Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 47/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 47/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 47/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 47/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang, tỉnh An Giang |
| Số hiệu: | 47/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngày 21/6/2022 và ngày 30/6/2022, bà Lê Thị Mỹ D chuyển nhượng cho ông Trần Hữu N và bà Đại Kim H 2 thửa đất và căn nhà. Bà Duyên đã nhận đủ tiền nhưng không giao nhà đất. Ông N bà Hoa kiện yêu cầu bà Duyên giao nhà, đất. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15 – AN GIANG
TỈNH AN GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 47/2025/DS-ST
Ngày 30 tháng 9 năm 2025
T/c Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - AN GIANG
- Vi thnh phn Hi đng xt x sơ thẩm gm c:
Thm phn- Ch ta phiên ta: Ông Trần Văn Sáu.
Cc Hi thm nhân dân: Ông Võ Hoàng Nghiệp, ông Phan Phước Tân.
- Thư k phiên ta: Bà Trần Thanh Trúc Phương - Thư ký Ta án nhân dân
khu vực 15, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang tham gia
phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, ti trụ s Ta án nhân dân khu vực 15 – An Giang
(Cơ s 2) xt xử sơ thm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 537/2024/TLST-DS,
ngày 30 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xt xử số: 97/2025/2025/QĐXXST-DS,
ngày 25 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên ta số: 86/2025/QĐST-DS,
ngày 11 tháng 9 năm 2025, gia các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Hu N, sinh năm 1983; CCCD số: 089083034926 cấp
ngày 18/11/2021; nơi cư trú: Số A, tổ B, ấp Đ, xã N, tỉnh An Giang. Bà Đi Kim H,
sinh năm 1984; CCCD số: 089184002349; đăng ký thường trú: Khóm F, phường C,
tỉnh An Giang; chỗ hiện nay: Số A, tổ B, ấp Đ, xã N, tỉnh An Giang.
Đại diện theo y quyền ca ông Trần Hữu N và bà Đại Kim H: Bà Trần Thị
Liên H1, sinh năm 1957; nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường C, tỉnh An Giang.
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 07/11/2024 do Phòng C tỉnh An Giang công chứng).
(Vắng mặt)
Bị đơn: Bà Lê Thị Mỹ D, sinh năm 1990; CCCD số: 089190025085 cấp ngày
14/03/2022); nơi cư trú: Số A, tổ D, ấp V, xã V, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1954;
- Bà Lê Thị Mỹ D1, sinh năm 1949;
- Ông Lê Hoàng M, sinh năm 1980;
2
- Bà Trịnh Xuân H2, sinh năm 1982;
- Cháu Lê Trịnh Minh T, sinh ngày 07/11/2008;
- Cháu Lê Trịnh Minh Q, sinh ngày 23/5/2014.
Cùng nơi cư trú: Tổ D, ấp V, xã V, tỉnh An Giang.
Người gim h và là đại diện theo php luật ca cc chu Lê Trịnh Minh T, Lê
Trịnh Minh Q: Ông Lê Hoàng M và bà Trịnh Xuân H2 – Là cha, mẹ của cháu T và
cháu Q.
Tất cả các đương sự vắng mặt ti phiên Ta.
NỘI DUNG VỤ N:
Theo đơn khi kiện, bản tự khai của nguyên đơn; trình bày của bị đơn, người
có quyền lợi, ngha vụ liên quan; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến
ti phiên ta, nội dung vụ án như sau:
Bà Đi Kim H và ông Trần Hu N trình bày: Tháng 06/2022, vợ chồng bà H,
ông N có nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Mỹ D 02 thửa đất bao gồm 01 thửa đất
trồng cây lâu năm và 01 thửa đất thổ cư và căn nhà. Cụ thể:
- Thửa đất thứ nhất diện tích 2.019m
2
đất trồng cây lâu năm thuộc thửa số 227
tờ bản đồ số 44, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền s hu nhà và tài sản
gắn liền với đất (gọi tắt là GCN.QSDĐ) số bìa DE 599204, số vào sổ CS08740 do
S Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 17/6/2022 mang tên Lê Thị Mỹ D.
Giá chuyển nhượng 200.000.000 đồng và đã thanh toán xong, GCN.QSDĐ đã được
chỉnh lý biến động ngày 22/11/2023 sang tên Trần Hu N và Đi Kim H.
- Thửa đất thứ hai diện tích 656,2m
2
đất nông thôn thuộc thửa số 77 tờ bản
đồ số 44. Trên đất có căn nhà cấp 4 diện tích khoảng 150m
2
. Giá chuyển nhượng cả
nhà, đất là 500.000.000 đồng, đã thanh toán xong, đã thực hiện thủ tục sang tên và
đã được cấp GCN.QSDĐ số bìa DE 855959, số vào sổ CN09347 ngày 01/12/2023
mang tên Trần Hu N và Đi Kim H.
Cả 2 thửa đất nhận chuyển nhượng đều tọa lc ti ấp V, xã V, huyện A (nay là
ấp V, xã V), tỉnh An Giang.
Việc thanh toán tiền, thực hiện thủ tục sang tên đã hoàn tất nhưng bà D chưa
giao nhà, đất. Bà H, ông N kiện yêu cầu bà D và nhng người sống trong căn nhà có
trách nhiệm di dời tài sản cá nhân để giao 02 thửa đất và căn nhà cấp 4 bằng vật liệu
gỗ, tol, nền gch diện tích khoảng 150m
2
cho bà H, ông N sử dụng.
Bà Lê Thị Mỹ D trình bày: Bà D thừa nhận vào năm 2022, do cần tiền kinh
doanh nên bà D có chuyển nhượng cho vợ chồng bà Đi Kim H và ông Trần Hu N
02 thửa đất và căn nhà với giá 700.000.000 đồng như lời bà H, ông N trình bày. Bà
D đã nhận đủ tiền và đã thực hiện thủ tục chuyển chuyển quyền. Tuy nhiên do hoàn
cảnh gia đình gặp khó khăn, làm ăn thua lỗ nên bà chưa có nơi khác. Do đó bà D
xin được tiếp tục ổn định chỗ thời hn 01 năm sẽ giao 2 thửa đất và căn nhà cho
vợ chồng bà H, ông N.
Ông Lê Văn Đ trình bày: Ông Đ là cha của bà Lê Thị Mỹ D, nhà, đất mà bà D
3
chuyển nhượng cho ông N, bà H là của vợ chồng ông tặng cho bà D. Việc ông tặng
cho quyền sử dụng đất cho D là vì bà D cần vốn làm ăn, mà ông và vợ ông (bà Lê
Thị Mỹ D1) đã già nên không thể đi đứng ký giấy tờ. Do đó ông sang tên cho bà D
để bà D thuận tiện trong việc vay hỏi, chứ ông không cho bà D mang đi bán. Ngoài
ra, ông chỉ làm hợp đồng tặng cho đất chứ không tặng cho nhà. Vì căn nhà là do ông
và con trai tên Lê Hoàng M xây cất, là nơi duy nhất của ông cùng bà D1 và con,
cháu. Ngoài ra trên đất có trồng nhiều loi cây và mồ mả ông bà. Do đó ông đề nghị
Ta án có xem xt việc bà D tự ý bán 2 thửa đất và cả căn nhà cho bà H, ông N, yêu
cầu được ổn định ngôi nhà cho gia đình ông sinh sống. Tuy nhiên, nếu ông N, bà H
để li cho vợ chồng ông phần đất có mồ mả và hỗ trợ vợ chồng ông 50.000.000
đồng để cất nhà khác thì gia đình ông đồng ý di dời tài sản cá nhân để giao nhà, đất.
Bà Lê Thị Mỹ D1 thống nhất ý kiến của ông Lê Văn Đ. Đề nghị Ta án xem
xt để li phần đất có khu mộ cho gia đình bà.
Ông Lê Hoàng M trình bày: Ông M là con riêng của ông Lê Văn Đ, còn bà D
là con chung của ông Lê Văn Đ và bà Lê Thị Mỹ D1. Việc ông Đ và bà D1 tặng cho
bà D đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất thì ông hoàn toàn không
biết; việc bà D chuyển nhượng cho vợ chồng bà H, ông N thì ông cũng không biết.
Ông M là con trai sống chung nhà với ông Đ, bà D1 nên có đưa tiền sửa cha nhà
nhiều lần (không nhớ cụ thể). Ông xác định toàn bộ chi phí xây dựng căn nhà hiện
nay là tiền của cha ông và của ông, bà D không có đưa tiền vào xây nhà. Đối với vụ
án này, về phần đất ông không nhận từ cha mẹ nên ông không có ý kiến về phần
này, cn về phần căn nhà ông đề nghị Ta án có xem xt. Căn nhà hiện là nơi sinh
sống của cha, mẹ ông, thời gian gấp rút chưa tìm được chỗ mới. Ông M cũng đồng
ý với ý kiến của cha ông, tuy nhiên việc xây cất nhà mới mất nhiều thời gian, tốn
km nhiều chi phí. Do đó ông đề nghị cho thời hn 4 tháng để di dời đồ đc.
Bà Trịnh Xuân H2 trình bày: Bà H2 là vợ ông Lê Hoàng M, trước đây bà sống
chung nhà với gia đình ông Đ. Khoảng tháng 11/2024 thì bà chuyển về nhà mẹ ruột
ti ấp P, xã P buôn bán và sinh sống cho đến nay. Thỉnh thoảng bà có về thăm cha
mẹ chồng. Đối với vụ án này thì bà không có ý kiến do bà là phận dâu con.
Ti Biên bản ha giải ngày 25/8/2025, ông Trần Hu N, bà Đi Kim H, ông Lê
Văn Đ, bà Lê Thị Mỹ D1, ông Lê Hoàng M thỏa thuận thống nhất: Ông Trần Hu N
và bà Đi Kim H tặng cho li ông Đ, bà D1 1.000m
2
thửa đất số 227, tờ bản đồ số
44, vị trí tính từ sau hậu tr về trước. Ngược li, trong thời hn 03 tháng, gia đình
ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị Mỹ D1, ông Lê Hoàng M di dời tài sản, vật dụng cá nhân
để giao căn nhà và toàn bộ khu đất cn li của 2 thửa đất mà bà D đã chuyển
nhượng cho bà H, ông N. Chi phí và việc thực hiện thủ tục sang tên phần đất diện
tích 1.000m
2
do ông Lê Văn Đ và bà Lê Thị Mỹ D1 tự chịu. Về án phí và chi phí đo
đc, thm định ông N, bà H tự nguyện chịu.
Theo kết quả thm định ngày 28/5/2025 thì trên 2 thửa đất có trồng nhiều loi
cây như: Chuối, xoài, me chua, chanh dây, cng, gáo, dừa, mãng cầu, khế, cóc, bch
đàn, dầu…Ngoài ra, Trên thửa đất số 277 có khu mộ xây gch, xi măng, cao 0,8m
so mặt đất, trên khu mộ có 05 ngôi mộ. Trên thửa đất số 77 có ngôi nhà cấp 4, tường
gch, nền trệt lót gch men, bên trong có 02 phng ngủ, 02 nhà vệ sinh. Cặp nhà
4
chính có mái che khung sắt, lợp tole, nền tráng xi măng. Phía sau căn nhà có chuồng
heo khung gch, tráng xi măng, có 03 hộc, không mái che. Các đương sự không
tranh chấp cây trồng trên đất.
Theo Bản vẽ hiện trng khu đất ngày 19/6/2025 và Bản vẽ hiện trng khu đất
(bổ sung) ngày 10/9/2025 thì căn nhà chính có diện tích 139,4m
2
; khung sắt, mái
tole có diện tích 30,1m
2
; chuồng heo có tổng diện tích 46,5m
2
; khu mộ có diện tích
26,6m
2
.
Ti phiên ta, Hội đồng xt xử công bố đơn khi kiện, các biên bản ha giải và
các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Quan điểm của đi diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Ta án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tiến hành thu thập
chứng cứ đúng quy định của pháp luật. Thành phần Hội đồng xt xử không thuộc
trường hợp phải thay đổi. Tiến hành xt xử vắng mặt đối với các đương sự là phù
hợp quy định ti Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ hồ sơ trích lục do Văn phng đăng ký đất đai tỉnh A - Chi
nhánh khu vực liên xã A cung cấp; căn cứ Bản vẽ hiện trng, Biên bản xem xt
thm định ti chỗ; lời trình bày của các đương sự có căn cứ xác định: Bà Lê Thị Mỹ
D có chuyển nhượng cho ông Trần Hu N và bà Đi kim H thửa đất số 77 và thửa
đất số 277, tờ bản đồ số 44. Việc thanh toán và thủ tục sang tên đã hoàn tất nhưng
bà D chậm giao nhà, đất. Do đó đề nghị Ta án chấp nhận yêu cầu của ông N, bà H.
Đồng thời công nhận sự tự nguyện của ông N, bà H tặng cho li ông Đ, bà D1 phần
đất có khu mộ diện tích 1.000m
2
thửa đất số 277, tờ bản đồ số 44 theo thỏa thuận
gia ông N, bà H, ông Đ, bà D1 và ông M được ghi nhận ti Biên bản ha giải ngày
25/8/2025.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thm tra ti phiên ta
và căn cứ vào kết quả tranh luận ti phiên ta, quan điểm của đi diện Viện kiểm
sát, Hội đồng xt xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về tư cách tham gia tố tụng: Theo đơn khi kiện thì ông Trần Hu N, bà
Đi Kim H kiện yêu cầu bà Lê Thị Mỹ D thực hiện việc giao tài sản là nhà, đất theo
Hợp đồng chuyển nhượng. Xác định ông N, bà H là nguyên đơn, bà D là bị đơn. Khi
tiến hành thm định ti chỗ xác định được sống trong căn nhà mà bà D chuyển
nhượng có ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị Mỹ D1, ông Lê Hoàng M, bà Trịnh Xuân H2,
cháu Lê Trịnh Minh T, Lê Trịnh Minh Q, nên đưa các ông, bà Đ, D1, M, H2 và các
cháu T, Q tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, ngha vụ liên quan.
[1.2] Về việc vắng mặt ti phiên ta: Ta án đã tống đt hợp lệ Quyết định đưa
vụ án ra xt xử, Quyết định hoãn phiên ta nhưng tất cả các đương sự vắng mặt. Các
ông, bà Trần Hu N, Đi Kim H, Lê Văn Đ, Lê Thị Mỹ D1, Lê Hoàng M, Trịnh
Xuân H2 có đơn xin vắng mặt; bà Lê Thị Mỹ D vắng mặt lần thứ hai không lý do.
Như vậy các đương sự đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng, nên tiến hành xt xử
vắng mặt họ là phù hợp quy định ti các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
5
[1.3] Về quan hệ tranh chấp và thm quyền giải quyết: Ông N, bà H kiện yêu
cầu bà D giao tài sản nhà, đất theo các Hợp đồng chuyển nhượng; bà D chậm giao
tài sản do hoàn cảnh khó khăn, chưa tìm được nơi khác. Xác định quan hệ tranh
chấp “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, là tranh chấp dân
sự. Nhà, đất tranh chấp tọa lc xã V, tỉnh An Giang nên thuộc thm quyền giải quyết
của Ta án nhân dân khu vực 15, tỉnh An Giang theo quy định ti các Điều 26, 35,
39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[1.4] Về thời hiệu: Trong vụ án này, các đương sự không yêu cầu áp dụng thời
hiệu.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hình thức và nội dung các hợp đồng chuyển nhượng:
Bà Lê Thị Mỹ D chuyển nhượng cho ông Trần Hu N và bà Đi Kim H 02
thửa đất, thể hiện bằng 2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Hợp đồng thứ nhất được lập ngày 21/6/2022 đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ
số 44 (GCN.QSDĐ số CS 08740 cấp ngày 17/6/2022 mang tên Lê Thị Mỹ D). Hợp
đồng được lập thành văn bản, được Phòng C tỉnh An Giang chứng thực, nên đảm
bảo về hình thức. Nội dung, bà D chuyển nhượng cho ông N, bà H thửa đất số 277,
diện tích 2.019m
2
, giá chuyển nhượng 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Đồng thời
các đương sự cũng có thỏa thuận cho chuộc li trong thời hn 06 tháng tính từ ngày
21/6/2022 đến ngày 21/12/2022. Nếu trong thời hn trên bà D không chuộc li thì
ông N, bà H được thực hiện thủ tục sang tên và bà D có ngha vụ giao tài sản chuyển
nhượng. Việc thỏa thuận này là phù hợp quy định ti Điều 454 Bộ luật Dân sự. Tuy
nhiên bà D đã không chuộc li theo thời hn thỏa thuận, nên ông N, bà H đã thực
hiện thủ tục sang tên và được cấp Giấy chứng nhận là phù hợp quy định.
(GCN.QSDĐ cấp ngày 17/6/2022 mang tên Lê Thị Mỹ D được chỉnh lý trang 2
sang tên Trần Hu N và Đi Kim H).
Hợp đồng thứ hai được lập ngày 30/6/2022 đối với thửa đất số 77, tờ bản đồ số
44 (GCN.QSDĐ số 02618/dL cấp ngày 19/12/2003 mang tên Lê Văn Đ đã được
chỉnh lý trang 4 sang tên Lê Thị Mỹ D ngày 23/6/2022 ). Hợp đồng được lập thành
văn bản, được Phòng C tỉnh An Giang chứng thực, nên đảm bảo về hình thức. Nội
dung, bà D chuyển nhượng cho ông N, bà H thửa đất số 77, diện tích 656,20m
2
cùng
căn nhà trên đất, giá chuyển nhượng 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Đồng thời
các đương sự cũng có thỏa thuận cho chuộc li trong thời hn 06 tháng tính từ ngày
28/6/2022 đến ngày 28/12/2022. Nếu trong thời hn trên bà D không chuộc li thì
ông N, bà H được thực hiện thủ tục sang tên và bà D có ngha vụ giao tài sản chuyển
nhượng. Việc thỏa thuận này là phù hợp quy định ti Điều 454 Bộ luật Dân sự. Tuy
nhiên bà D đã không chuộc li theo thời hn thỏa thuận, nên ông N, bà H đã thực
hiện thủ tục sang tên và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền s
hu nhà và tài sản gắn liền với đất số CN09347 cấp ngày 01/12/2023 mang tên
ông Trần Hu N và bà Đi Kim H là phù hợp quy định.
Nhận thấy cả 2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đảm bảo về mặt
hình thức và nội dung theo quy định ti các Điều 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự; ông
N, bà H đã thực hiện đăng ký ti cơ quan đăng ký đất đai và đã được cấp đổi sang
6
tên là đã phát sinh hiệu lực theo quy định ti khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm
2013 (thời điểm Luật có hiệu lực). Ông N, bà H cũng đã thực hiện ngha vụ trả tiền
theo thỏa thuận, thời hn giao tài sản được thỏa thuận trong hợp đồng cũng đã hết.
Do đó chấp nhận yêu cầu của ông N, bà H, buộc bà D có ngha vụ giao tài sản nhà,
đất cho ông N, bà H theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
21/6/2022 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/6/2022.
Tuy nhiên trên khu đất bà D chuyển nhượng cho ông N, bà H có khu mộ của
họ tộc ông Đ, bà D1. Quá trình ha giải ông N, bà H tự nguyện tặng cho li ông Đ,
bà D1 1.000m
2
phần đất có khu mộ; ông Đ, bà D1, ông M cũng đồng ý di dời vật
dụng cá nhân giao căn nhà cho ông N, bà H. Nhận thấy sự tự nguyện tặng cho li
đất của ông N, bà H là có lợi cho gia đình ông Đ, bà D1, thể hiện được giá trị đo
đức tốt đẹp và không trái pháp luật. Do đó công nhận sự tự nguyện này của của các
đương sự.
[3] Về án phí và chi phí tố tụng:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, lẽ ra bị đơn bà Lê Thị Mỹ D phải
chịu toàn bộ án phí và chi phí đo đc, thm định. Tuy nhiên do nguyên đơn ông N,
bà H tự nguyện chịu là có lợi cho bà D, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 454, 500, 501, 502 Bộ luật dân sự;
Căn cứ các Điều 26, 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; các khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/NQUBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q1,
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khi kiện của nguyên đơn,
1. Buộc bà Lê Thị Mỹ D có trách nhiệm giao 2 thửa đất và tài sản gắn liền với
đất đã chuyển nhượng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
21/6/2022 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/6/2022 cho ông
Trần Hu N và bà Đi Kim H (thửa đất số 77, tờ bản đồ số 44, diện tích 656,20m
2
và thửa đất số 277, tờ bản đồ số 44, diện tích 2.019m
2
).
Bà Lê Thị Mỹ D, ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị Mỹ D1, ông Lê Hoàng M, bà Trịnh
Xuân H2 có trách nhiệm di dời tài sản, vật dụng cá nhân để giao căn nhà cấp 4,
tường gch, nền trệt lót gch men, diện tích 139,4m
2
nằm trên thửa đất số 77, tờ bản
đồ số 44 cho ông Trần Hu N và bà Đi Kim H. Thời hn di dời tài sản, vật dụng cá
nhân để giao căn nhà là 03 (ba) tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
2. Công nhận sự tự nguyện của ông N, bà H tặng cho li ông Lê Văn Đ và bà
Lê Thị Mỹ D1 phần đất diện tích 1.000m
2
cùng các tài sản gắn liền với đất trong
thửa đất số 277, tờ bản đồ số 44 (vị trí theo các điểm 40, 41, 42, a, b của Bản vẽ hiện
trng khu đất bổ sung ngày 10/9/2025 của Văn phng đăng ký đất đai tỉnh A – Chi
nhánh khu vực liên xã A).
Ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị Mỹ D1 có trách nhiệm liên hệ cơ quan đăng ký đất
đai thực hiện thủ tục sang tên và chịu toàn bộ chi phí.
7
3. Về án phí và chi phí tố tụng:
Về án phí: Ông Trần Hu N và bà Đi Kim H tự nguyện chịu 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng án phí dân sự sơ thm. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tm ứng
án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà ông N, bà H đã nộp theo Biên lai thu số
0010119 ngày 30/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (nay là
Phng Thi hành án dân sự khu vực 15, tỉnh An Giang).
Về chi phí đo đc, thm định: Ông Trần Hu N và bà Đi Kim H tự nguyện
chịu toàn bộ chi phí đo đc, thm định 3.367.488 (ba triệu ba trăm sáu mươi bảy
nghìn bốn trăm tám mươi tám) đồng. (đã nộp đủ).
4. Về quyền kháng cáo:
Án tuyên công khai vắng mặt các đương sự. Thời hn kháng cáo của các đương
sự là 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đt hợp lệ theo quy định.
(Kèm theo và không tách rời Bản án này là Bản vẽ hiện trng khu đất bổ sung
ngày 10/9/2025 của Văn phng đăng ký đất đai tỉnh A – Chi nhánh khu vực liên xã
A).
Nơi nhận:
- TAND tỉnh An Giang (1);
- VKSND tỉnh An Giang (1);
- VKSND khu vực 15 (1);
- Phng THADS khu vực 15 (1);
- Các đương sự;
- UBND xã Vnh Hậu (1);
- Lưu văn phng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Trần Văn Sáu
8
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng