Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 03/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 54/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 03/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ
Số hiệu: 54/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lâm Thị Xá M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 6-CẦN THƠ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03-9-2025
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 -CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Sơn Thanh Bình.
Bà Sơn Thị Vành Đa.
- Thư phiên Tòa: Trương Thị Anh Thư thư Tòa án nhân khu
vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6-
Cần Thơ, thành phố Cần T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:
131/2025/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 6 năm 2025 về ly hôn tranh chấp về
nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ
ngày 25 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị M (Lâm M), sinh ngày: 03/9/1997,
căn cước công dân: 094197005530; Địa chỉ: ấp A, V, thành phố Cần Thơ
(vắng mặt).
- Bị đơn: Anh T, sinh năm: 1995, CMND: 366055306; Địa chỉ: ấp T,
xã M, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 5 năm 2025 cũng như trong quá trình
giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lâm Thị Xá M (Lâm Sá M) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị Xá M (Lâm M) anh T tổ
chức lễ cưới vào năm 2018 đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân Mỹ
Thuận, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay Uỷ ban nhân dân xã M, thành phố Cần
Thơ). Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm
2
2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan
điểm sống, tính tình không phù hợp từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi
vã. Khi xảy ra mâu thuẫn chị M anh T đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ
chồng nhưng không được, khi xảy ra mâu thuẫn gia đình hai bên đều biết và
hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh chị nhưng mâu thuẫn vẫn tiếp tục xảy ra
anh chị đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023. Nay chị M nhận thấy tình cảm vợ
chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M yêu cầu
Toà án giải quyết được ly hôn với anh Lý T.
Về con chung: Chị Lâm Thị M (Lâm M) tự khai trong thi gian
chung sống với anh T thì anh chị 01 (một) người con chung tên Lâm
Quốc T, sinh ngày 27/11/2018, tkhi vợ chồng sống ly thân từ tháng 11 năm
2023 đến nay thì cháu Thịnh đều sống cùng với anh T, do đó, sau khi ly n
ch Mđồng ý giao con chung tên Lâm Quốc T, sinh ngày 27/11/2018 cho anh
Lý T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Thnh đủ 18 (mười tám) tui.
V cấp dưỡng nuôi con: Chị Lâm Thị M (Lâm M) không cấp
dưỡng nuôi cháu Lâm Quốc T, sinh ngày 27/11/2018, nhưng khi làm tiền
chị Msẽ gửi cho anh Lý T phụ nuôi cháu Lâm Quốc T.
Về tài sản chung nợ chung: Chị Lâm Thị M (Lâm M) tự khai
không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn anh T: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn
khởi kiện các yêu cầu của nguyên đơn chị Lâm Thị M (Lâm M) tại
Thông báo thụ ván số: 131/TB-TLVA, ngày 09 tháng 6 năm 2025 đã
tống đạt hợp lcho bị đơn anh T, cũng như đã triệu tập hợp l anh T đến
dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải
hai lần nhưng anh Lý T đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ hòa giải. Sau đó, Tòa án đã Thông báo về kết quả
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh T
nhưng anh T không gửi văn bản ghi ý kiến của anh T đối với yêu cầu
khởi kiện nêu trên của chị Lâm Thị Xá M.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại din Vin kim sát nhân dân khu vc 6-
Cần Thơ, thành ph Cần Thơ trình bày ý kiến như sau:
V th tc t tng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ vụ án, quan hệ
pháp luật tranh chấp, xác định đúng cách tham gia tố tụng của các đương sự,
việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được
3
đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ cho Viện kiểm sát nghiên cứu,
việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã
thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị
M (Lâm M), về việc chị Myêu cầu ly hôn với anh T, đồng thời chị
Myêu cầu giao con chung tên Lâm Quốc T, sinh ngày 27/11/2018 cho anh
Lý T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Thnh đủ 18 (mười tám) tui
chị M không cấp dưỡng nuôi con. Còn về tài sản chung, nợ chung chị M tự
khai không có, không yêu cầu a án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử
không đặt ra xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị Xá M (Lâm Sá M).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chị Lâm Thị M (Lâm M) vắng mặt đơn yêu cầu
xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Lý T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng
cả hai lần đều vắng mặt không do. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử
tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Vthẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lâm Thị M (Lâm
M) yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị anh
T. Bị đơn anh T nơi trú ấp Tam Sóc A, Mỹ Thuận, huyện Mỹ
, tỉnh Sóc Trăng (nay ấp Tam Sóc A, xã Mỹ , thành phố Cần Thơ). Căn cứ
khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35 Luật sửa đổi, bsung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật pháp người chưa
thành niên, Luật phá sản Luật hoà giải, Đối thoại tại Toà án ngày 25 tháng 6
năm 2025. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh
Sóc Trăng (nay Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ) thụ
lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm
quyền giải quyết vụ án.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lâm Thị M (Lâm M) anh T
xác lập quan hệ vợ chồng trên sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới đủ điều
kiện kết hôn. Do đó, việc chị Lâm Thị M (Lâm M) anh T tiến đến
hôn nhân và được Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Thuận, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay
Uỷ ban nhân dân M, thành phố Cần Thơ) cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào
ngày 16 tháng 01 năm 2018 là hoàn toàn đúng theo quy
4
định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận đây là hôn nhân hợp pháp
cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân này.
Trong quá trình chung sống theo chị M trình bày do vợ chồng tính tình
không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cãi không tìm được tiếng nói
chung trong đời sống hôn nhân, anh ch thường xuyên cãi vã. Chị M và anh T đã
sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 đến nay, khi xảy ra mâu thuẫn anh chị đã
nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được vợ chồng tiếp tục
xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay anh chị không còn chung sống với nhau như vợ
chồng, anh chị đều có công việc riêng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Theo
đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chMvẫn cương quyết
xin ly hôn với anh Lý T.
Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn
nhân gia đình năm 2014 vợ chồng nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn
trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công
việc trong gia đình”. Đối chiếu với quan hệ hôn nhân giữa chị Manh T thì
hiện nay, anh chị đã sống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Do đó, Hội
đồng xét xử thấy rằng thực trạng mâu thuẫn giữa anh chị đã đến mức trầm trọng,
hiện nay anh chị không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh chị không
còn thương yêu chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều
56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của
ch Lâm Thị Xá M (Lâm Sá M).
[3.2] Về con chung: Xét yêu cầu của chị Lâm Thị M (Lâm M) yêu
cầu tiếp tục giao con chung tên Lâm Quốc T, sinh ngày 27/11/2018 cho anh
T trc tiếp nuôi ng cho đến khi cháu Thnh đủ 18 (mười tám) tuổi. Hội
đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy
định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của
mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa
án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi
mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên tphải xem xét nguyện vọng của
con”. Nhận thấy, từ khi chị Lâm Thị M (Lâm M) anh T sống ly
thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay thì cháu Thịnh đều do anh Lý T trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng về tâm lý phát triển bình thường, cuộc sống ổn định.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm đđảm bảo sự
phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh của
cháu Thịnh nên việc giao cháu Thịnh cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng phù
hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân Gia
đình năm 2014, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Lâm Quốc T, sinh ngày
27/11/2018 cho anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Thịnh
đủ 18 (mười tám) tuổi, chị Lâm Thị M (Lâm M) được quyền thăm nom
con chung, không ai được cản trở chị Lâm Thị M (Lâm M) thực hiện
5
quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân Gia đình
năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nghĩa vụ cấp dưỡng
nuôi con”. Đáng lẽ ra, chị Lâm Thị M (Lâm M) người không trực tiếp
nuôi con thì phải nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải
quyết vụ án anh T không văn bản yêu cầu chị Mcấp dưỡng nuôi cháu Thịnh.
Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3.4] Về tài sản chung nợ chung: Chị Lâm Thị M (Lâm M) tự
khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên căn cứ
nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Lâm Thị Xá M (Lâm M) phải chịu
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự thẩm, theo quy định tại
khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4
Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 266; Điều 271;
Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật
pháp người chưa thành niên, Luật phá sản Luật hoà giải, Đối thoại tại Toà án
ngày 25 tháng 6 năm 2025.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều
82, Điều 83 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014; căn cứ Nghị quyết số:
01/2024/NQ-TP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy
định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Thị Xá M.
1. Về quan hhôn nhân: Chị Lâm Thị Xá M (Lâm M) được ly hôn với
anh Lý T.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung tên Lâm Quốc T, sinh ngày 27/11/2018 cho anh
6
T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cu Lâm Quốc T, sinh ngày 27/11/2018
đủ 18 (mười tám) tuổi.
2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: anh T không yêu cầu chị Lâm Thị M
(Lâm M) cấp dưỡng nuôi cháu Lâm Quốc T, sinh ngày 27/11/2018 nên
Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2.3 Sau khi ly hôn, ch Lâm Thị M (Lâm M) quyn, nghĩa v
thăm nom con chung tên Lâm Quốc T, sinh ngày 27/11/2018, Lý T cùng các
thành viên trong gia đình không được cản tr. Chị Lâm Thị M (Lâm M)
không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây nh
hưởng xấu đến việc trông nom, chăm c, ni ng, giáo dc con chung theo
quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung: Chị Lâm Thị M (Lâm M) tự khai không nên
Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Lâm Thị M (Lâm M) tự khai không có nên Hội
đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự thẩm: Nguyên đơn chị Lâm Thị M (Lâm M)
phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự thẩm, nhưng
được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí
thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân shuyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng (nay
Phòng thi hành án dân sự khu vực 6, Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ)
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002155 ngày 09 tháng 6 năm
2025, chị Lâm Thị Xá M (Lâm Sá M) đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Nguyên đơn; bị đơn quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai
để yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân s(đã được sửa đổi, bsung), thì người được thi hành án dân sự, người
phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Nơi nhận
- TAND thành phố Cần Thơ;
- VKSND khu vực 6-Cần Thơ;
- Phòng THAKV6, THADS TPCT;
- Các đương sự;
- UBNDMỹ Tú, TP.Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thu Hồng
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
Tải về
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất