Bản án số 490/2022/DS- ngày 30/11/2022 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 490/2022/DS-
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 490/2022/DS-
| Tên Bản án: | Bản án số 490/2022/DS- ngày 30/11/2022 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hà Nội |
| Số hiệu: | 490/2022/DS- |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/11/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng BĐ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 490/2022/DS- PT
Ngày: 30/11/2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng
vay vốn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỒ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Toàn Giang
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Minh Hoàng
Ông Đinh Như Lâm
- Thư ký phiên toà: Ông Ninh Việt Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Ngô Phương Liên - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 361/2022/TLPT – DS ngày
06/10/2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay vốn”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 136 ngày 10/8/2022 của Toà án nhân dân
quận Đbị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 462/2022/QĐXX-PT
ngày 09/11/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hương H , sinh năm 1974
Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: P5 B4 khu tập thể YL, phường TQ, quận
Đ, Thành phố Hà Nội.
- Pháp nhân đại diện theo ủy quyền: Công ty Luật TNHH MTV SLC
Trụ sở: BT16A3-12 Làng Việt Kiều Châu Âu, Khu đô thị mới ML, phường
ML1, quận HĐ, Thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 01.3.2021)
- Người đại diện theo pháp luật: Luật sư Phạm Hồng S – Giám đốc.
Ông Phạm Hồng S cử luật sư Trần Văn V và bà Bùi Thu H tham gia tố tụng
(Quyết định ngày 17.6.2022). Bà Bùi Thu H có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng BĐ(PTICC)
Trụ sở: Số 82 (địa chỉ cũ 38) phố CL, phường LT, quận Đ, Thành phố Hà
Nội.
Địa chỉ liên lạc: Tầng 17 Tòa nhà M, số 5, ngõ 82 DT, phường DVH, quận
CG, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Phú B - Tổng giám đốc
- Người đại diện theo ủy quyền:
1. Ông Trịnh Quang C , địa chỉ: Số 165, ngõ 173, đường THoàng Hoa T ,
phường Ngọc H , quận BĐ , Thành phố Hà Nội. Vắng mặt .
2
2. Ông Bùi Hoài T , địa chỉ: Số 14, hẻm 267/2/16 đường THoàng Hoa T ,
phường LG , quận BĐ , Thành phố Hà Nội. Vắng mặt .
(Văn bản ủy quyền ngày 27.6.2022).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 04.10.2021 của bà Nguyễn Thị Hương H và
lời khai trong quá trình giải quyết vụ án do bà Bùi Thu H đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị Hương H nguyên là nhân viên kế toán thuộc Công ty
Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng BĐ (sau đây gọi tắt là Công ty). Năm 2008
khi Công ty gặp khó khăn cần huy động vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh, bà đã
cho Công ty vay vốn bằng khoản tiền lương mà Công ty nợ.
Ngày 26.3.2008, giữa bà Nguyễn Thị Hương H và Công ty ký Hợp đồng vay
vốn số 128/2008/PTICC-HĐVV, số tiền vay 85.522.225 đồng, mục đích vay là
phục vụ sản xuất kinh doanh theo phương án huy động vốn năm 2008, biện pháp
bảo đảm là tín chấp, thời hạn vay là 24 tháng kể từ ngày 27.3.2008. Lãi suất áp
dụng cho khoản vay từ ngày 27.3.2008 đến ngày 26.3.2009 là 8,5%/năm. Lãi suất
áp dụng cho khoản vay từ ngày 27.3.2009 sẽ áp dụng theo lãi suất trái phiếu Chính
Phủ (do Ngân hàng Phát triển Nhà nước Việt Nam phát hành loại thời hạn 5 năm)
kỳ gần nhất liền trước ngày 27.3.2009. Việc thay đổi lãi suất sẽ được PTICC thông
báo bằng văn bản qua đường thư, fax hoặc gửi trực tiếp đến Bên Cho vay. Trường
hợp PTICC không có thông báo thì lãi suất áp dụng trong thời kỳ trả nợ tiếp theo
được coi là không điều chỉnh và bằng lãi suất của kỳ hạn liền trước.
Tiền gốc, lãi được thanh toán làm 02 đợt:
- Đợt 1: Ngày 27.3.2009 thanh toán 50% nợ gốc + lãi
- Đợt 2: Ngày 27.3.2010 thanh toán hết nợ gốc + lãi
Năm 2012, hai bên ký Phụ lục 01- Hợp đồng vay vốn Cán bộ công nhân viên
để xác nhận lại số tiền vay giảm xuống vì giảm doanh thu quyết toán công ty trong
giai đoạn 2008-2010 do các cơ quan thanh tra kiểm tra xác định lại quỹ tiền lương,
số tiền lương công ty phải trả cho người lao động động từ 2004-2007 và trừ thuế
thu nhập cá nhân, các quỹ người lao động phải nộp năm 2008. Phụ lục xác định số
tiền gốc vay là 60.617.664 đồng, lãi phải trả đến ngày 31.12.2011, dự kiến trả hết
nợ gốc và lãi vào ngày 31.12.2014.
Công ty đã trả bà Nguyễn Thị Hương H 46.333.850 đồng nợ gốc, cụ thể
- Ngày 31.12.2008: Công ty trả 6.408.000 đồng
- Ngày 31.12.2009: Công ty trả 10.362.000 đồng
- Ngày 31.12.2010: Công ty trả 11.431.000 đồng
- Ngày 10.10.2012: Công ty trả 3.000.000 đồng
- Ngày 24.10.2012: Công ty trả 3.484.000 đồng
- Ngày 31.12.2014: Công ty trả 2.593.000 đồng
- Ngày 06.5.2015: Công ty trả 2.334.000 đồng
- Ngày 02.10.2015: Công ty trả 3.150.850 đồng
- Ngày 30.12.2015: Công ty trả 3.571.000 đồng
Công ty còn nợ gốc là 14.283.814 đồng.
3
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng vay vốn và Phụ lục 01, Công ty không
thanh toán đúng thỏa thuận qua việc chỉ trả một phần gốc và trả không đúng hạn,
không trả lãi vay.
Ngày 20.10.2019, Công ty gửi công văn (không số) yêu cầu bà Nguyễn Thị
Hương H mang Hợp đồng vay vốn và Phụ lục 01 của Hợp đồng đến đối chiếu, ký
xác nhận vào bảng số liệu nợ gốc tính đến ngày 30.8.2019 do Công ty lập. Công ty
sẽ tra soát, hoàn thiện hồ sơ đến trước 16h ngày 12.12.2019 và thanh toán sau 05
ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng. Tuy nhiên sau đó Công ty không thực
hiện thanh toán.
Nay bà Nguyễn Thị Hương H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
Buộc Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng BĐphải thanh toán cho bà
Nguyễn Thị Hương H nợ gốc là 14.283.814 đồng, nợ lãi từ ngày 27.3.2008 đến ngày
31.12.2011 (đã được xác nhận tại Phụ lục 01 năm 2012) là 15.237.512 đồng, nợ lãi từ
ngày 01.01.2012 đến ngày xét xử sơ thẩm 10.8.2022 với mức lãi suất 8,5%/năm là
16.871.785 đồng. Tổng cộng là 46.393.111 đồng.
Ngoài ra nguyên đơn không còn yêu cầu gì khác.
* Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt
không có lý do trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn không có văn bản
nêu quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không nộp tài liệu chứng
cứ ngoài việc gửi Giấy ủy quyền số 76/UQ-PTICO ngày 27.6.2022.
Bản án dân sự sơ thẩm số 136 ngày 10/8/2022 của Toà án nhân dân quận
Đđã Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hương H đối với Công
ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng BĐ(PTICO).
2. Buộc Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng BĐ(PTICO) phải thanh
toán cho bà Nguyễn Thị Hương H nợ gốc là 14.283.814 đồng, nợ lãi từ ngày
27.3.2008 đến ngày xét xử sơ thẩm 10.8.2022 là 32.109.297 đồng. Tổng cộng là
46.393.111 đồng (Bốn mươi sáu triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn, một trăm mười
một đồng)
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu, nếu người bị thi hành
án chưa thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì người bị thi hành án còn phải
chịu thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất được quy
định tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tương
ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án xong.
Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền
của bị đơn ông TQ Chiến và ông Bùi Hoài T kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị:
Công ty có chủ trương vay vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên việc
vay vốn của các cá nhân trong đó có bà Hà là không có thật vì Hợp đồng vay vốn
không phù hợp với quy định của pháp luật. Công ty không có phiếu thu tiền do bà
Hà nộp. Bà Hà cũng không xuất trình được chứng từ về việc nộp tiền vào công ty.
Đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn bà Hà và người đại diện theo ủy quyền đề nghị HĐXX
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
4
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy
định của BLTTDS.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân
dân thành phố Hà Nội đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, căn
cứ Khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 136/2022/DS-
ST ngày 10/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Đ, Thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn
ông TQ Chiến và ông Bùi Hoài T nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng
cáo, về hình thức là hợp lệ.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn
[2.1]. Ngày 26.3.2008 bà Nguyễn Thị Hương H và Công ty Cổ phần Tư vấn
Đầu tư và Xây dựng BĐký Hợp đồng vay vốn số 128/2008/PTICC-HĐVV ngày
26.3.2008 số tiền vay 85.522.225 đồng, mục đích vay là phục vụ sản xuất kinh
doanh theo phương án huy động vốn năm 2008, biện pháp bảo đảm là tín chấp, thời
hạn vay là 24 tháng kể từ ngày 27.3.2008. Lãi suất áp dụng cho khoản vay từ ngày
27.3.2008 đến ngày 26.3.2009 là 8,5%. Lãi suất áp dụng cho khoản vay từ ngày
27.3.2009 sẽ áp dụng theo lãi suất trái phiếu Chính Phủ (do Ngân hàng Phát triển
Nhà nước Việt Nam phát hành loại thời hạn 5 năm) kỳ gần nhất liền trước ngày
27.3.2009. Việc thay đổi lãi suất sẽ được PTICC thông báo bằng văn bản qua đường
thư, fax hoặc gửi trực tiếp đến Bên Cho vay. Trường hợp PTICO không có thông
báo thì lãi suất áp dụng trong thời kỳ trả nợ tiếp theo được coi là không điều chỉnh
và bằng lãi suất của kỳ hạn liền trước.
Tiền gốc, lãi được thanh toán làm 02 đợt:
- Đợt 1: Ngày 27.3.2009 thanh toán 50% nợ gốc + lãi
- Đợt 2: Ngày 27.3.2010 thanh toán hết nợ gốc + lãi
Năm 2012, hai bên ký Phụ lục 01- Hợp đồng vay vốn Cán bộ công nhân viên
để xác nhận lại số tiền vay giảm xuống vì giảm doanh thu quyết toán công ty trong
giai đoạn 2008-2010 do các cơ quan thanh tra kiểm tra xác định lại quỹ tiền lương,
số tiền lương công ty phải trả cho người lao động động từ 2004-2007 và trừ thuế
thu nhập cá nhân, các quỹ người lao động phải nộp năm 2008.
Phụ lục xác định số tiền gốc vay là 60.617.664 đồng, lãi phải trả đến ngày
31.12.2011, dự kiến trả hết nợ gốc và lãi vào ngày 31.12.2014.
Tại Phụ lục 01 Hợp đồng vay vốn cán bộ công nhân viên năm 2012 và Công
văn (không số) ngày 20.10.2019 Công ty xác nhận đã trả cho nguyên đơn
46.333.850 đồng, cụ thể:
- Ngày 31.12.2008: Công ty trả 6.408.000 đồng
- Ngày 31.12.2009: Công ty trả 10.362.000 đồng
- Ngày 31.12.2010: Công ty trả 11.431.000 đồng
- Ngày 10.10.2012: Công ty trả 3.000.000 đồng
- Ngày 24.10.2012: Công ty trả 3.484.000 đồng
- Ngày 31.12.2014: Công ty trả 2.593.000 đồng
5
- Ngày 06.5.2015: Công ty trả 2.334.000 đồng
- Ngày 02.10.2015: Công ty trả 3.150.850 đồng
- Ngày 30.12.2015: Công ty trả 3.571.000 đồng
Số tiền nợ gốc chưa thanh toán là 14.283.814 đồng. Quá trình vay vốn, Công
ty chưa thanh toán lãi cho bà Nguyễn Thị Hương H .
Theo Hợp đồng vay vốn số 128/2008/PTICC-HĐVV ngày 26.3.2008 ký giữa
hai bên, Phụ lục 01 Hợp đồng vay vốn cán bộ công nhân viên năm 2012 và Công
văn (không số) ngày 20.10.2019 Công ty gửi bà Nguyễn Thị Hương H xác nhận số
nợ gốc đã thanh toán và số nợ gốc chưa thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hương H tại
Bảng số liệu gốc vay theo hợp đồng vay vốn tính đến ngày 30.8.2019.
Bà Nguyễn Thị Hương H xác nhận Công ty đã thanh toán 46.333.850 đồng nợ
gốc, còn 14.283.814 đồng nợ gốc chưa thanh toán như các văn bản trên là đúng.
Bị đơn phía Công ty cho rằng Hợp đồng vay vốn là khống, giả tạo vì không có
giấy nộp tiền vào công ty. Đề nghị đưa ông Hoàng Ứng Huyền - nguyên giám đốc
Công ty là người ký hợp đồng vay vốn với nguyên đơn tham gia tố tụng với tư cách
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Xét thấy Hợp đồng vay vốn và Phụ lục 01 được ký kết giữa Công ty với bà
Nguyễn Thị Hương H là hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức hợp đồng phù
hợp với quy định của pháp luật nên xác định là hợp pháp và có hiệu lực thi hành
đối với các bên tham gia.
Do Công ty vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà Nguyễn Thị Hương H khởi kiện
yêu cầu Công ty phải thanh toán nợ gốc là 14.283.814 đồng:
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 155, Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân
sự 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên dơn và buộc Công ty trả
14.283.814 đồng nợ gốc cho bà Nguyễn Thị Hương H là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm, Công ty không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh
cho kháng cáo nên không có căn cứ để xem xét.
Xét hợp đồng vay vốn và Phụ lục 01, ông Hoàng Ứng Huyền ký hợp đồng vay
vốn với bà Nguyễn Thị Hương H với tư cách là người đại diện của Công ty, không
phải với tư cách cá nhân do đó không cần thiết đưa ông Hoàng Ứng Huyền tham gia
tố tụng.
[2.2]. Đối với yêu cầu tính lãi của số tiền cho vay: Như đã phân tích ở trên
Công ty phải có trách nhiệm trả lãi theo Hợp đồng vay vốn và Phụ lục 01 đã ký.
Lãi vay từ ngày 27.3.2008 đến ngày 31.12.2011 đã được các bên thống nhất
tại Phụ lục 01 là 15.327.512 đồng. Lãi vay từ ngày 01.01.2012 đến ngày xét xử tính
theo mức lãi suất 8,5%/năm đối với số tiền nợ gốc chưa trả là phù hợp với quy định
pháp luật nên được chấp nhận.
Buộc Công ty thanh toán nợ lãi cho bà Nguyễn Thị Hương H là 16.871.785
đồng, cụ thể:
- Từ ngày 01.01.2012 đến ngày 09.10.2012 là:
32.416.664 đồng x 0,0002329%/ngày x 283 ngày = 2.136.391 đồng.
- Từ ngày 10.10.2012 đến ngày 23.10.2012 là:
29.416.664 đồng x 0,0002329%/ngày x 14 ngày = 95.906 đồng.
- Từ ngày 24.10.2012 đến ngày 30.12.2014 là:
25.932.664 đồng x 0,0002329%/ngày x 798 ngày = 4.819.213 đồng.
- Từ ngày 31.12.2014 đến ngày 05.5.2015 là:
6
23.339.664 đồng x 0,0002329%/ngày x 126 ngày = 684.843 đồng.
- Từ ngày 06.5.2015 đến ngày 01.10.2015 là:
21.005.664 đồng x 0,0002329%/ngày x 149 ngày = 728.868 đồng.
- Từ ngày 02.10.2015 đến ngày 29.12.2015 là:
17.854.814 đồng x 0,0002329%/ngày x 89 ngày = 370.059 đồng.
- Từ ngày 30.12.2015 đến ngày 10.8.2022 là: 14.283.814 đồng x
0,0002329%/ngày x 2416 ngày = 16.871.785 đồng.
Tổng số tiền lãi Công ty phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hương H tạm
tính đến ngày 10.8.2022 là 32.109.297 đồng.
Từ những nhận định nêu trên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn
Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu điện.
[2.3]. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp với
nhận định của HĐXX.
[3] Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận Công
ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng BĐphải chịu án phí dân sự phúc thẩm, đối trừ
vào số tiền dự phí kháng cáo đã nộp.
Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng BĐphải
chịu 2.458.977 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Hương H không phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 155, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 688 Bộ luật dân sự 2015;
- Điều 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của
UBTVQH quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây
dựng BĐ(PTICO). Giữ nguyên giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 136/2022/DS-
ST ngày 10/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Đ, Thành phố Hà Nội và Quyết định
như sau:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hương H đối với Công
ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng BĐ(PTICO).
[2]. Buộc Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng BĐ(PTICO) phải thanh
toán cho bà Nguyễn Thị Hương H nợ gốc là 14.283.814 đồng, nợ lãi từ ngày
27.3.2008 đến ngày xét xử sơ thẩm 10.8.2022 là 32.109.297 đồng. Tổng cộng là
46.393.111 đồng (Bốn mươi sáu triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn, một trăm mười
một đồng)
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu, nếu người bị thi hành án
chưa thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì người bị thi hành án còn phải chịu
thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất được quy định
tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tương ứng với
thời gian và số tiền chưa thi hành án xong.

7
Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
[3]. Về án phí:
[3.1] Án phí dân sự sơ thẩm:
- Hoàn trả bà Nguyễn Thị Hương H 1.804.000 đồng (Một triệu, tám trăm linh
bốn nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2020/0069687 ngày
21.01.2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đ.
- Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng BĐphải chịu 2.319.656 đồng
(Hai triệu, ba trăm mười chín nghìn, sáu trăm năm mươi sáu đồng) án phí dân sự
sơ thẩm.
[3.2] Án phí dân sự phúc thẩm:
Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng BĐphải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự phúc thẩm, đối trừ vào số tiền dự phí kháng cáo đã nộp tại Biên lai thu số
AA/2020/0070690 ngày 30/8/2022 của Chi cục thi hành án quận Đ, Thành phố Hà
Nội .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSNDTP Hà Nội;
- TAND quận Đ;
- Chi cục THADS quận Đ;
- Các đương sự;
- Lưu văn phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Toàn Giang
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 18/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm