Bản án số 75/2025/DS-PT ngày 22/09/2025 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 75/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 75/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 75/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 75/2025/DS-PT ngày 22/09/2025 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Ngãi |
| Số hiệu: | 75/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Giữ nguyên bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số:75/2025/DS-PT
Ngày: 22-9-2025
V/v:
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Hoa
Các : Ông Lê Quang Toại
Bà Trần Thị Túc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Như – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Nguyễn Thị Kim
Yến – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 27 tháng 3, 07 tháng 8 và 22 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa
án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ L1 số
53/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024, về việc:
.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của
Tòa án nhân dân huyện Lý Sơn (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ngãi) bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐ-PT ngày 04/02/2025,
giữa các đương sự:
- Anh Trần Chí L, sinh năm 1982; cư trú tại thôn T, huyện LS
(nay là đặc khu LS), tỉnh Quảng Ngãi.
L: Anh Hồ Minh K, sinh năm
1981; địa chỉ thường trú: Số 143 đường TN, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng;
địa chỉ liên hệ: Số 177 đường TN, phường B, quận H (nay là phường HC), thành phố
Đà Nẵng (theo văn bản ủy quyền ngày 17/12/2024).
2
- B Anh Lê Tấn L1, sinh năm 1979 và chị Nguyễn Thị Th, sinh năm
1983; cùng cư trú tại thôn T, huyện LS (nay là đặc khu LS), tỉnh Quảng Ngãi.
- i có quyn l liên quan:
1. Chi cục Thi hành án dân sự huyện LS (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu
vực A – Quảng Ngãi); địa chỉ trụ sở: Số 226 đường ND, phường C, tỉnh Quảng Ngãi.
Ông Phạm Huy A.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Hồng T
2. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Quảng Ngãi – Chi nhánh huyện LS (nay là
Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai đặc khu L1 Sơn); địa chỉ trụ sở: Thôn Đ,
huyện LS (nay là đặc khu LS), tỉnh Quảng Ngãi.
Bà Nguyễn Thị Phước – Giám đốc.
3. Văn phòng Công chứng NTT; địa chỉ: Số 352 đường P, phường C, thành phố
QN (nay là phường N), tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ liên hệ: Số nhà 22, đường CM,
phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (nay là phường Đ, tỉnh Đồng Nai).
Ông Nguyễn Thiện T – Trưởng Văn phòng.
4. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991; cư trú tại thôn Tây An Vĩnh, huyện LS
(nay là đặc khu LS), tỉnh Quảng Ngãi.
- Anh Trần Chí L – là nguyên đơn; anh Lê Tấn L1 và chị
Nguyễn Thị Th – là bị đơn; anh Nguyễn Văn H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trong vụ án.
(Anh Trần Chí L, anh Hồ Minh Khánh, anh Lê Tấn L1, chị Nguyễn Thị Th và
đại diện Phòng Thi hành án dân sự khu vực A - Quảng Ngãi có mặt; đại diện Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai đặc khu LS và anh Nguyễn Văn H có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
17/8/2023
20/11/2023, ngày 31/01/2024, , nguyên
là L
Thửa đất số 1141, tờ bản đồ số 14, diện tích 84,3m
2
tại huyện LS, tỉnh Quảng
Ngãi (viết tắt là thửa 1141) là của anh Lê Tấn L1 và chị Nguyễn Thị Th nhận chuyển
nhượng từ ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Hồng N đăng ký biến động chủ sở
hữu, sử dụng tại trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/11/2016 theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số BĐ 912218, số vào sổ cấp GCN CH 01234 do Uỷ B1n
nhân dân (viết tắt là UBND) huyện LS, tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 15/10/2010.
3
Ngày 27/9/2019, anh L1, chị Th đã chuyển nhượng thửa 1141 cho anh L. Tại
thời điểm chuyển nhượng, thửa 1141 đang thế chấp tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh LS (viết tắt là AgriB1nk) nên hai bên
không thể làm thủ tục công chứng theo quy định. Do đó, hai bên đã lập Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất (viết tắt là HĐCNQSDĐ) viết tay để xác nhận việc
chuyển nhượng trên. Theo Hợp đồng, giá trị chuyển nhượng thực tế là 1.200.000.000
đồng. Việc chuyển nhượng này có ông Nguyễn X, bà Trần Thị T2 làm chứng. Số tiền
chuyển nhượng nguyên đơn đã thanh toán thành 03 lần, cụ thể:
Vào ngày 25/9/2019, anh Trần Chí L đã chuyển 400.000.000 đồng vào tài
khoản DNTN Nguyễn X theo yêu cầu của chị Th để chị Th trả nợ cho khoản vay quá
hạn tại AgriB1nk. Ngày 27/9/2019, các bên đã tiến hành ký kết một Hợp đồng chuyển
nhượng viết tay, nhưng mang tính chất như một Hợp đồng đặt cọc để ghi nhận lại
việc chuyển tiền cũng như giá trị chuyển nhượng khi ký kết hợp đồng chính thức của
thửa 1141.
Ngày 22/9/2020, anh L tiếp tục chuyển số tiền 409.500.000 đồng vào tài khoản
của chị Th để chị Th giải chấp tại AgriBank và xóa thế chấp tại Văn phòng đăng ký
đất đai tỉnh Quảng Ngãi – Chi nhánh huyện LS (viết tắt là VPĐKĐĐ huyện LS) đối
với thửa 1141.
Ngày 25/9/2020, anh L thanh toán tiền đợt cuối bằng tiền mặt 390.500.000 đồng
(vì lúc Th
1 H1
Th) và ký Hợp đồng chuyển nhượng chứng thực
tại bộ phận Tư pháp thuộc UBND nhưng vì tình hình dịch bệnh và một số sự việc
không mong muốn diễn ra nên việc chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1141
đã không thực hiện được. Cùng ngày, anh L1, chị Th giao bản chính GCNQSDĐ cho
anh L. Hai bên đã hoàn tất thủ tục mua bán, anh L giao đủ tiền và anh L1, chị Th
nhận đủ tiền. Anh L1, chị Th dùng số tiền 700.000.000 đồng mà anh L chuyển để trả
cho AgriB1nk; số tiền còn lại anh L1, chị Th trả nợ cho các chủ nợ khác.
Ngày 26/01/2021, anh L với chị Th mới ký Hợp đồng chuyển nhượng thửa
1141 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Th Thái. Vì dịch bệnh diễn biến phức tạp,
nên đến tháng 04/2021 thì vợ chồng anh L mới nộp hồ sơ đăng ký biến động tại
VPĐKĐĐ huyện LS và được hẹn trả kết quả vào tháng 05/2021. Tuy nhiên, đến
tháng 09/2021 () thì VPĐKĐĐ huyện LS mới trả hồ sơ với lý
do không đủ điều kiện để đăng ký.
Trên thửa 1141 có căn nhà của anh Nguyễn Văn H xây dựng vào năm 2013 nên
trước khi các bên ký hợp đồng chuyển nhượng, anh L đã thỏa thuận và thực hiện
xong việc mua lại căn nhà của anh H với giá 190.000.000 đồng, đồng thời anh L cho
anh H thuê lại căn nhà này để làm nhà kho chứa ga hóa lỏng.
Ngày 26/01/2021, anh L1, chị Th và anh L lập HĐCNQSDĐ đối với thửa 1141
được Văn phòng công chứng Nguyễn Thiện T công chứng số 76, quyển số 01; số tiền
4
chuyển nhượng ghi trong Hợp đồng là 45.000.000 đồng. Các bên thỏa thuận để giá
chuyển nhượng theo bảng giá mà UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành nhằm mục đích
giảm được phần nào tiền thuế thu nhập cá nhân và thuế trước bạ, thực tế số tiền
chuyển nhượng quyền sử dụng thửa 1141 là 1.200.000.000 đồng.
Khi anh L nộp hồ sơ đăng ký biến động đối với thửa 1141 có giấy biên nhận hồ
sơ và trả kết quả ngày 22/4/2021. Ngày 24/9/2021, VPĐKĐ huyện LS ban hành
Thông báo số 23/TB-CNHLS về việc trả hồ sơ do chưa đủ điều kiện giải quyết vì
nhận được yêu cầu của các bà B1, Th2, P, Th1 và các văn bản của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện LS (viết tắt là Chi cục THADS huyện LS) đề nghị tạm dừng việc
đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản của anh L1, chị Th.
Anh L có biết vào ngày 12/5/2021, Tòa án nhân dân huyện LS (viết tắt là
TAND huyện LS) ban hành Bản án số 01/2021/DS-ST buộc anh L1, chị Th phải trả
cho bà Nguyễn Thị Th2 số tiền 192.000.000 đồng và 01 cây vàng SJC; Bản án số
02/2021/DS-ST buộc anh L1, chị Th phải trả cho bà Trần Thị Th1 số tiền
250.000.000 đồng. Ngày 13/5/2021, TAND huyện LS ban hành Bản án số
03/2021/DS-ST buộc anh L1, chị Th phải trả cho bà Lê Thị P số tiền 200.000.000
đồng và Bản án số 04/2021/DS-ST buộc anh L1, chị Th phải trả cho bà Trần Thị Thu
B1 số tiền 345.000.000 đồng và 03 cây vàng SJC.
Chi cục THADS huyện LS ban hành các quyết định thi hành án theo 04 bản án
nói trên và tiến hành thủ tục kê biên tài sản của anh L1, chị Th là thửa 1141 đã được
anh L1, chị Th chuyển nhượng cho anh L năm 2019.
Việc anh L1, chị Th nợ các bà Th1, Th2, P và B1 không liên quan gì đến anh
L. Anh L nhận chuyển nhượng thửa 1141 từ ngày 27/9/2019 và đã trả tiền đầy đủ,
nhận bàn giao đất từ anh L1, chị Th. Việc Chi cục THADS huyện LS kê biên thửa
1141 để thi hành các khoản nợ của anh L1, chị Th là xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của anh L.
Nay anh L yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận giao dịch chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo HĐCNQSDĐ ngày 26/01/2021 giữa anh Lê Tấn L1, chị
Nguyễn Thị Th với anh Trần Chí L có số công chứng 76, quyển số 01.TP/CC-
SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thiện T và HĐCNQSDĐ viết tay
ngày 27/9/2019 (Hợp đồng đặt cọc) có hiệu lực pháp luật và tiếp tục thực hiện; công
nhận thửa 1141 và tài sản gắn liền với đất (căn nhà) theo GCNQSDĐ số BĐ 912218
do UBND huyện LS, tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 15/10/2010 thuộc quyền sở hữu, sử
dụng hợp pháp của anh Trần Chí L.
Anh không yêu cầu giải quyết hậu quả nếu các hợp đồng trên vô hiệu.
* Theo khai ngày 01/12/202là
L1 Th trình bày:
Từ ngày 22 đến ngày 28/9/2019, anh, chị có 02 khoản vay đến hạn phải trả cho
AgriBank 400.000.000 đồng và 300.000.000 đồng. Vì không có tiền trả nên anh, chị
5
rao bán thửa 1141 để trả cho các khoản vay trên. Khi đó có anh L muốn mua nên hai
bên mới giao kết bằng hợp đồng viết tay với giá là 1.200.000.000 đồng và thanh toán
làm 03 đợt: đợt 1 vào ngày 25/9/2019 nhận 400.000.000 đồng để đáo hạn khoảng vay
400.000.000 đồng của Agribank; sau đó dùng 400.000.000 đồng vay lại của Agribank
để tất toán khoảng vay 300.000.000 đồng của Agribank, còn 100.000.000 đồng anh,
chị trả các khoản nợ nhỏ từ 10 triệu đến 20 triệu đồng; đợt 2 nhận 409.500.000 đồng
vào ngày 22/9/2020 anh, chị dùng số tiền này để tất toán khoản vay 400.000.000
đồng và rút GCNQSDĐ ra; đợt 3 ngày 25/9/2020 nhận 390.500.000 đồng bằng tiền
mặt anh, chị dùng số tiền này để trả cho các khoản nợ 30 triệu đồng đến 50 triệu
đồng. Nhận đủ tiền từ anh L nên anh, chị đã giao bản chính GCNQSDĐ cho anh L và
chờ ngày công chứng; đến ngày 26/01/2021, hoàn tất thủ tục công chứng. Thửa 1141
mà anh, chị chuyển nhượng cho anh L là hoàn toàn đúng pháp luật nên mong Tòa án
công nhận hợp đồng giao kết ngày 27/9/2019.
Năm 2013, anh chị cho anh Nguyễn Văn H thuê thửa 1141 để xây nhà kho
chứa ga. Năm 2019, sau khi chuyển nhượng thửa 1141 cho anh L thì anh L thỏa thuận
mua lại nhà kho của anh H nên nhà kho không có liên quan đến anh, chị. Anh, chị
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không yêu cầu giải quyết hậu quả
nếu các hợp đồng trên vô hiệu.
* Theo
là THADS LS A
T
Chấp hành viên Chi cục THADS huyện LS đang tổ chức thi hành các Bản án
số 01/2021/DSST, Bản án 02/2021/DSST cùng ngày 12/5/2021; Bản án số
03/2021/DSST, Bản án 04/2021/DSST cùng ngày 13/5/2021 và Quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 06/2022/QĐST-DS ngày 10/8/2022. Theo
các Quyết định thi hành án số 33, 35/QĐ-CCTHADS cùng ngày 17/6/2021; số 36,
37, 38, 39/QĐ-CCTHADS cùng ngày 21/6/2021; số 02/QĐ-CCTHADS ngày
05/10/2022 và số 12/QĐ-CCTHADS ngày 13/10/2022 của Chi cục THADS huyện
L1 Sơn thì chị Th và anh L1 còn phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 50.944.000
đồng và có nghĩa vụ trả cho các bà Th2, Th1, Phượng, B1 và bà H1 với tổng số tiền
1.685.900.000 đồng và 04 cây vàng SJC.
Quá trình tổ chức thi hành án, Chấp hành viên đã xác minh điều kiện thi hành
án của anh L1, chị Th. Kết quả xác minh ngày 07/7/2021, chính quyền địa phương
cung cấp và ngày 30/7/2021 VPĐKDĐ huyện LS cung cấp thì chị Th và anh L1 đang
sử dụng thửa 1141.
Ngày 26/01/2021, chị Th và anh L1 ký HĐCNQSDĐ đối với thửa 1141 cho
anh L được Văn phòng công chứng Nguyễn Thiện T công chứng số 76, quyển số
01.TP/CC-SCC/HĐGD. Tuy nhiên, đến ngày 16/9/2021 (ngày Chấp hành viên ban
hành Quyết định tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng) thì quyền sử
dụng đất nói trên chưa thực hiện việc đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai, chưa đăng
ký biến động vào sổ địa chính tại VPĐKDĐ huyện LS. Theo quy định tại khoản 3
6
Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 thì: “
H
”.
Xét thấy, chị Th, anh L1 không tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên căn cứ
khoản 3 Điều 71, Điều 110, Điều 111, Điều 112 và Điều 113 Luật Thi hành án dân sự
B1n hành Quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
số 01/QĐ-CTHSDS ngày 22/9/2021 và tiến hành kê biên thửa 1141 để đảm bảo thi
hành án.
Sau khi kê biên, Chấp hành viên căn cứ khoản 1 Điều 24 Nghị định số
62/2015/NĐ-CP của Chính phủ và khoản 1 Điều 75 của Luật Thi hành án dân sự đã
thông báo cho anh L biết là HĐCNQSDĐ đối với thửa đất trên chưa phát sinh hiệu
lực nên thửa đất vẫn thuộc quyền sử dụng của anh L1, chị Th; đồng thời thông báo
cho anh L biết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ có quyền
khởi kiện hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết để bảo vệ quyền lợi của
mình đối với HĐCNQSDĐ ngày 26/01/2021 theo đúng như các bên đã cam đoan ghi
nhận tại điểm b, khoản 3 Điều 6 của hợp đồng nêu trên, cụ thể: “
H thu h
H ” nhưng anh L không
thực hiện việc khởi kiện. Do đó, Chấp hành viên căn cứ theo khoản 1 Điều 75 của
Luật Thi hành án dân sự tiếp tục xử lý tài sản để thi hành án. Đến nay, tài sản đã kê
biên được xử lý bán đấu giá thành, người trúng đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản,
theo quy định của pháp luật buộc phải giao tài sản cho người trúng đấu giá. Việc
Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất của chị Th, anh L1 là đúng quy định của pháp luật. Việc anh L1, chị Th
chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên cho anh L là nhằm tẩu tán tài sản, trốn
tránh trách nhiệm thi hành án. Chi cục THADS huyện LS đề nghị Tòa án bác đơn
khởi kiện của anh L và không công nhận HĐCNQSDĐ giữa bên chuyển nhượng là
anh Lê Tấn L1, chị Nguyễn Thị Th và bên nhận chuyển nhượng là anh Trần Chí L vì
đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 của Luật Thi hành án
dân sự.
Theo biên bản giải quyết việc thi hành án ngày 17/9/2021 của Chấp hành viên
Chi cục THADS huyện LS với chị Nguyễn Thị Th, thì chị Th công nhận vào năm
2014 chị Th và anh L1 có xây dựng ngôi nhà cấp 4, tường xây tô, mái lợp tôn
Proximăng, diện tích xây dựng khoảng 60m
2
trên diện tích đất 84,3m
2
thuộc thửa
1141. Theo Thông báo số 146/TB-CCTHADS ngày 27/6/2022 của Chấp hành viên
Chi cục THADS huyện LS đã thông báo cho anh Nguyễn Văn H, nếu có tranh chấp
7
ngôi nhà trên thửa 1141 thì có quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có
thẩm quyền giải quyết để bảo vệ quyền lợi của mình nhưng anh H không thực hiện.
Mặt khác, theo Công văn số 58/CV-TA ngày 30/11/2022 của TAND huyện LS về
việc thông báo kết quả xử lý đơn khởi kiện của anh H thể hiện ngày 25/7/2022,
TAND huyện LS nhận được đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn H yêu cầu Tòa án
giải quyết công nhận ngôi nhà trên thửa 1141 là tài sản của anh H. Tòa án đã yêu cầu
anh H cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh ngôi nhà đó là của mình nhưng anh H
không có cơ sở, tài liệu, chứng cứ chứng minh nên đã xin trả lại đơn khởi kiện. Vậy,
quyền sử dụng đất và ngôi nhà trên thửa 1141 mà Chấp hành viên Chi cục THADS
huyện LS đã cưỡng chế kê biên, xử lý là tài sản của anh L1 và chị Th.
* c
- CLS
P2 trình bày:
Ngày 24/9/2020, bà Võ Thị H1 có đơn gửi đến VPĐKĐĐ huyện LS đề nghị
ngăn chặn vợ chồng anh L1, chị Th chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 1141 vì
anh L1, chị Th vay nợ của bà với số tiền 710.000.000 đồng nhưng chưa trả theo cam
kết. Ngày 22/4/2021, chị Nguyễn Thị Th2 (người được anh L ủy quyền nộp hồ sơ)
nộp hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng thửa 1141.
Ngày 14/5/2021, VPĐKĐĐ huyện LS ban hành Thông báo số 09/TB-CNHLS
gửi đến bà H1 đề nghị cung cấp văn bản thụ L1 giải quyết vụ việc của cơ quan có
thẩm quyền; đồng thời ban hành văn bản gửi đến TAND huyện LS, Chi cục THADS
huyện LS để xác minh thửa 1141 có bị tranh chấp hoặc thuộc tài sản không được thực
hiện giao dịch để đảm bảo nghĩa vụ dân sự hay không. Ngày 18/5/2021, TAND
huyện LS có văn bản số 30/CV-TA và ngày 25/5/2021, Chi cục THADS huyện LS có
văn bản số 69/CC.THADS đã cung cấp thông tin thửa 1141 không bị tranh chấp và
không thuộc tài sản phải thi hành án.
Ngày 19 và 20/5/2021, VPĐKĐĐ huyện LS nhận được đơn yêu cầu của các bà
B1, Th2, P, Th1 có nội dung tương tự như nội dung đơn của bà H1. Ngày 18/6/2021,
VPĐKĐĐ huyện LS ban hành Thông báo số 13, 14, 15, 16/TB-CNHLS gửi đến các
bà B1, Th2, P và Th1 đề nghị cung cấp văn bản thụ lý giải quyết vụ việc của cơ quan
có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 18/6/2021. Ngày 08/7/2021, Chi
cục THADS huyện LS có Công văn số 161/CCTHADS về việc đề nghị phối hợp và
cung cấp thông tin về quyền sử dụng đất của vợ chồng anh L1, chị Th. Ngày
04/8/2021, Chi cục THADS huyện LS có Công văn số 174/CCTHADS về việc đề
nghị dừng việc đăng ký, chuyển nhượng quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản của vợ
chồng anh L1, chị Th. Ngày 16/9/2021, Chi cục THADS huyện LS ban hành Quyết
định số 01/QĐ-CCTHADS về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển nhượng quyền sở
hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của vợ chồng anh L1, chị Th. Ngày
22/9/2021, Chi cục THADS huyện LS ban hành Quyết định số 01/QĐ-CCTHADS về
việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa
1141 của vợ chồng anh L1, chị Th.
8
Như vậy, trong quá trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký biến động do
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của anh L có phát sinh đơn yêu cầu của các
bà H1, B1, Th2, P, Th1 nên VPĐKĐĐ huyện LS phải tạm dừng giải quyết hồ sơ để
ban hành thông báo đề nghị cung cấp văn bản thụ lý giải quyết vụ việc của cơ quan
có thẩm quyền theo hướng dẫn tại Thông báo kết luận số 5296/TB-STNMT ngày
06/11/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi và dừng giải quyết hồ
sơ theo đề nghị của Chi cục THADS huyện LS. Theo quy định tại điểm c khoản 1
Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 thì thửa đất 1141 không đủ điều kiện đăng ký
biến động đất đai vì quyền sử dụng đất đã bị kê biên để đảm bảo thi hành án.
* là
Th do Th là trình bày:
Tại thời điểm công chứng Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1141 giữa bên
chuyển nhượng là anh L1, chị Th với bên nhận chuyển nhượng là anh L hoàn toàn tự
nguyện, có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; mục đích, nội dung
của hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Văn phòng công
chứng không nhận được bất cứ văn bản nào của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về
việc ngăn chặn anh L1, chị Th thực hiện chuyển nhượng thửa 1141. Việc công chứng
hợp đồng chuyển nhượng thửa 1141 là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật.
Nay anh L đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất này, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Văn phòng công
chứng đã ngừng hoạt động từ ngày 28/12/2021 theo quy định của pháp luật và đề
nghị vắng mặt tại Tòa án trong suốt thời gian giải quyết vụ án.
*
là H trình bày:
Năm 2013, anh L1 và chị Th cho anh thuê thửa 1141 trong thời hạn 10 năm,
mỗi tháng anh trả tiền thuê đất là 2.000.000 đồng để làm nhà kho chứa gas. Thời
điểm đó, anh xây dựng nhà kho với chi phí 190.000.000 đồng và chính quyền địa
phương không yêu cầu bản vẽ hay giấy phép xây dựng. Năm 2019, anh L1 và chị Th
chuyển nhượng thửa 1141 cho anh L, anh L yêu cầu anh bán ngôi nhà làm kho chứa
gas trước đó cho anh L nên anh đã bán ngôi nhà đó cho anh L với giá 190.000.000
đồng. Do đó, thửa đất 1141 và ngôi nhà làm kho chứa gas đó thuộc sở hữu của anh L
và từ đó đến nay anh L vẫn cho anh thuê lại ngôi nhà trên mảnh đất đó làm khi chứa
gas với giá 2.000.000 đồng/tháng. Anh đồng ý với yêu cầu của anh L là công nhận
thửa đất 1141 và tài sản gắn liền với đất (căn nhà) thuộc quyền sở hữu sử dụng hợp
pháp của anh L.
01/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 LS
tuyên
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Chí L về
các yêu cầu: Công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/01/2021 giữa vợ chồng anh Lê Tấn L1 và
9
chị Nguyễn Thị Th với anh Trần Chí L có số công chứng 76, quyển số 01.TP/CC-
SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thiện T và Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất viết tay ngày 27/9/2019 (Hợp đồng đặt cọc) có hiệu lực
pháp luật và tiếp tục thực hiện và công nhận thửa đất số 1141, tờ bản đồ số 14, tại khu
dân cư số 5 thôn T, huyện LS, tỉnh Quảng Ngãi, diện tích 84,3 m
2
và tài sản gắn liền
với đất (căn nhà) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 912218 do UBND huyện LS, tỉnh Quảng Ngãi
cấp ngày 15/10/2010 thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của anh Trần Chí L.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền
kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 01/10/2024, anh Trần Chí L là nguyên đơn có đơn kháng cáo yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhập yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
* Ngày 02/10/2024, anh Lê Tấn L1 và chị Nguyễn Thị Th có đơn kháng cáo
yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
* Ngày 03/10/2024, anh Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo yêu cầu Toà án cấp
phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm và giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án
cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo quy định của Bộ luật
tố tụng dân sự.
Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hình thức: Đơn kháng cáo của các anh, chị L, L1, Th, H làm trong hạn luật
định là hợp lệ theo quy định tại Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, được chấp
nhận.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của các anh, chị L, L1, Th, H; giữ
nguyên bản án sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân
huyện Lý Sơn. Án phí phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
10
[1.1] Ngày 20/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Lý Sơn (nay là Toà án nhân dân
khu vực 1 – Quảng Ngãi) tuyên vụ án nêu trên. Ngày 01, 02 và ngày 03/10/2024, các
anh, chị L, L1, Th, H có đơn kháng cáo là còn trong thời hạn quy định tại Điều 273
của Bộ luật tố tụng dân sự, được chấp nhận.
[1.2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H, đại diện
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Quảng Ngãi – Chi nhánh huyện LS (nay là Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai đặc khu LS) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ
khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/9/2019 (viết tắt
là HĐCN ngày 27/9/2019) giữa bên chuyển nhượng là anh Lê Tấn L1, chị Nguyễn
Thị Th với bên nhận chuyển nhượng là anh Trần Chí L đối với thửa đất số 1141, tờ
bản đồ số 14, diện tích 84,3m
2
, tại thôn Tây An Vĩnh, huyện LS, nay là Đặc khu LS,
tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là thửa 1141) thì thấy rằng:
Để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việt Nam – Chi nhánh huyện LS (viết tắt là Agribank) vào ngày 14/9/2018 anh Lê
Tấn L1 và chị Nguyễn Thị Th có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4514-
HĐTC/01N140918 đối với thửa 1141. Ngày 17/9/2018, chị Nguyễn Thị Th ký Hợp
đồng tín dụng số 4514LAV201801083 với Agribank để vay vốn số tiền 400.000.000
đồng, thời hạn vay là 12 tháng. Ngày 25/9/2019, chị Th đã tất toán toàn bộ khoản vay
đối với hợp đồng tín dụng nêu trên.
Ngày 26/9/2019, chị Nguyễn Thị Th ký Hợp đồng tín dụng với Agribank để
vay vốn số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng; nghĩa vụ đảm bảo để
thực hiện hợp đồng này bằng giá trị tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất số 4514-HĐTC/01N140918 ngày 14/9/2018. Theo điểm 6, khoản 2, Điều
3 của Hợp đồng thế chấp thể hiện nghĩa vụ của bên thế chấp:
Tại Công văn số 399/NHNo.LS ngày 06/9/2024 của Agribank thể
hiện bank - LS
L1 ThTheo khoản 8 Điều 320 của Bộ luật dân sự năm
2015, quy định nghĩa vụ của bên thế chấp: Không
.
Như vậy, ngày 27/9/2019 anh L1, chị Th lập hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng thửa 1141 cho anh Trần Chí L trong khi thửa 1141 đang là tài sản bảo đảm
cho khoản vay của anh L1, chị Th tại Agribank là vi phạm thoả thuận trong hợp đồng
thế chấp giữa anh L1, chị Th với Agribank và vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 320
của Bộ luật dân sự năm 2015.
11
HĐCNQSDĐ ngày 27/9/2019 không được công chứng, chứng thực hợp pháp
là không đúng về hình thức hợp đồng theo quy định tại các Điều 117, 119, khoản 1
Điều 502 và Điều 503 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, hợp đồng chuyển nhượng
ngày 27/9/2019 vi phạm về hình thức và nội dung nên bị vô hiệu.
[2.2]. Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển
nhượng là anh Lê Tấn L1, chị Nguyễn Thị Th với bên nhận chuyển nhượng là anh
Trần Chí L được Văn phòng công chứng Nguyễn Thiện T công chứng ngày
26/01/2021 (viết tắt là HĐCN ngày 26/01/2021):
[2.2.1] Ngày 12/02/2017, chị Th viết giấy mượn số tiền 192.000.000 đồng và
01 cây vàng SJC của bà Nguyễn Thị Th2. Ngày 02/11/2020, bà Th2 có đơn khởi kiện
yêu cầu chị Th phải trả cho bà số tiền trên được Toà án nhân dân (viết tắt là TAND)
huyện LS thụ lý ngày 04/11/2020. Tại Bản án số 01/2021/DS-ST ngày 12/5/2021 của
Tòa án nhân dân huyện LS đã tuyên buộc anh L1 và chị Th phải trả cho bà Th2 số
tiền 192.000.000 đồng và 01 cây vàng SJC; bản án nêu trên các đương sự không
kháng cáo, Viện kiểm sát các cấp cũng không kháng nghị. Bản án sơ thẩm có hiệu lực
pháp luật.
[2.3.2] Ngày 17/12/2017, chị Th viết giấy mượn số tiền 345.000.000 đồng và
03 cây vàng SJC của bà Trần Thị Thu B1. Ngày 02/11/2020, bà B1 có đơn khởi kiện
yêu cầu chị Th pH trả cho bà số tiền trên được TAND huyện LS thụ lý ngày
04/11/2020. Tại Bản án số 04/2021/DS-ST ngày 13/5/2021 của Tòa án nhân dân
huyện LS đã tuyên buộc anh L1, chị Th phải trả cho bà B1 số tiền 345.000.000 đồng
và 03 cây vàng SJC; bản án nêu trên các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát
các cấp cũng không kháng nghị. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
[2.3.3] Ngày 09/9/2018, chị Th viết giấy mượn của bà Trần Thị Th1 số tiền
250.000.000 đồng. Ngày 02/11/2020, bà Th1 có đơn khởi kiện yêu cầu chị Th pH trả
cho bà số tiền trên được TAND huyện LS thụ lý ngày 04/11/2020. Tại Bản án số
02/2021/DS-ST ngày 12/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện LS đã tuyên buộc anh
L1, chị Th phải trả cho bà Th1 số tiền 250.000.000 đồng; bản án nêu trên các đương
sự không kháng cáo, Viện kiểm sát các cấp cũng không kháng nghị. Bản án sơ thẩm
có hiệu lực pháp luật.
[2.3.4] Ngày 29/12/2017, chị Th viết giấy mượn của bà Lê Thị P số tiền
200.000.000 đồng. Ngày 02/11/2020, bà P có đơn khởi kiện yêu cầu chị Th phải trả
cho bà số tiền trên được TAND huyện LS thụ lý ngày 04/11/2020. Tại Bản án số
03/2021/DS-ST ngày 13/5/2021 của TAND huyện LS đã tuyên buộc anh L1, chị Th
phải trả cho bà P 200.000.000 đồng; bản án nêu trên các đương sự không kháng cáo,
Viện kiểm sát các cấp cũng không kháng nghị. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
[2.3.5] Ngày 29/8/2018, chị Th viết giấy mượn của bà Võ Thị H1 số tiền
710.000.000 đồng. Ngày 02/11/2020, bà H1 có đơn khởi kiện yêu cầu chị Th phải trả
cho bà số tiền trên được TAND huyện LS thụ lý ngày 04/11/2020. Sau khi hoà giải,
chị Th và bà H1 có thoả thuận với nhau nên bà H1 rút đơn khởi kiện, TAND huyện
12
LS đã đình chỉ giải quyết vụ án theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số
06/2022/QĐST-DS ngày 17/3/2021. Tuy nhiên, sau khi Toà án đình chỉ giải quyết vụ
án thì chị Th chỉ trả cho bà H1 số tiền 5.000.000 đồng nên bà H1 tiếp tục khởi kiện
yêu cầu anh L1, chị Th phải trả cho bà số tiền 698.000.000 đồng. Tại Quyết định
công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 06/2022/QĐST-DS ngày 10/8/2022,
anh L1, chị Th đồng ý trả cho bà H1 số tiền 698.000.000 đồng.
Ngày 24/9/2020, bà Võ Thị H1 có Đơn khiếu nại gửi đến một số cơ quan trong
đó có Văn phòng đăng ký có nội dung đề nghị ngăn chặn anh Lê Tấn L1, chị Nguyễn
Thị Th chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
[2.3.6] Tại thời điểm anh L1, chị Th chuyển nhượng thửa 1141 cho anh L công
chứng ngày 26/01/2021 thì các bà Th2, Th1, P, B1, H1 đã có đơn khởi kiện yêu cầu
anh L1, chị Th trả nợ tiền và Tòa án nhân dân huyện LS đã thụ lý vụ án. Mặc dù, tại
thời điểm anh L1, chị Th ký kết hợp đồng chuyển nhượng thửa 1141 cho anh L chưa
có bản án có hiệu lực pháp luật về việc buộc anh L1, chị Th phải trả tiền cho các bà
Th2, Th1, P, B1, H1 và không bị các cơ quan có thẩm quyền hay cá nhân nào có yêu
cầu ngăn chặn hay cấm chuyển nhượng thửa 1141. Tuy nhiên, theo các tài liệu có tại
hồ sơ thể hiện thì vào các năm 2017, 2018 chị Th đã viết giấy vay tiền của các bà
Th2, Th1, P, B1, H1; điều đó thể hiện tại thời điểm anh L1, chị Th chuyển nhượng
thửa 1141 thì anh L1, chị Th biết mình đang có nghĩa vụ phải trả nợ cho các bà Th2,
Th1, P, B1, H1 nhưng khi chuyển nhượng thửa 1141 cho anh L thì anh L1, chị Th
không sử dụng số tiền chuyển nhượng để trả nợ cho các bà Th2, Th1, P, B1, H1 là
trốn tránh nghĩa vụ. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, anh L1, chị Th trình bày, anh,
chị dùng số tiền 1.200.000.000 đồng từ tiền chuyển nhượng thửa 1141 để tất toán
khoản vay tại Agribank, số tiền còn lại anh, chị trả nợ cho nhiều người nhưng không
cung cấp được các tài liệu, chứng minh cho trình bày của mình là có căn cứ.
[2.3.7] Xét việc anh L cho rằng vào ngày 25/9/2019 anh đã chuyển số tiền
400.000.000 đồng theo yêu cầu của chị Th để anh L1, chị Th trả khoản nợ vay quá
hạn tại AgriB1nk, cùng thời điểm này anh L1 và chị Th còn có một khoản vay khác
cũng đang đến hạn tại AgriB1nk nên không thể rút GCNQSDĐ thửa 1141 được, Hội
đồng xét xử nhận thấy:
Như nhận định tại mục [2.1] thì thửa 1141 là tài sản đảm bảo cho khoản vay
400.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 4514LAV201801083 ngày 17/9/2018
của anh L1, chị Th tại AgriB1nk.
Ngày 26/9/2018, anh L1, chị Th có vay tại AgriB1nk số tiền 300.000.000 đồng
theo hợp đồng tín dụng số 4514LAV201801129. Tài sản đảm bảo cho khoản vay này
là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 159, tờ bản đồ số 9, diện tích 128,8m
2
tại thôn
Tây, xã An Vĩnh, huyện L1 Sơn, (nay là Đặc khu L1 Sơn) tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt
là thửa 159) của ông Lê Tấn Chín, bà Mai Thị Phượng theo HĐTC quyền sử dụng đất
số 4514-HĐTC/01BL260918 cùng ngày 26/9/2018.
13
Ngày 25/9/2019, chị Th đã tất toán toàn bộ số khoản vay theo Hợp đồng tín
dụng số 4514LAV201801083; do đó, tại thời điểm ngày 25/9/2019, thửa 1141 không
còn là tài sản đảm bảo cho bất cứ khoản vay nào của ông L1, bà Th tại AgriB1nk
nhưng anh L1, chị Th không thực hiện việc rút GCNQSDĐ đối với thửa 1141. Khoản
vay 300.000.000 đồng tại AgriB1nk vào ngày 26/9/2018 đến hạn trả nợ vào này
26/9/2019 được đảm bảo bằng một tài sản khác là thửa 159.
Mặt khác, anh L1, chị Th cho rằng có chuyển nhượng thửa 1141 cho anh L để
trả nợ cho AgriB1nk nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, anh L không có tài liệu, chứng
cứ chứng minh anh là người nộp tiền vào AgriB1nk để tất toán khoản vay của anh
L1, chị Th. Anh L thừa nhận tại thời điểm năm 2019 khi nhận chuyển nhượng thửa
1141 đã biết đang thế chấp tại AgriB1nk nhưng anh L 02 lần chuyển tiền đều không
ghi nội dung chuyển tiền và 01 lần giao tiền mặt cũng không viết giấy nhận tiền. Do
đó, trình bày của anh L là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp
nhận.
[2.3.8] Theo xác minh về việc điều kiện thi hành án của Chấp hành viên Chi
cục Thi hành án huyện L1 Sơn vào ngày 07/7/2021 thì ngoài thửa 1141, anh L1, chị
Th không còn tài sản nào khác tại huyện L1 Sơn để đảm bảo thi hành án.
Như vậy, việc anh L1, chị Th lập Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1141 cho anh
L, nhưng không sử dụng số tiền chuyển nhượng để thanh toán nợ cho các bà Th2,
Th1, Phượng, B1, H1 là giả tạo, nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ 3, nên bị vô
hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 124 của Bộ luật dân sự năm 2015. Mặt khác,
Hợp đồng chuyển nhượng thửa 1141 chưa được đăng ký vào Sổ địa chính tại cơ quan
có thẩm quyền, nên chưa có hiệu lực theo quy định tại khoản 3 Điều 188 của Luật đất
đai năm 2013, Điều 503 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, anh L không yêu cầu
giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, nên Tòa
án cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 5 của Bộ
luật tố tụng dân sự về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Trường hợp
anh L có yêu cầu thì có quyền làm đơn khởi kiện bằng một vụ án khác.
[2.3.9] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn là anh Trần Chí L cho rằng anh
chưa nhận được Thông báo số 146/TB-CCTHADS ngày 27/6/2022 của Chi cục thi
hành án dân sự huyện L1 Sơn; tuy nhiên, Chi cục Thi hành án huyện L1 Sơn đã cung
cấp tài liệu thể hiện đã phát thành công Thông báo 146 vào lúc 9:41:00 ngày
30/6/2022 người nhận là anh Trần Chí L (có kèm tọa độ điểm phát). Tại Biên bản làm
việc ngày 25/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Bưu điện tỉnh Quảng
Ngãi đã cung cấp thông tin: Các vận đơn mà Chi cục Thi hành án dân sự huyện L1
Sơn gửi cho Tòa án là nhân viên Bưu điện tỉnh Quảng Ngãi tra cứu và cung cấp cho
Chi cục Thi hành án huyện L1 Sơn, tuy nhiên do Bưu điện huyện L1 Sơn cung cấp
thiếu trang đầu định vị nên chưa đầy đủ thông tin, thiếu số hiệu bưu gửi; như vậy
trình bày của anh L là không có cơ sở.
14
[2.3.10]. Trong vụ án này, anh L yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đối với thửa 1141 có hiệu lực. Ông Võ Thạch là người mua tài sản
bán đấu giá thành đối với thửa 1141 và ngày 28/10/2023 giữa Chi cục THADS huyện
L1 Sơn và ông Võ Thạch đã ký Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá đã được Văn
phòng Công chứng Thủy Tùng công chứng cùng ngày 28/10/2023. Tại cấp sơ thẩm
ông Thạch có đơn yêu cầu không đưa ông vào tham gia tố tụng với tư cách là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Võ Thạch vào
tham gia tố tụng là không đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nội dung giải
quyết không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự nên cấp sơ thẩm
cần rút kinh nghiệm.
Từ những nhận định trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của anh L là đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, không có cơ sở chấp
nhận kháng cáo của các anh, chị L, L1, Th, H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo của các anh,
chị Trần Chí L, Lê Tấn L1, Nguyễn Thị Th, Nguyễn Văn H nên anh L, anh H mỗi
người pH chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm; chị Th và anh L1 pH chịu
300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng
án phí dân sự phúc thẩm anh L, anh H, anh L1 và chị Th đã nộp theo các Biên lai số
0000730, 0000731, 0000732 cùng ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện L1 Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- tỉnh
Quảng Ngãi).
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản
1, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
B1n Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L1 và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Chí L, anh Lê Tấn L1, chị
Nguyễn Thị Th, anh Nguyễn Văn H; giữ nguyên bản án số 01/2024/DS-ST ngày
20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Sơn (nay là Toà án nhân dân Khu vực 1 –
Quảng Ngãi).
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo của các anh,
chị Trần Chí L, Lê Tấn L1, Nguyễn Thị Th, Nguyễn Văn H nên anh Trần Chí L, anh
Nguyễn Văn H mỗi người pH chịu 300.000 đồng (B1 ) tiền án phí
dân sự phúc thẩm; chị Nguyễn Thị Th và anh Lê Tấn L1 pH chịu 300.000 đồng (B1
15
) tiền án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án
phí dân sự phúc thẩm anh Trần Chí L, anh Nguyễn Văn H, anh Lê Tấn L1 và chị
Nguyễn Thị Th đã nộp theo các Biên lai số 0000730, 0000731, 0000732 cùng ngày
10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (nay là
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Quảng Ngãi).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Khu vực 1 – Quảng Ngãi;
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Phòng THADS Khu vực 1, Quảng Ngãi;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, Tòa Dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Hoa
16
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Chí L về việc
yêu cầu Toà án công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/01/2021 giữa anh Lê Tấn L1 và chị
Nguyễn Thị Th với anh Trần Chí L có số công chứng 76, quyển số 01.TP/CC-
SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Nguyễn Th Thái và Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất viết tay ngày 27/9/2019 (Hợp đồng đặt cọc) có hiệu lực
pháp luật và tiếp tục thực hiện.
1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Chí L về
việc yêu cầu Toà án công nhận thửa đất số 1141, tờ bản đồ số 14, tại khu dân cư số 5
thôn Tây An Vĩnh, huyện L1 Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, diện tích 84,3 m
2
và tài sản gắn
liền với đất (căn nhà) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 912218 do UBND huyện L1 Sơn, tỉnh Quảng
Ngãi cấp ngày 15/10/2010 thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của anh Trần Chí
L.
2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 600.000 đồng ( , anh
Trần Chí L pH chịu. Anh Trần Chí L đã nộp và chi phí xong.
3. Về án phí dân sự:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh L pH nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm không có
giá ngạch là 600.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm
ứng án phí anh L đã nộp số tiền 600.000 đồng (sáu tại các biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000704 ngày 09/11/2023 và số 0000707 ngày
04/3/2024 của Chi cục THADS huyện L1 Sơn (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu
vực 1 – Quảng Ngãi).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân
sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
17
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm