mua là ông Nguyễn Văn Đ (đã mất),
người làm chứng là bà Nguyễn Thị Kim Q. Trong lúc mua bán không có bà Ngô
Thị V là vợ của ông Đ, thời gian này bà V đã ra ở riêng một thời gian.
Hiện tại vợ của ông Đ là bà Ngô Thị V nói là tới ruộng của bà V là không
đúng, ba tôi chỉ bán bề ngang 1m, dài 40m, trong cái sổ đỏ thửa đất nền thổ cư
chứ không có bán hết đường để đi và năm 2019 bà V và gia đình chúng tôi cũng
xảy ra tranh chấp và được Công an xã B xét xử tại gốc cây me của bà M4 và cũng
xác nhận chỉ bán 40m dài và ngang 1m. Khoảng thời gian gần đây bà V có qua
nhà tôi hỏi mua thêm đất để làm đường đi nói tiếp từ 40m đến mí ruộng của bà
nhưng tôi có ra giá 100 triệu đồng và bà không mua rồi bắt đầu làm đơn kiện vào
ngày 03/10/2024 đến nay”.
Xét thấy, Tờ cam kết ngày 31/5/2012 không thể hiện rõ diện tích và phần
chiều dài 40m và chiều dài lộ ra mé ruộng nhỏ bị tẩy xóa, chỉnh sửa không có xác
nhận của các bên giao dịch chuyển nhượng. Từ những phân tích nêu trên, có cơ
sở xác định ông M1, bà M có chuyển nhượng cho ông Đ diện tích 40m
2
thuộc một
phần thửa đất số 25 và 640. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà V tự nguyện tặng cho anh
10
H phần diện tích 40m
2
nêu trên để anh H làm lối đi vào thửa đất số 613 là phù hợp
nên Hội đng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bà V.
- Nguyên đơn cho rằng anh H đang sử dụng thửa đất số 613, tờ bản đ số
12, diện tích 850,2m
2
bị vây bọc bởi các động sản của các chủ sở hữu khác và anh
H, gia đình anh H đã sử dụng diện tích đất tranh chấp 52,8m
2
làm lối đi từ năm
2012 cho đến nay. Bị đơn không đng yêu cầu mở lối đi của anh H trên thửa đất
số 25 và 640 của bà M đứng tên giấy chứng nhận QSD đất vì anh H có thể yêu
cầu mở lối đi ở các thửa đất khác.
Xét thấy, phần đất tranh chấp diện tích đo đạc thực tế 52,8m
2
được gia đình
anh H sử dụng làm lối đi ra đường số I từ năm 2012 cho đến nay, quá trình sử
dụng gia đình anh H có tráng xi măng bê tông trên phần đất này. Ngoài ra, tại
Biên bản xác minh ngày 31/12/2024 xác minh ngoài lối đi mà bà V, anh H đang
tranh chấp với bà M, anh T1, chị T thì gia đình bà V, anh H không có lối đi nào
khác. Trong diện tích 52,8m
2
nêu trên có 40m
2
xác định ông M1, bà M có chuyển
nhượng cho ông Đ nên phần diện tích còn lại 12,8m
2
anh H có nghĩa vụ trả giá trị
cho bị đơn. Theo Biên bản định giá tài sản ngày 05/12/2024 xác định giá đất
chuyển nhượng thực tế tại địa phương có giá 2.000.000 đng/m
2
(đất hỗn hợp đất
ở nông thôn và đất trng cây lâu năm), do đó anh H có nghĩa trả giá trị quyền sử
dụng đất cho bà M, chị T, anh T1 như sau: 12,8m
2
x 2.000.000 đng/m
2
=
25.600.000 đng.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn
Trung H, bà Ngô Thị V và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị
M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1 là phù hợp.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn yêu cầu áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời. Tòa án sơ thẩm ban hành Quyết định số 05/2024/QĐ-
BPKCTT ngày 03/10/2024, về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm
hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định” quy định tại Điều 127 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, buộc bà Nguyễn Thị M phải tạm dừng việc xây dựng và tháo dỡ hàng rào
(hoặc chướng ngại vật khác nếu có) để giữ nguyên hiện trạng là đất trống trên
phần đất hiện đang là lối đi có chiều ngang 01m, chiều dài hết thửa đất số 25, tờ
bản đ số 12, diện tích 2.217,4m
2
, loại đất lúa theo giấy chứng nhận QSD đất số
CS08632 ngày 17/7/2020 và hết thửa đất số 640, tờ bản đ số 12, diện tích
844,4m
2
, loại đất ở và cây lâu năm theo giấy chứng nhận QSD đất số CS07690
ngày 21/12/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho bà Nguyễn Thị
M, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang đứng tên. Đất
tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Bà M không được thay đổi hiện trạng
trên lối đi nêu trên cho đến khi có quyết định của Tòa án.
Tòa án cấp sơ thẩm xét thấy, biện pháp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời nêu trên đang được thực hiện nên cần thiết duy trì cho đến khi án có hiệu lực
pháp luật để đảm bảo việc thi hành án. Tuy nhiên, không tuyên xử trong phần
quyết định của bản án là thiết sót, chưa phù hợp với Nghị quyết số 02/2020/NQ-
11
HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng
dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đng xét xử xét thấy kháng cáo của
nguyên đơn là có một phần căn cứ chấp nhận, kháng cáo của bị đơn là không có
căn cứ chấp nhận. Từ đó, Hội đng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm số:
219/2025/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 –
Đng Tháp.
[4] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa như nêu
trên. Hội đng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên được chấp
nhận.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận nên không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận
nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Trung H,
bà Ngô Thị V.
2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn
Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1.
3. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 219/2025/DS-ST ngày 17 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đng Tháp.
3.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn
Trung H, bà Ngô Thị V.
3.2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị M, chị
Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1.
3.3. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngô Thị V tặng cho anh Nguyễn Trung
H 40m
2
để làm lối đi.
Anh Nguyễn Trung H được quyền sử dụng diện tích đất 52,8m
2
để làm lối
đi từ thửa đất số 613, tờ bản đ số 12 do anh Nguyễn Trung H đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ra đường số I, trong đó, đi qua diện tích 28,7m
2
(phần số 1) thuộc một phần thửa đất số 25, tờ bản đ số 12 do bà Nguyễn Thị M
đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đi qua diện tích 23,1m
2
(phần số
5) và diện tích 1,0m
2
(phần số 4) thuộc một phần thửa đất số 640, tờ bản đ số 12,
12
do bà Nguyễn Thị M, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1 cùng đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay
là ấp B, xã Đ, tỉnh Đng Tháp) theo Phiếu đo đạc chỉnh l thửa đất ngày 22/5/2025
của Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là Chi
nhánh Văn phòng Đ1 - Đng Tháp).
Anh Nguyễn Trung H có nghĩa vụ trả giá trị quyền sử dụng đất diện tích
12,8m
2
cho bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc
T1 với số tiền 25.600.000 đng (Hai mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đng).
Các đương sự được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng k,
điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
(Kèm theo Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 22/5/2025 và Biên bản xem
xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/12/2024).
3.4. Tiếp tục duy trì biệp pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số
05/2024/QĐ-BPKCTT ngày 03/10/2024, về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời “Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định”.
3.5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Ngô Thị V phải chịu 300.000 đng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được
trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 600.000 đng theo biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009725 ngày 03/10/2024 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang (nay là Phòng Thi hành
án dân sự khu vực 2 – Đng Tháp). Hoàn trả cho bà Ngô Thị V số tiền 300.000
đng (Ba trăm nghìn đng) tiền chệnh lệch.
Anh Nguyễn Trung H phải chịu 1.280.000 đng án phí dân sự sơ thẩm,
nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000
đng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009726 ngày 03/10/2024
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang (nay là
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Đng Tháp). Anh Nguyễn Trung H còn
phải nộp tiếp số tiền 980.000 đng (Chín trăm tám mươi nghìn đng) án phí dân
sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1
phải liên đới chịu 300.000 đng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số
tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 900.000 đng theo các biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010016, số 0010017, số 0010018 cùng ngày
17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang
(nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Đng Tháp). Hoàn trả cho bà
Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1 số tiền
600.000 đng (Sáu trăm nghìn đng) tiền chệnh lệch.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Anh Nguyễn Trung H và bà Ngô Thị V không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Hoàn trả lại cho anh Nguyễn Trung H và bà Ngô Thị V mỗi người số tiền
13
tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đng theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0003387 và số 0003388 cùng ngày 03/10/2025 của Thi hành án dân
sự tỉnh Đng Tháp.
Bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Anh T, anh Nguyễn Hoàng Quốc T1
mỗi người phải chịu 300.000 đng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án phí mỗi người đã nộp là 300.000 đng, theo các biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002703, số 0002702 và số 0002701 cùng ngày
23/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đng Tháp.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Tỉnh;
- Phòng GĐ KT, TT & THA TAND Tỉnh;
- TAND khu vực 2 – Đng Tháp;
- Phòng THADS khu vực 2 – Đng Tháp;
- Đương sự;
- Lưu: VT, HSVA, TDS
(Quang)
.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên và đóng dấu)
Hứa Quang Thông
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 02/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 28/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 28/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 27/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm