Bản án số 70/2025/HNGĐ-ST ngày 24/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 70/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 70/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 70/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 70/2025/HNGĐ-ST ngày 24/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 70/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn. Cho chị Lương Thị Phương Ph được ly hôn với ông Phạm Minh T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK
Bản án số: 70/2025/HNGĐ – ST
Ngày 24/9/2025.
V/v: Xin ly hôn và con chung
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Y Kam Ênuôl
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Y Blao Bkrông
2. Ông Huỳnh Văn Bộ
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Linh – Thư ký Toà án nhân dân
Khu vực 1 - Đăk Lăk.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk tham gia phiên
tòa: Không tham gia.
Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại Toà án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7
năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2025/QĐXX – HNGĐ
ngày 21 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 45/2025/QĐST-
HNGĐ ngày 08/9/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị Phương P, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Liên gia I, tổ dân phố A, phường T (K cũ), tỉnh Đắk Lắk – Có
mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Minh T, sinh năm 1990;
Địa chỉ: A liên gia B, tổ dân phố B, phường T (K cũ), tỉnh Đắk Lắk –
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Nguyên đơn bà Lƣơng Thị Phƣơng P trình bày: Tôi và ông Phạm
Minh T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng kí kết hôn tại UBND phường
2
E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 04/6/2014, theo giấy chứng nhận kết hôn
số 99.
Quá trình chung sống, chúng tôi hạnh phúc một thời gian thì mâu thuẫn vợ
chồng phát sinh do bất đồng quan điểm sống trong nhiều vấn đề và đã sống ly
thân từ hơn 2 tháng. Do mâu thuẫn kéo dài, tôi đều không còn tình cảm vì vậy
tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho chúng tôi ly hôn.
Về con chung: Có 03 con chung là Phạm Gia B – sinh ngày 12/3/2015,
Phạm Gia Bảo H – sinh ngày 03/02/2017 và Phạm Ngọc Yến N – sinh ngày
12/11/2018. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng trực tiếp 03 con chung và không yêu
cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
2. Quá trình làm việc bị đơn ông Phạm Minh T trình bày: Tôi và bà
Lương Thị Phương P tự nguyện chung sống với nhau và có đăng kí kết hôn tại
UBND phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 04/6/2014, theo giấy
chứng nhận kết hôn số 99.
Quá trình chung sống, chúng tôi hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì mâu
thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra cãi vã
do tôi thường uống rượu, đôi khi tôi nói vợ không nghe nên có đánh vợ và tôi đã
bỏ về nhà nội sống từ hơn 2 tháng nay. Tuy nhiên tôi xác định hai bên chỉ có
mâu thuẫn nhỏ, tôi có nguyện vọng hòa giải đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con
cái vì vậy tôi không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 03 con chung là Phạm Gia B – sinh ngày 12/3/2015,
Phạm Gia Bảo H – sinh ngày 03/02/2017 và Phạm Ngọc Yến N – sinh ngày
12/11/2018. Trường hợp vợ tôi nhất quyết yêu cầu ly hôn tôi có đồng ý giao cả 3
con chung cho vợ tôi trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên và tự thỏa thuận
về cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được
thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử nhận
thấy:
[1]. Về quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về
hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại
khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản
1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
3
[2]. Về trình tự thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án xét
thấy các đương sự đều chấp hành tốt quy định của pháp luật.
Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm: Bị đơn ông Phạm Minh
T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng đều vắng mặt không có
lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố
tụng dân sự, Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk xét xử vắng mặt ông Phạm
Minh T.
[3]. Về nội dung vụ án: Theo đơn khởi kiện và chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án xác định giữa bà Lương Thị Phương P và Phạm Minh T có chung sống và
đăng ký kết hôn tại UBND phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày
04/6/2014 trong thời gian chung sống vợ, chồng thường xuyên phát sinh mâu
thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách và quan điểm sống không hợp
nhau, bản thân hai vợ chồng đã sống ly thân, mà không có biện pháp hàn gắn
hạnh phúc gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án bà P vẫn giữ nguyên yêu
cầu xin ly hôn với ông T, đối với ông T mặc dù xác định giữa hai vợ chồng có
mâu thuẫn nhưng đây chỉ là mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân, mong muốn
hai vợ chồng được đoàn tụ với nhau để cùng nhau chăm sóc con cái. Về con
chung: Có 03 con chung là cháu là Phạm Gia B – sinh ngày 12/3/2015, cháu
Phạm Gia Bảo H – sinh ngày 03/02/2017 và cháu Phạm Ngọc Yến N – sinh ngày
12/11/2018; Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết. Về tài sản
chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3.1. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa bà Lương Thị Phương P và
ông Phạm Minh T có xảy ra trên thực tế và đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ
chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, quá trình làm việc
với Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với
ông T, bản thân ông T cũng xác định trong thời gian chung sống là có phát sinh
mâu thuẫn. Trong quá trình làm việc và tại phiên tòa sơ thẩm các bên đều xác
định không còn chung sống với nhau và đã ly thân mà không có biện pháp khắc
phục và hàn gắn hạnh phúc gia đình, riêng ông T khai nhận hiện đang sinh sống
cùng với bố mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà P và ông
T đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn
nhân không đạt được, nên bà P đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk
cho bà được ly hôn với ông Phạm Minh T là có căn cứ và phù hợp với quy định
tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
3.2. Về con chung: Trong quá trình chung sống với nhau giữa bà Lương
Thị Phương P và ông Phạm Minh T có 03 con chung là cháu Phạm Gia B – sinh
ngày 12/3/2015, cháu Phạm Gia Bảo H – sinh ngày 03/02/2017 và cháu Phạm
Ngọc Yến N – Sinh ngày 12/11/2018. Trong quá trình giải quyết vụ án bà P và
4
ông T đều thống nhất nếu ly hôn đồng ý giao cả 03 cháu Phạm Gia B, cháu
Phạm Gia B H và cháu Phạm Ngọc Yến N cho bà P được trực tiếp chăm sóc và
nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án cả
03 cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi và sự
phát triển bình thường, tránh ảnh hưởng đến tâm lý của các nên cần giao cả 03
cháu cho bà Lương Thị Phương P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi
trưởng thành.
Ông Phạm Minh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục
con chung mà không ai có quyền được cản trở.
3.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa
án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3.4. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên
Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí: Bà Lương Thị Phương P phải chịu án phí hôn nhân gia
đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84
Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 220, Khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều
266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Lương Thị
Phương P.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lương Thị Phương P được ly hôn với
ông Phạm Minh T.
1.2. Về con chung: Giao cháu Phạm Gia B – sinh ngày 12/3/2015, cháu
Phạm Gia Bảo H – sinh ngày 03/02/2017 và cháu Phạm Ngọc Yến N – Sinh
ngày 12/11/2018 cho bà Lương Thị Phương P được trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Ông Phạm Minh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục
con chung không ai có quyền được cản trở.

5
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét
xử không xem xét giải quyết.
1.4. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên
Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Lương Thị Phương P phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn
nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí
Hôn nhân gia đình sơ thẩm mà bà Lương Thị Phương P đã nộp theo biên lai số
AA/2023/0011233 ngày 25/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1).
Nguyên đơn, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được
quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
* Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 1 – Đắk Lắk;
- Cục THA dân sự tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- ………………;
- Lưu hồ sơ, TA.
Y Kam Ênuôl
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm