Bản án số 68/2025/DS-ST ngày 22/05/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 68/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 68/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 68/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 68/2025/DS-ST ngày 22/05/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng |
| Số hiệu: | 68/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/05/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; các Điều 117, 299, 317, 318, 319, 323; 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 102, 103, 107 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ TAM KỲ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 68/2025/DS-ST
Ngày: 22-5-2025
“Tranh chấp hợp đồng tín dụng và
tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ- TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Sơn
Ông Phạm Bá Sang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thọ- Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Anh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ,
tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2025/TLST- DS ngày
23 tháng 01 năm 2025 về việc“Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng
thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-DS
ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N; địa chỉ trụ sở chính: Số 77 phố Đ, quận K,
Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Anh V; chức vụ: Phó Giám đốc
phụ trách Ngân hàng N, chi nhánh Quảng Nam (theo Văn bản ủy quyền ngày
19/7/2023). Ông V ủy quyền lại cho ông Nguyễn Q, ông Trịnh Đ, ông Nguyễn P,
chuyên viên xử lý nợ, ông Võ C, Trưởng phòng KHCN, ông Mạc Đình Q, chuyên
viên KHCN - Phòng KHCN Ngân hàng N, chi nhánh Quảng Nam tham gia tố tụng;
cùng địa chỉ liên hệ: Số 409 đường Phan C, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (theo
Giấy ủy quyền ngày 14/01/2025). Ông Nguyễn Q có mặt, những người còn lại đều
vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm N, sinh năm 1984; nơi đăng ký HKTT: Khối phố B,
phường X, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; chổ ở hiện nay: K178 đường Trần C, tổ 6,
phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1952 và ông
Phạm L sinh năm 1950; nơi đăng ký HKTT: Khối phố B, phường X, thành phố T
2
tỉnh Quảng Nam; chổ ở hiện nay: K178 đường Trần C tổ 6, phường T, thành phố T,
tỉnh Quảng Nam. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/01/2025 cũng như quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn Ngân hàng N ông Nguyễn Bảo Q
trình bày: Ngày 23/5/2023, ông Phạm N đã ký với Ngân hàng N, chi nhánh Quảng
Nam Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 148/2023/HDHM-CN/SHB.120500, theo
đó ngân hàng đã cho ông Phạm N vay số tiền 450.000.000 đồng; mục đích vay: Bổ
sung vốn kinh doanh; thời hạn duy trì hạn mức vay vốn: 12 tháng (kể từ ngày
23/5/2023 đến ngày 23/5/2024); thời hạn vay theo Khế ước nhận nợ ngày
27/02/2024 là 06 tháng; lãi suất vay: 6,9%/năm, lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi
suất cho vay trong hạn, lãi suất chậm trả lãi: 3,45%/năm. Ngân hàng đã giải ngân số
tiền 450.000.000 đồng cho ông Phạm N theo Khế ước nhận nợ số 03-
148/2023/HĐHM-CN/SHB.120500 ngày 27/02/2024.
Tài sản thế chấp: Để bảo đảm cho khoản vay, bà Hồ Thị H và ông Phạm L đã
thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 165, tờ bản đồ
số 7, tại khối phố B, phường X, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (đã được UBND
thành phố T, tỉnh Quảng Nam cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ
093827, số vào sổ cấp GCN H01322/Q32T42 cho ông Phạm L và bà Hồ Thị H ngày
09/12/2009) cho ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất số 148/2023/HĐTC-CN/SHB.120500 ngày 23/5/2023, đã được
công chứng tại Văn phòng công chứng L và đăng ký biện pháp bảo đảm vào ngày
24/5/2023 theo đúng quy định pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Phạm N đã vi phạm nghiêm trọng
nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho ngân hàng nên ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay
sang quá hạn kể từ ngày 27/8/2024. Tính đến ngày 10/01/2025, ông Phạm N đã trả
cho ngân hàng tổng số tiền là 20.827.281 đồng, trong đó trả nợ gốc là 5.344.905
đồng, trả tiền nợ lãi và phạt chậm trả là 15.482.376 đồng. Tính đến ngày 22/5/2025
ông Phạm N còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 479.125.838 đồng, trong đó nợ gốc là
444.655.095 đồng, nợ lãi trong hạn là 22.686.362 đồng, nợ lãi chậm trả là
11.784.381 đồng. Ngay khi phát sinh nợ quá hạn, ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc,
tạo điều kiện cho ông Phạm N trả nợ cho ngân hàng, đồng thời đề nghị ông Phạm L
và bà Hồ Thị H phối hợp xử lý tài sản bảo đảm để ngân hàng thu hồi nợ, nhưng ông
Phạm L và bà Hồ Thị H không thực hiện, trốn tránh không làm việc với ngân hàng.
Do đó Ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm N phải trả cho Ngân
hàng N số tiền nợ theo Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 148/2023/HDHM-
CN/SHB.120500 ngày 23/5/2023 tạm tính đến ngày 22/5/2025 là 479.125.838
đồng, trong đó nợ gốc là 444.655.095 đồng, nợ lãi trong hạn là 22.686.362 đồng, nợ
lãi chậm trả là 11.784.381 đồng. Ông Phạm N còn phải tiếp tục trả số tiền lãi, lãi
quá hạn phát sinh theo lãi suất quá hạn, phí theo hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ
ngày 23/5/2025 cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp ông Phạm N không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu
cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản bảo đảm để thu
3
hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm không đủ
nghĩa vụ trả nợ thì ông Phạm N phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng N.
Bị đơn ông Phạm N: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các
văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải…) cho ông Phạm N nhưng ông Phạm N
không đến Tòa án để tham gia các phiên họp, hòa giải. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm
nay ông Phạm N có mặt và trình bày thống nhất với số tiền mà ngân hàng khởi kiện
yêu cầu ông trả tính đến ngày 22/5/2025 là 479.125.838 đồng, trong đó nợ gốc
444.655.095 đồng, nợ lãi trong hạn 22.686.362 đồng, nợ lãi chậm trả 11.784.381
đồng. Đối với yêu cầu của ngân hàng nếu trường hợp ông không trả nợ cho ngân
hàng thì ngân hàng được quyền đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì ông
không có ý kiến gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị H, ông Phạm L: Quá trình
giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ
án, thông báo về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải,…) cho bà Hồ Thị H và ông Phạm L nhưng bà Hồ Thị H và ông Phạm L không
đến Tòa án để tham gia các phiên họp, hòa giải và các phiên tòa theo các thông báo
của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố
tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của nguyên đơn kể từ khi
thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa là đúng pháp luật, bị đơn ông và người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ
án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; các Điều
100, 102, 103, 107 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 xử chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Ngân hàng N khởi kiện về việc yêu cầu ông Phạm N phải thanh toán nợ
vay cho Ngân hàng N theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Căn cứ các Điều 26, 35 và
39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp
luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp
đồng thế chấp tài sản”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ
Thị H và ông Phạm L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng
không đến tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ hòa giải và vắng tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do. Do đó Hội đồng xét
xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử
vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị H và ông Phạm L.
[2] Về nội dung:
4
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
[2.1.1] Về tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng mà hai bên ký kết
Vào ngày 23/5/2023, ông Phạm N đã ký với Ngân hàng N, chi nhánh Quảng
Nam Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 148/2023/HDHM-CN/SHB.120500 để vay
số tiền 450.000.000 đồng; mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh; thời hạn duy trì
hạn mức vay vốn: 12 tháng, thời hạn vay theo Khế ước nhận nợ ngày 27/02/2024 là
06 tháng; lãi suất vay: 6,9%/năm, lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay
trong hạn, lãi suất chậm trả lãi: 3,45%/năm. Ngân hàng đã giải ngân số tiền
450.000.000 đồng cho ông Phạm N theo Khế ước nhận nợ số 03-148/2023/HĐHM-
CN/SHB.120500 ngày 27/02/2024.
Xét thấy Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 148/2023/HDHM-
CN/SHB.120500 được ký kết giữa nguyên đơn Ngân hàng N với bị đơn ông Phạm
N đảm bảo các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Điều 117 Bộ
luật Dân sự năm 2015 và lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với Điều 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015, Luật Các tổ chức tín dụng nên có hiệu lực pháp luật, do đó các
bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Căn cứ vào các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp có tại hồ sơ vụ án, Hội
đồng xét xử có đủ cơ sở xác định quá trình vay tiền bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả
nợ gốc và lãi của Khế ước nhận nợ số 03-148/2023/HĐHM-CN/SHB.120500 ngày
27/02/2024 là trả nợ gốc cuối kỳ, trả nợ lãi hàng tháng vào ngày 25 hàng tháng.
Tính đến ngày 22/5/2025, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 479.125.838 đồng,
trong đó nợ gốc là 444.655.095 đồng, nợ lãi là 34.470.743 đồng (gồm nợ lãi trong
hạn 22.686.362 đồng, nợ lãi chậm trả 11.784.381 đồng). Do đó, căn cứ khoản 1
Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi
đến hạn) Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn
ông Phạm N phải thanh toán tiền nợ vay cho nguyên đơn tính đến ngày 22/5/2025 là
479.125.838 đồng, trong đó nợ gốc là 444.655.095 đồng, nợ lãi là 34.470.743 đồng
(gồm nợ lãi trong hạn 22.686.362 đồng, nợ lãi chậm trả 11.784.381 đồng). Kể từ
ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký.
[2.1.2] Về hợp đồng thế chấp tài sản
Nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài
sản gắn liền thửa đất số 165, tờ bản đồ số 7 tại phường Trường X, thành phố T, tỉnh
Quảng Nam theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
số 148/2023/HĐTC-CN/SHB.120500 ngày 23/5/2023 nếu trường hợp bị đơn không
trả hoặc trả không đủ nợ theo hợp đồng.
Xét thấy nội dung và hình thức của hợp đồng thế chấp mà các bên đã ký kết
phù hợp với các Điều 117, 317, 318, 319, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015 và đã được
đăng ký biện pháp bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu
lực, do đó các bên phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng thế chấp, đồng thời
tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ
được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghiã vụ”. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nếu
trường hợp bị đơn ông Phạm N không trả hoặc trả không đủ nợ vay thì nguyên đơn
5
có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền
sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 165, tờ bản đồ số 7, tại
phường X, thành phố T, tỉnh Quảng Nam theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất số 148/2023/HĐTC-CN/SHB.120500 ngày 23/5/2023
để thu hồi nợ.
[3] Về án phí và chi phí tố tụng khác:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp
nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 23.165.000 đồng.
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản: 1.000.000 đồng, buộc bị đơn ông
Phạm N phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; các Điều 117, 299,
317, 318, 319, 323; 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 102,
103, 107 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn
ông Phạm N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng và tranh chấp hợp đồng thế chấp
tài sản.
Buộc ông Phạm N phải thanh toán cho Ngân hàng N số tiền 479.125.838 đồng,
trong đó nợ gốc là 444.655.095 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (22-5-
2025) là 34.470.743 đồng (gồm nợ lãi trong hạn 22.686.362 đồng, nợ lãi chậm trả
11.784.381 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ.
Trong trường hợp ông Phạm N không trả xong các khoản nợ trên, thì Ngân
hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp
là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 165, tờ bản đồ số 7,
tại phường X, thành phố T, tỉnh Quảng Nam theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất số 148/2023/HĐTC-CN/SHB.120500 ngày 23/5/2023
để thu hồi nợ.
[2] Về án phí và chi phí tố tụng khác:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm N phải chịu 23.165.000 đồng (hai mươi
ba triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Hoàn trả lại cho Ngân hàng N số tiền
tạm ứng án phí đã nộp là 11.342.000 đồng (mười một triệu ba trăm bốn mươi hai
nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001774 ngày 23 tháng 01 năm
2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
- Chi phí tố tụng khác: Ông Phạm N phải chịu 1.000.000 đồng (một triệu
đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do Ngân hàng N đã nộp nên ông
Phạm N phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng N số tiền 1.000.000 (một triệu
đồng).

6
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong (đối với số tiền 1.000.000 đồng đã nêu trên), bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ
thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22-5-2025); đương sự vắng mặt
có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND tỉnh Quảng Nam;
- VKSND thành phố Tam Kỳ;
- Chi cục THADS TP Tam Kỳ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thúy Vân
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 03/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 31/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm