Bản án số 21/2026/HNGĐ-PT ngày 12/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 21/2026/HNGĐ-PT ngày 12/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 21/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/06/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 21/2026/HNGĐ-PT Bản án số 21/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 21/2026/HNGĐ-PT Bản án số 21/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 21/2026/HNGĐ-PT
Ngày 12 - 6 - 2026
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Danh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành
Ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Thư phiên toà: Trần Thị Thu ơng - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Bà Phạm Thị Kim Anh
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 12 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử
công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ số 14/2026/TLPT-HNGĐ
ngày 22 tháng 4 năm 2026.
Do Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 16/2026/HNGĐ-ST ngày 04
tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm s27/2026/QĐ-PT ngày
27 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Thu T, sinh năm 1991; căn cước công dân
số: ************ cấp ngày 01/9/2021; nơi thường trú: Thôn N, V, tỉnh Phú
Thọ; nơi ở hiện tại: Thôn E, xã T, tỉnh Phú Thọ, (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Đặng Xuân H, sinh năm 1989; căn cước công dân số:
************ cấp ngày 01/9/2021; nơi thường trú: Thôn N, xã V, tỉnh Phú Thọ,
(có mặt).
3. Người kháng cáo: Bị đơn anh Đặng Xuân H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Phùng
Thị Thu T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Đặng Xuân H trên sđược
tìm hiểu tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân L vào ngày
29/11/2018. Quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng bình thường đến cuối năm
2
2019 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và do không tin tưởng nhau. Vợ
chồng nhiều lần dàn xếp nhưng không thành, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên
anh chị ly thân nhau và cắt đứt mọi quan hệ từ tháng 6 năm 2025 đến nay. Chị xét
thấy tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về con chung: Chị T xác định 03 con cháu Đặng Thị Thanh H1
cháu Đặng Thị Thùy T1 đều sinh ngày 02/10/2019 cháu Đặng Yến N, sinh
ngày 15/12/2022, các cháu đang sống cùng anh H. Ly hôn, chị đề nghị được nuôi
cháu Yến N. Anh H được nuôi cháu H1 và cháu T1. Chị và anh H không phải cấp
dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đặng Xuân H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh thừa nhận vquá trình kết hôn, thời gian
nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian ly thân như chị T trình bày đúng. Anh xác
định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh H thừa nhận có 03 con như chị T trình bày, hiện cả 03
cháu đang sống cùng anh. Ly hôn, anh đề nghị được nuôi cả 03 con, yêu cầu chị
T cấp dưỡng cho 1 cháu với mức 2.500.000đ/tháng, còn 02 cháu anh không yêu
cầu cấp dưỡng.
Về tài sản: Anh H không yêu cầu giải quyết.
Với nội dung như trên, tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số
16/2026/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10
Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều
147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày
30.12.2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Toà án, xử.
1. Cho chị Phùng Thị Thu T được ly hôn anh Đặng Xuân H.
2. Giao cho chị Phùng Thị Thu T được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi
dưỡng cháu Đặng Yến N, sinh ngày 15/12/2022. Anh Đặng Xuân H được tiếp tục
chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Thanh H1 cháu Đặng Thị Thùy
T1 đều sinh ngày 02/10/2019. Anh H, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con cho
nhau và có quyền thăm nom con không ai được cản trở.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06 tháng 3 năm 2026, bị đơn anh Đặng Xuân
H kháng cáo xin được nuôi cả 03 con đề nghị chị T cấp dưỡng
2.500.000đồng/tháng, mỗi năm một lần.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn anh H giữ nguyên kháng cáo xin nuôi cả
03 con yêu cầu chị T cấp dưỡng với mức 2.500.000đ/tháng đối với cháu N.
Anh H cho rằngchị T không đủ điều kiện để nuôi con do chị đã từng hành vi
bạo hành cháu T1, cháu H1, bỏ mặc con khi ốm đau. Nguyên đơn chị T không
3
đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, tại phiên tòa phúc thẩm chị có nguyện
vọng nuôi cả 03 con chung không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con
chung cùng chị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm khẳng
định trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm Thẩm
phán, Thư ký Tòa án Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục tố
tụng theo quy định; các đương sự đều chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn,
áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn anh Đặng Xuân H là hợp
lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn chị Phùng Thị Thu T kết hôn với bị
đơn anh Đặng Xuân H trên cơ sở được tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại
Ủy ban nhân dân L vào ngày 29/11/2018. vậy, quan hệ hôn nhân giữa
nguyên đơn với bị đơn hợp pháp, được pháp luật công nhận bảo vệ. Quá
trình giải quyết, các đương sự đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục
đích của hôn nhân không đạt được, hai bên không còn thương yêu, chăm sóc, giúp
đỡ, quan tâm đến nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc theo quy
định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ Điều 56 Luật hôn
nhân và gia đình, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận cho ly hôn để mỗi bên được tạo
lập cuộc sống mới theo yêu cầu của các đương sự căn cứ. Đồng thời giải
quyết tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đã giao 02 cháu Đặng Thị Thanh H1
Đặng Thị Thùy T1 cho bị đơn anh H nuôi dưỡng; giao 01 cháu Đặng Yến N cho
nguyên đơn chị T nuôi dưỡng.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo xin nuôi cả 03 con của bị đơn anh Đặng Xuân
H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ vào lời khai của các đương sự và giấy khai sinh của cháu H1, cháu
T1 và cháu N thì xác định chT, anh H có 03 con chung là cháu Đặng Thị Thanh
H1 và cháu Đặng Thị Thùy T1 đều sinh ngày 02/10/2019 cháu Đặng Yến N,
sinh ngày 15/12/2022, các cháu đang sống cùng anh H.
Thấy rằng, nguyện vọng xin nuôi con của các đương sđều chính đáng, thể
hiện tinh thần trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn của
các bên. Bị đơn anh H kháng cáo cho rằng nguyên đơn chị T không đủ điều
kiện nuôi con nhưng không tài liệu, chứng cứ chứng minh. Hội đồng xét xử
căn cứ vào tài liệu trong hsơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên tòa
thể hiện các đương sự đều nghề nghiệp công nhân, có thu nhập hàng tháng
4
ở mức trung bình, có chỗ ở ổn định, đều có khả năng nuôi con và đảm bảo quyền
lợi về mọi mặt cho các con. Trường hợp giao cả 03 cháu cho một người chăm sóc,
nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho các cháu và xâm
phạm đến quyền được nuôi con của người kia. Cháu Yến N còn nhỏ, cần sự chăm
sóc trực tiếp của người mẹ, cháu H1 cháu T1 lớn hơn và đang ở cùng bố nên
Tòa án cấp thẩm quyết định giao cho chị Phùng Thị Thu T được trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Yến N; anh Đặng Xuân H được chăm sóc, nuôi dưỡng
cháu Đặng Thị Thanh H1 cháu Đặng Thị Thùy T1 phù hợp. vậy, Hội
đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin nuôi cháu Đặng Yến N của
bị đơn anh Đặng Xuân H. Do yêu cầu kháng cáo xin được trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng cháu N của bị đơn không được chấp nhận nên việc anh H yêu cầu chị
T cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu N Hội đồng xét xử không đặt ra xem
xét.
[4] Đối với quyết định về việc ly hôn giữa chPhùng Thị Thu T và anh Đặng Xuân
H của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn
không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúc
thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68, 69 71 Luật
hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Đặng Xuân H.
Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 16/2026/HNGĐ-ST
ngày 04 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 Phú Thọ về nuôi
con.
Giao cho chị Phùng Thị Thu T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu
Đặng Yến N, sinh ngày 15/12/2022. Anh Đặng Xuân H được trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Thanh H1 cháu Đặng Thị Thùy T1 đều sinh ngày
02/10/2019. Các đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con chung quyền
thăm nom con không ai được cản trở.
2. Về án phí: Chị Phùng Thị Thu T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn
đồng) án phí ly hôn thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
5
theo biên lai số 0005043 ngày 10 tháng 11 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh
Phú Thọ. Xác nhận chị T đã nộp xong.
Anh Đặng Xuân H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí
hôn nhân gia đình phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm
ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001729 lập ngày 10 tháng 3 năm 2026 của
Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Xác nhận anh H đã nộp xong.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 10 – Phú Thọ;
- VKSND khu vực 10 – Phú Thọ;
- Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
(đã ký)
Nguyễn Thanh Danh
6
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 21/2026/HNGĐ-PT Bản án số 21/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 21/2026/HNGĐ-PT Bản án số 21/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất