Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 30/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 30/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Y về tranh chấp ly hôn nuôi con, chia tài sản chung đối vối ông Lê Việt S.1.1. Về hôn nhân
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU Độc lp - T do - Hnh phúc
Bản án số: 30/2026/HNGĐ-PT
Ngày 16 - 6 - 2026
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
và chia tài sản khi ly hôn
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn A Đam
Bà Châu Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Bé Tho - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Bùi
Trung Biển - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau, xét xử công
khai v án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ số 167/2026/TLPT-HNGĐ ngày
08/4/2026 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thm s 154/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Mau bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định
đưa vụ án ra xét x s 22/2026/QĐ-PT ngày 29/4/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh ngày 01/01/1987, (có mặt)
Căn cước: 095187003349, cấp ngày 02/02/2026
Địa chỉ: Khóm A, phường G, tnh Mau ịa chỉ cũ: Ấp A, P, thị G, tỉnh
Bạc Liêu).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà Y: Ông Lê Hoàng N là Luật sư thuộc
Công ty L2, Đoàn Luật sư tỉnh C, (vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Lê Việt S, sinh ngày 01/01/1989, (vắng mặt)
CCCD: ************, cấp ngày 22/8/2023
Địa chỉ: Khóm A, phường L, tnh Mau ịa chỉ cũ: Ấp A, xã P, thị G, tỉnh
Bạc Liêu).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông S: Ông Lê Văn B Luật sư, thuộc
Văn phòng L3, Đoàn Luật sư tỉnh C, (vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn B1, sinh ngày 09/3/1989, (vắng mặt)
CCCD: ************, cấp ngày 02/7/2021
Địa chỉ: khóm P, phường G, tỉnh Cà Mau.
3.2. Anh Lê Vỹ T, sinh ngày 04/5/2009, (vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm A, phường L, tnh Cà Mau.
Người giám hộ cho anh Lê Vỹ T: Ông Lê Việt S, sinh năm 1989 bà Nguyễn Thị
Ý, sinh năm 1987 là cha mẹ của Lê Vỹ T.
3.3. Bà Nguyễn Thị L1, sinh ngày 01/02/1972, (có mặt)
CCCD: ************, cấp ngày 09/8/2021
Địa chỉ: Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau.
3.4. Bà Nguyễn Thị B2, (vắng mặt)
Địa chỉ: khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau.
3.5. Ông Lê Thanh S1, (vắng mặt)
Địa chỉ: khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau.
3.6. Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1959, (vắng mặt)
3.7. Bà Ngô Thị B3, (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau.
3.8. Ông Đặng Quc C, (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã H, tỉnh Cà Mau
3.9. Ông Nguyễn Bé B4, (vắng mặt)
3.10. Bà Võ Thị D, (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: khóm P, phường G, tỉnh Cà Mau.
3.11. Ông Lê Văn B5, sinh năm 1958 (chết)
Địa chỉ: Khóm A, phường L, tnh Cà Mau.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng ca ông Lê Văn B5:
3.11.1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1958 (vắng mặt)
3.11.2. Ông Lê Chí T1, sinh năm 1980 (vắng mặt)
3.11.3. Ông Lê Văn H, sinh năm 1982 (vắng mặt)
3.11.4. Ông Lê Minh N2, sinh năm 1984 (vắng mặt)
3.11.5. Bà Lê Thị Kiều T2, sinh năm 1988 (vắng mặt)
3.11.6. Bà Lê Thị Kiều Y, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo:Nguyễn Như Ý1, sinh năm 1987
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2023 lời khai trong quá trình tố tụng Nguyễn
Thị Y, ông Lê Việt S thống nhất trình bày: Vào năm 2008, ông bà chung sống vợ chồng
với nhau, tổ chức lễ ới đăng kết hôn theo quy định của pháp luật, được Ủy
ban nhân dân xã P, th G cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 51/2008 ngày 16/8/2008.
Quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đến
năm 2023 vợ chồng không còn sống chung đến nay. Nay Y xác định tình cảm vợ chồng
không còn nên xin ly hôn, ông S đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Ý.
Về con chung: Ông S, bà Y thống nhất xác định vợ chồng có 01 con chung tên
Vỹ T, sinh ngày 04/5/2009 hiện đang sống với ông S, khi ly hôn Y ông S đều
yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Lời khai của cháu T
có nguyện vọng muốn được sống với ông S.
Về tài sản chung:
- Theo bà Y xác định trong thời gian chung sống vợ chồng tạo lập được các tài sản
sau:
Phần đất ngang 14m x chiều dài 8m, toạ lạc tại: khóm A, phường L, tnh Mau,
nguồn gốc do vợ chồng nhận chuyển nhượng của ông Văn Đ (S), với giá 8 chỉ vàng
24K, khi chuyển nhượng có làm giấy tay, có trưởng ấp ký xác nhận và những người lân
cận biết, nhưng hiện nay giấy tay này đã thất lạc, theo biên bản định giá xác định giá trị
phần đất 86.394.000 đồng.
Căn Nhà chính cấp IV: diện tích 123,63m
2
, do vợ chồng cùng thuê thợ xây
dựng trên phần đất ngang 14m x dài 8m, theo biên bản định giá xác định giá trị nhà
521.000.000đ; mái che trước bên hong diện ch 68,28m
2
, giá trị 30.000.000 đồng;
hàng rào cột tông lưới B40, dài 34,6m, giá tr8.200.000 đồng. Tổng giá trị nhà, đất
các công trình khác là 559.200.000 đồng.
Một tivi trị giá 4.000.000đ; một tivi trị giá 6.000.000 đồng; một tủ quần áo trị giá
6.000.000đ; một gường chồng trị giá 6.000.000đ; một tủ lạnh trị giá 6.000.000đ; một máy
lạnh trị giá 6.000.000đ; một xe Winner biển số 94D1 – 352.81 do bà Ý đứng tên đăng
xe, ông S đang quản lý sử dụng, trị giá 10.000.000 đồng.
Phần đất diện tích 12 công, loại đất trồng lúa, trong quá trình tố tụng Nguyễn
Thị Y yêu cầu xin rút lại đối với yêu cầu chia phần đất này.
Nay bà Ý yêu cầu chia ½ giá trị nhà đất, các công trình trên đất và các tài sản sinh
hoạt trong gia đình, yêu cầu được nhận tiền, đồng ý giao nhà đất các vật dụng sinh
hoạt trong gia đình cho ông S quản lý, sử dụng.
Về nợ chung: Bà Y xác định không có, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Theo ông S xác định trong thời gian chung sống vợ chồng có các tài sản chung
gồm:
Phần đất diện tích 10 công, loại đất vuông; toạ lạc tại: khóm P, phường G, tỉnh Cà
Mau. Nguồn gốc, do ông Nguyễn Bé B4 cha ruột của bà Ý lập Hợp đồng tặng cho bà
Ý, đến ngày 01/6/2023 Y được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích
13.441,1m
2
, thửa 64, tờ bản đ07, đến ngày 05/10/2023 bà Ý xác lập Hợp đồng tặng cho
ông Nguyễn Văn B1 toàn bộ phần đất diện tích 13.441,1m
2
, hiện nay ông Nguyễn Văn
B1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên yêu cầu huỷ hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất giữa bà Y và ông B1 đối với phần đất diện tích 13.441,1m
2
.
Số tiền 200.000.000 đồng cho ông Đặng Quc C ợn năm 2022, đến tháng
01/2023 ông C chuyển trả cho bà Nguyễn Thị Y 40.000.000 đồng, khi nhận tiền thì Y
không thông báo cho ông biết, còn lại 160.000.000 đồng ông C chưa trả, nhưng ông rút
lại một phần yêu cầu đối với số tiền 100.000.000đ, nay ông xác định số tiền 40.000.000
đồng ông C đã trả là tài sản chung yêu cầu chia 40.000.000 đồng.
Tài sản chung còn 01 tắm lắc trọng lượng 30 chỉ vàng 24K, 01 chiếc khâu trọng
ợng 10 chỉ vàng 24K, 04 bộ vòng Ximen gồm 28 chiếc vòng, trọng lượng 30 chỉ vàng
18K do bà Y quản lý nên ông yêu cầu chia, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu này là 03
tấm ảnh bà Y có đeo dây chuyền, vòng ximen.
Yêu cầu chia số tiền 380.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của Y, số
tiền này là tài sản chung vợ chồng, chứng cchứng minh theo sao kê ngân hàng thể hiện
số dư tại ngày 01/8/2023 là 380.000.000 đồng.
Đối với phần đất chiều ngang 14m x dài 08m căn nhà, các công trình phụ trên
đất vợ chồng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất này là của cha
ông, căn nhà, các công trình phụ cất trên đất do ông tự mua vật tư và thuê thợ xây dựng
nên là tài sản riêng của ông, ông không đồng ý chia theo yêu cầu của bà Y.
Đối với tài sản trong căn nhà gồm: Một tivi trị giá 4.000.000đ; một tivi trị giá
6.000.000 đồng; một tủ quần áo trị giá 6.000.000đ; một gường chồng trị giá 6.000.000
đồng; một Một tủ lạnh trị giá 6.000.000 đồng; một máy lạnh trị giá 6.000.000 đồng; một
xe Winner biển số 94D1 352.81 trị giá 10.000.000 đồng tài sản chung, đồng ý chia
mỗi người ½ giá trị, không yêu cầu nhận hiện vật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
- Em Vỹ T trình bày: Trong thời gian đi làm thuê em để dành tiền nhờ cha
mẹ mua được 01 sợi dây chuyền trọng lượng 10 chỉ vàng 18K, em đã giao cho Y là
mẹ ruột giữ, nên em yêu cầu bà Y giao trả lại.
- Nguyễn Thị L1 trình bày: Ngày 20/8/2018, Nguyễn Thị L1 mở dây hụi mùa
loại 5.000.000đ, một năm khui 03 lần, có 20 người tham gia, bà Y và ông S tham gia 01
chưng, do ông S đứng tên trên giấy hụi, người đóng hụi sống Y đóng mấy kỳ đầu,
còn mấy kkế tiếp Nguyễn Thị B2 đóng hụi sống, đến tháng 03/2020 bà Nguyễn
Thị B2 người hốt hụi được số tiền 63.100.000 đồng nhận tiền hốt hụi, Nguyễn
Thị B2 đã đóng được 04 lần hụi chết, còn lại 05 kỳ hụi chết số tiền 25.000.000đ Nguyn
Th B2 chưa đóng. Nay yêu cầu Y ông S nghĩa vụ trả cho bà s tiền
25.000.000đ.
Từ những nội dung trên, tại Bản án n nhân gia đình sơ thẩm số
154/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Mau đã quyết
định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Y về tranh chấp ly hôn
nuôi con, chia tài sản chung đối với ông Lê Việt S.
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Y được ly hôn với ông Lê Việt S.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Vỹ T, sinh ngày 04/5/2009 cho ông Lê Việt S tiếp
tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho
chị Y, chị Y quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Cấp dưỡng nuôi con
chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
3. Về Tài sản chung:
3.1. Chấp nhận một phần yêu cầu của Nguyễn Thị Y ông Việt S về việc
chia tài sản chung sau khi đối trừ.
Buộc ông Việt S hoàn trả giá trị tài sản cho Nguyễn Thị Y số tiền 44.560.000
đồng.
Ông Việt S được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích 227,3m
2
, thuộc thửa
363, tờ bản đồ số 6; phần đất diện tích 280,9m
2
thuộc thửa 124, tờ bản đồ số 29 (bản đ
chính quy 378) tài sản trên đất theo Mặt bằng hiện trạng khu đất tranh chấp giữa bà
Nguyễn Thị Y và anh Lê Việt S ngày 07/12/2023 Biên bản thẩm định tại chỗ lập ngày
06/02/2024.
Hai tivi; Một tquần áo; Một gường chồng; Một tủ lạnh; Một máy lạnh; Một xe
Winner biển số 94D1 35281; Cây cối trên đất; do bà Nguyễn Thị Y đứng tên đăng .
3.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Lê Việt S đối với yêu cầu
chia số vàng 01 tắm lắc (30 04) = 26 chỉ vàng 24K, tức 13 chỉ vàng 24K không được
chấp nhận, 01 chiếc khâu (10 04 = 06), tức 03 chỉ vàng 24K không được chấp nhận,
tổng cộng 16 ch vàng 24K không được chấp nhận và bộ vòng Ximen, bao gồm (28 – 16
= 12), tức 06 chỉ vàng 18K không được chấp nhận; phần đất diện tích 13.441,1m
2
và yêu
cầu huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Y ông B1 lập ngày 05/10/2023.
3.3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L1 yêu cầu bà Nguyễn Thị Y
ông Lê Việt S trả số tiền hụi còn thiếu 25.000.000 đồng.
4. Chấp nhận yêu cầu của cháu Vỹ T, buộc Nguyễn Thị Y trả cho cháu
Vỹ T 10 chỉ vàng 18K.
5. Đình chmột phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ý yêu cầu chia 12 công đất, phần
đất toạ lạc tại khóm A, phường G, tỉnh Cà Mau.
6. Đình chỉ một phần yêu cầu của ông Lê Việt S yêu cầu chia số tiền 160.000.000
đồng.
7. Về án phí:
- Buộc Nguyễn Thị Y nộp đối với số tiền giá ngạch được chia là 2.228.000
đồng, 5.419.000 đồng số vàng của cháu tường được chấp nhận, tổng cộng 7.647.000
đồng, sau khi đối trừ số tiền đã dự nộp 9.000.000 đồng, theo lai thu số 0008152, ngày
31/10/2023, tại Chi cục thi hành án thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (nay là Phòng thi hành
án khu vực 8 – Cà Mau), bà Nguyễn Thị Y được hoàn lại 1.353.000 đồng.
- Buộc ông Việt S nộp án phí đối với số vàng 16 chỉ vàng 24K không được chấp
nhận bằng số tiền 12.168.000 đồng, 06 chỉ ng 18K không được chấp nhận bằng số tiền
3.251.400 đồng, án phí yêu cầu 10 công đất không có giá ngạch là 300.000đ, tổng cộng
số tiền 15.719.400 đồng, sau khi đối trừ số tiền dự nộp 10.000.000đ lai thu số 0008374,
ngày 09/01/2024 tại Chi cục thi hành án thị Giá Rai (nay Phòng thi hành án khu vực
8 Cà Mau), ông Lê Việt S phải nộp thêm số tiền 5.719.400 đồng.
- Buộc Nguyễn Thị L1 phải nộp án phí số tiền 1.250.000 đồng, sau khi đối trừ
số tiền đã dự nộp 625.000đ, theo lai thu s0008388, ngày 17/01/2024, tại Chi cục thi
hành án thị Giá Rai (nay Phòng thi hành án khu vực 8 Mau), L1 phải nộp
thêm số tiền 625.000 đồng, tại Phòng thi hành án khu vực 8 – Cà Mau khi án có hiệu lực
pháp luật.
8. Chi phí tố tụng số tiền 3.859.782 đồng, bà Y ông S mỗi người phải chịu số
tiền 1.929.891 đồng. Buộc ông S hoàn trả lại cho bà Y số tiền 1.929.891 đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất trong giai đon thi hành án,
quyn yêu cu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 31/12/2025, Nguyễn Thị Ý kháng cáo một phần bản án thẩm, yêu cầu cấp
phúc thẩm sửa bản án thẩm về phần chia tài sản chung đối với tấm lắc 30 chỉ vàng 24k,
chiếc khâu 10 chỉ vàng 24k, bộ vòng ximen trị giá 30.000.000 đồng, số tiền trong i
khoản ngân hàng 380.000.000 đồng, stiền 40.000.000 đồng ông C trả và 10 chỉ vàng
18k trả cho Lê Vỹ T. Tại phiên toà phúc thẩm, bà Ý không cung cấp thêm chứng cứ nào
mới, vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ngày 05/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 Mau ban hành quyết
định kháng nghị, đề nghị cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm đối với phần chia
tài sản chung gồm tấm lắc 30 chỉ vàng 24k, chiếc khâu 10 chỉ vàng 24k, bộ vòng ximen
trị giá 30.000.000 đồng, số tiền trong tài khoản ngân hàng 380.000.000 đồng, số tiền
40.000.000 đồng ông C trả, 10 chỉ vàng 18k trả cho Lê Vỹ T và án phí chia tài sản chung.
Tại phiên tphúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau giữ nguyên quyết
định kháng nghị.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Y gửi bài luận cứ bào chữa, phân
tích đánh giá chứng cứ và lời khai của bà Y trong quá trình tố tụng, đề nghị hội đồng xét
xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Nguyễn Thị Y, sửa một phần Bản án hôn nhân
và gia đình sơ thẩm.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm về việc tuân theo pháp luật
trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án
đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán, Thư ký
phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện
kiểm sát nhân dân Khu vực 8 Mau kháng o của Nguyễn Thị Y, áp dụng
khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ
thẩm số 154/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Mau,
theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Lê Việt S như phân tích tại
quyết định kháng nghị và sửa phần án phí chia tài sản theo đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghị án. Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hình thức, nội dung đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị, thời hạn kháng
cáo, kháng nghị được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật Ttụng
dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về sự mặt của các đương sự: Tại phiên toà phúc thẩmÝ, bà L1 mặt,
luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Y, bị đơn ông S, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho ông S, những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan còn lại đã được
triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng đều vắng mặt không có lý do, không có người đại
diện không đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng
dân sự tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân và con chung, cấp dưỡng nuôi con: Y, ông S không
kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, nên cấp phúc thẩm
không đặt ra xem xét.
Đối với tài sản tranh chấp gồm: Phần đất diện tích 227,3m
2
, thuộc một phần thửa
363, tờ bản đồ số 6; phần đất diện tích 280,9m
2
, thuộc một phần thửa 124, căn nhà diện
tích 123,63m
2
, các công trình phụ trên đất và các vật dụng sinh hoạt trong gia đình hai
tivi; một tủ quần áo; một gường chồng; một tủ lạnh; một máy lạnh; một xe nhãn
hiệu Winner biển số 94D1 - 352.81. Sau khi xét x thẩm ông S, Y không kháng
o, Viện kiểm sát không kháng nghị không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật, nên cấp phúc thẩm không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Xét kháng cáo của bà Y không đồng ý chia tấm lắc trọng lượng 30 chỉ vàng
24k, chiếc nhẫn trọng ợng 10 chỉ vàng 24k, 04 bộ vòng ximen 28 chiếc trị giá
30.000.000 đồng.
Theo đơn khởi kiện Y xác định vợ chồng không có số vàng này. Tuy nhiên, ông
S yêu cầu phản tố xác định vợ chồng có svàng nêu trên yêu cầu chia. Chứng cứ
chứng minh ông S cung cấp 02 giấy xác nhận của hai tiệm vàng 03 tấm ảnh chụp
Ý có đeo dây chuyền màu vàng và vòng ximen.
Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình tố tụng Y xác định vợ chồng không có
số vàng trên, ông S xác định vợ chồng số vàng trên do Y quản lý, khi bỏ nhà đi
mang theo. Căn cứ xác nhận của tiệm V, Minh L xác định có giao dịch bán vàng cho vợ
chồng ông S nhưng không biết có bán cho vợ chồng ông S số ợng vàng bao nhiêu, bán
thời gian nào, căn cứ 03 tấm ảnh do ông S cung cấp không thể hiện bà Y có đeo lắc, hay
khâu vàng, hơn nữa 03 tấm ảnh không xác định thời gian Y đeo số nữ trang đó thời
gian nào, căn cứ nào xác định số nữ trang đang đeo trên hình vàng thật, cấp thẩm
căn cứ vào lời khai của ông S 03 tấm ảnh do ông S cung cấp đlàm n cchia s
vàng theo yêu cầu của ông S chưa căn cứ, trong quá trình tố tụng Y không thừa
nhận có giữ vàng và không mang theo khi về nhà cha mẹ ruột. Do đó, cấp phúc thẩm có
căn cứ chấp nhận kháng cáo này của bà Y.
Xét kháng cáo đối số tiền 40.000.000 đồng ông C trả. Hội đồng xét xử xét thấy,
theo xác nhận ông C thừa nhận có vay của vợ chồng ông S số tiền 100.000.000 đồng đã
trả được 40.000.000 đồng, còn nợ 60.000.000 đồng, nhưng ông C không xác định trả khi
nào, trong quá trình tố tụng Y xác định ông C có trả 40.000.000 đồng trong thời gian
vợ chồng còn chung sống, khi về nhà cha mẹ ruột bà không còn giữ số tiền này, ông S
không đưa ra được chứng cứ chứng minh Y khi về nhà cha mẹ mang theo số tiền
40.000.000 đồng do ông C trả, cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào yêu cầu của ông S chia số tiền
40.000.000 đồng do ông C trả là chưa có căn cứ.
Xét kháng cáo của Y đối với số tiền 380.0000.000 đồng trong tài khoản ngân
hàng. Hội đồng t xử xét thấy, theo bà Y xác định trong thời gian chung sống vợ chồng
buôn bán rau, củ, quả, tại chợ đầu mối T nên dùng tài khoản ngân hàng của để giao
dịch với khách hàng. Theo sao của Ngân hàng T3, ngày 31/7/2023 số trong tài
khoản còn 401.158.649 đồng, đến ngày 01/8/2023 số còn 380.000.000 đồng, đến ngày
30/9/2023 số còn 6.560.192 đồng, đến ngày 30/10/2023 số còn 155.000 đồng, ngày
17/10/2023 Y nộp đơn xin ly hôn. Như vậy, tại thời điểm Y làm đơn xin ly hôn
trong tài khoản ngân hàng của bà Y không còn số tiền 380.000.000 đồng, bà Y xác định
trong thời gian chung sống đã giao dịch hết số tiền 380.000.000 đồng trong đó giao
dịch trả cho khách hàng, rút đtrả nợ cho ông S đến khi làm đơn xin ly hôn tiền không
còn trong tài khoản, cấp sơ thẩm cho rằng Y không đưa ra được chứng cứ chứng minh
cho các giao dịch hết số tiền 380.000.000 đồng, nên chấp nhận yêu cầu của ông S chia số
tiền 380.000.000 đồng. Xét thấy, theo sao kê giao dịch trước khi có số tiền 380.000.000
đồng sau khi số tiền 380.000.000 đồng trong tài khoản thể hiện số tiền giao dịch
vào và ra rất nhiều và số tiền đã không còn trong tài khoản tại thời điểm vợ chồng không
còn sống chung, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu chia số tiền này của ông S, cp
thẩm căn cứ lời khai của ông S để chấp nhận yêu cầu chia số tiền này chưa căn
cứ, nên cấp phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Y.
Xét kháng cáo của Y đối với 01 sợ dây chuyền trng ng 10 chỉ vàng 18k của
cháu Lê Vỹ T. Trong quá trình tố tụng cháu T cũng như ông S không đưa ra được chứng
cứ chứng minh ông S, bà Y có mua cho cháu T sợi dây chuyền trọng lượng 10 chỉ vàng
18k hay cháu T làm để tiền mua vàng năm 2023 khi cháu chmới 13 tuổi, cháu T
không chứng minh được có sợi dây chuyền gửi cho bà Y giữ, ông S ng không chứng
cứ chứng minh bà Y quản lý sợi dây chuyền của cháu T, cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời
khai của ông S buộc bà Y giao trả cho cháu T 10 chỉ vàng 18k là không căn cứ, nên
cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo này của bà Y.
Từ những phân tích trên, căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Y, sửa một
phần bản án hôn nhân gia đình của Toà án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau.
[4] Xét kháng nghị của Viện kểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau:
[4.1] Xét kháng nghị đối tấm lắc trọng lượng 30 chỉ vàng 24k, 01 chiếc khâu trọng
ợng 10 chỉ vàng 24k; 04 bộ vòng ximen 28 chiếc trị giá 30.000.000 đồng, 01 cộng dây
chuyền của cháu T trọng lượng 10 chỉ vàng 18k, số tiền 40.000.000 đồng ông C trả và số
tiền 380.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của Y. Hội đồng xét xử xét thấy, như
đã phân tích nêu trên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 Mau căn
c nên được chấp nhận toàn bộ.
[4.2] Xét kháng nghị đối với án phí chia tài sản chung. Hội đồng xét xử xét thấy,
tổng giá trị tài sản chung của vợ chồng qua định giá 650.800.000 đồng, mỗi người được
chia giá trị tài sản bằng số tiền 325.400.000 đồng, nhưng cấp sơ thẩm buộc bà Y chịu án
phí số tiền 2.228.000 đồng và buộc ông S phải chịu án phí của phần yêu cầu chia tài sản
chung không được chấp nhận chưa đúng quy định pháp luật. Do đó, kháng nghị này
của Viện kiểm sát có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Theo đó, bà Y được chia giá trị tài sản tổng số tiền 325.400.000 đồng, phải chịu án
phí có giá ngạch bằng số tiền 16.270.000 đồng, ông S được chia bằng hiện vật nhưng có
giá tr 325.400.000 đồng thì cũng phải chịu án phí có giá ngạch số tiền 16.270.000 đồng,
các yêu cầu chia tài sản chung của ông S không được chấp nhận ông S không phải chịu
án phí.
[5] Xét đnghị của người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho Y: Hội đồng
xét xử xét thấy, luận cứ bào chữa của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Y
có căn cứ, phù hợp pháp luậtn được chấp nhận.
[6] Đối với yêu cầu của L1 yêu cầu ông S, Y giao trả số tiền hụi còn thiếu
25.000.000 đồng, mặc dù người tham gia chơi hụi là vợ chồng ông S, bà Y, nhưng người
hốt hụi, nhận tiền hụi B2, cấp thẩm xử không chấp nhận yêu cầu của L1 đòi
ông S, bà Y giao trả số tiền hụi chết thì bà L1 có quyền khởi kiện bà B2 giải quyết bằng
vụ án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xxét thấy như đã
phân tích, đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ, phù hợp, nên được chấp nhận.
[8] Các phần quyết định khác của Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số
154/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau không
có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lphí Tòa án,
Nguyễn Thị Y không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điu 308 Bộ luật Tố tụng n sự, chấp nhận kháng o của bà
Nguyễn Thị Y chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8
Mau, sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 154/2025/HNGĐ-ST
ngày 22/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Cà Mau.
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều
296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 33, 43, 51, 53, 56, 81, 82 Luật hôn nhân
và Gia đình năm 2014; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vQuốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Y về tranh chấp ly hôn nuôi
con, chia tài sản chung đối vối ông Lê Việt S.
1.1. Về hôn nhân: Xử cho Nguyễn Thị Y, sinh ngày 01/01/1987 được ly hôn với
ông Lê Việt S, sinh ngày 01/01/1989.
1.2. Về con chung: Giao cháu Lê Vỹ T, sinh ngày 04/5/2009 cho ông Việt S
tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Cấp dưỡng nuôi con: Ông Lê Việt S không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Bà Nguyễn ThY có quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản.
2.2. Về Tài sản chung:
- Chia cho Nguyễn Thị Y ½ gtrị phần đất 280,9m
2
,căn ndiện tích 123,63m
2
,
các công trình phụ trên đất các vật dụng sinh hoạt trong gia đình gồm 02 tivi, một tủ
quần áo; một gường chồng; một tủ lạnh; một máy lạnh; một xe mô tô nhãn hiệu Winner
biển số 94D1 - 352.81 bằng tổng số tiền 325.400.000 đồng (Ba trăm, hai mươi lăm triệu,
bốn trăm nghìn đồng).
- Chia và giao cho ông Lê Việt S được quyền quản sử dụng các phần đất diện tích
280,9m
2
, thuộc thửa 124, tờ bản đsố 29 (bản đồ chính quy 378), căn nhà diện tích
123,63m
2
, các công trình phụ xây dựng trên đất và các vật dụng sinh hoạt trong gia đình
gồm 02 ti vi; một tủ quần áo; một ờng chồng; một tủ lạnh; một máy lạnh; một xe
nhãn hiệu Winner biển kiểm soát 94D1 352.81 do Nguyễn Thị Y đứng tên đăng
ký xe.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y yêu cầu chia phần đất diện tích
227,3m
2
, thuộc thửa 363, tờ bản đồ số 6 (bản đồ chính quy 378).
- Ông Việt S quyền liên hệ quan thẩm quyền để khai, đăng ký lại
đối với chiếc xe tô nhãn hiệu Winner biển kiểm soát 94D1 352.81, theo quy định
pháp luật.
Vị trí, số đo các cạnh của các phần đất nêu trên, hiện trạng nhà và các công trình
phụ trên đất được thể hiện tại bản vẽ mặt bằng hiện trạng lập ngày 07/12/2023 Biên
bản xem xét thẩm định tại chỗ lập ngày 06/02/2024 được kèm theo Bản án và là bộ phận
không thể tách rời của Bản án.
- Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y yêu cầu chia phần đất diện tích 12 công,
toạ lạc tại: Khóm A, phường L, tỉnh Cà Mau.
- Đình chỉ yêu cầu của ông Lê Việt S yêu cầu chia số tiền 160.000.000đ ông Đặng
Quc C còn nợ.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tcủa ông Việt S yêu cầu chia 01 tấm lắc
trọng lượng 30 chỉ vàng 24k, 01 nhẫn trọng lượng 10 chỉ vàng 24k, 04 bvòng ximen 28
chiếc trị giá 30.000.000 đồng, số tiền 40.000.000 đồng do ông C trả, số tiền 380.000.000
đồng trong tài khoản ngân hàng do Nguyễn Thị Y đứng tên chủ tài khoản, yêu cầu chia
phần đất diện tích 13.441,1m
2
tại thửa 64, tờ bản đồ số 7 và yêu cầu huỷ hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Thị Y ông Nguyễn Văn B1 lp ngày 05/10/2023
đối với phần đất diện tích 13.441,1m
2
, tại thửa 64, tờ bản đồ số 7.
3. Không chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị L1 đòi Nguyễn Thị Y ông
Lê Việt S trả số tiền nợ hụi 25.000.000 đồng.
4. Không chấp nhận yêu cầu của cháu Vỹ T đòi Nguyễn Thị Y giao trả 01
sợi dây chuyền trọng lượng 10 chỉ vàng 18k.
5. Về án phí chia tài sản sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm định và án phí dân sự phúc
thẩm:
5.1. Án phí chia tài sản có giá ngạch:
- Buộc chị Nguyễn Thị Y phải nộp số tiền 16.270.000 đồng, bà Nguyễn Thị Y đã
nộp tạmng án phí số tiền 9.000.000 đồng, theo lai thu số 0008152, ngày 31/10/2023 tại
Chi cục thi hành án thị xã Giá Rai (nay là Phòng thi hành án khu vực 8 Cà Mau), đưc
đối trừ. Buộc Nguyễn Thị Y phải nộp thêm số tiền 7.270.000 đồng (Bảy triệu, hai trăm
bảy mươi nghìn đồng).
- Buộc ông Lê Việt S phải nộp số tiền 16.270.000 đồng, ông Lê Việt S đã nộp tạm
ứng án phí số tiền 10.000.000đ, theo biên lai thu số 0008374, ngày 09/01/2024, tại Chi
cục thi hành án thị Giá Rai (nay Phòng thi hành án khu vực 8 Mau) được đối
trừ. Buộc ông Việt S phải nộp thêm số tiền 6.270.000 đồng (Sáu triệu, hai trăm by
mươi nghìn đồng).
- Buộc Nguyễn Thị L1 phải nộp án phí 1.250.000đ, Nguyễn Thị L1 đã np
tạm ứng án phí số tiền 625.000đ, theo biên lai thu số 0008388, ngày 17/01/2024, tại Chi
cục thi hành án thị xã Giá Rai (nay là Phòng thi hành án khu vực 8 Cà Mau), được đối
trừ. Buộc bà Nguyễn Thị bà L1 phải nộp thêm số tiền 625.000 đồng (Sáu trăm hai mươi
lăm nghìn đồng).
5.2. Chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản số tiền 3.859.782 đồng (Ba triệu,
tám trăm năm mươi chín nghìn, bảy trăm tám mươi hai đồng), bà Nguyễn Thị Y và ông
Việt S mỗi người phải chịu stiền 1.929.891 đồng. Buộc ông Việt S trách nhiệm
hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Y số tiền 1.929.891 đồng (Một triệu, chín trăm hai mươi
chín nghìn, tám trăm chín mươi mốt đồng).
5.3. Án phí n sự phúc thẩm bà Nguyễn Thị Y không phải nộp, bà Nguyễn Thị Y
đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007476
ngày 31/12/2025, tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 Cà Mau được hoàn lại đủ.
6. Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
bản do Ngân hàng N3 công bố tại thời điểm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
7. Tờng hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị ỡng chế thi hành
án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Toà PT TANDTC tại Tp . HCM; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Cà Mau;
- TAND khu vực 8 – tỉnh Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 8 – Cà Mau;
- Các đương sự;
- u h sơ, Tổ HCTP.
Bùi Anh Tuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT Bản án số 30/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất