Bản án số 43/2024/HC-ST ngày 09/08/2024 của TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 43/2024/HC-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 43/2024/HC-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 43/2024/HC-ST
Tên Bản án: | Bản án số 43/2024/HC-ST ngày 09/08/2024 của TAND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Xuân Lộc (TAND tỉnh Đồng Nai) |
Số hiệu: | 43/2024/HC-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 09/08/2024 |
Lĩnh vực: | Hành chính |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ án: | Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 43/2024/HC-ST
Ngày: 09 - 8 - 2024
“V/v yêu cầu hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Thu Vân
2. Ông Nguyễn Ngọc Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương - Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà
Đoàn Thị Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 35/2023/TLST- HC ngày 12 tháng 4 năm
2023 về “Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HC ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa các
đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Hồ K - sinh năm 1964 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp S, xã X, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Võ Nhật V – sinh năm
1991; Địa chỉ: Ấp 2, xã X, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (Văn bản ủy quyền ngày
15/5/2023) (vắng mặt)
- Người bị kiện: UBND huyện Xuân Lộc
Địa chỉ trụ sở: 227 Hùng Vương, thị trấn G, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn L; chức vụ:
Phó Chủ tịch UBND huyện Xuân Lộc (Văn bản ủy quyền ngày 26/5/2023).
(vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:Ông Lê Xuân
K; Chức vụ: Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Xuân Lộc.
(vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trương Thị Đ – sinh năm 1957; Địa chỉ: Ấp S, xã X, huyện L, tỉnh
Đồng Nai. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bà Trương Thị Đ: Bà Huỳnh Thị Kim X –
sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp 3, xã X, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Văn bản ủy quyền
2
ngày 30/12/2022). (vắng mặt)
2. Bà Trần Thị Bích P – sinh năm 1991; Ấp S, xã X, huyện L, tỉnh Đồng
Nai. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bà Trần Thị Bích Phượng: Bà Huỳnh Thị
Kim X– sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp 3, xã X, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Văn bản
ủy quyền ngày 30/12/2022). (vắng mặt)
3. Bà Nguyễn Thị Thu H – sinh năm 1964; Địa chỉ: Ấp S, xã X, huyện L,
tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thu Hà: Ông Võ Nhật V –
sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp 2, xã X, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Văn bản ủy quyền
ngày 15/5/2023). (vắng mặt)
4. Ông Lâm Quang T – sinh năm 1959 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp S, xã X, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Nhật
Vương đại diện theo ủy quyền của ông Hồ K trình bày:
Cha ông Hồ K là ông Hồ K1 có khai hoang diện tích đất khoảng 1.700m
2
vào năm 1986, ông K1 sử dụng đến năm 1996 thì tặng cho ông K1 sử dụng ổn
định từ đó đến nay. Ông Hồ K1 đã chết vào ngày 30/3/2014. Năm 2021, khi ông
Hồ K thực hiện đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần
diện tích đất nói trên thì mới được biết phần diện tích đất của ông Hồ K thuộc
một phần thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 (cũ) xã Xuân Tâm đã được UBND
huyện Xuân Lộc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu tiên là số O
092717 ngày 27/02/1999 cho hộ ông Lê Quốc V; Ngày 24/3/2000, hộ ông Lê
Quốc V chuyển nhượng thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 cũ xã Xuân Tâm cho hộ
bà Trương Thị Đ và hộ bà Trương Thị Đ đã được UBND huyện Xuân Lộc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 220076 ngày 02/6/2010.
Khi phát hiện ra sự việc nhầm lẫn trên thì UBND xã Xuân Tâm đã làm
việc với các bên liên quan và đã lập hồ sơ đề nghị UBND huyện Xuân Lộc thu
hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 220076 ngày 02/6/2010 cấp cho
hộ bà Trương Thị Đ. Tuy nhiên, sau đó, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng
Nai – Chi nhánh Xuân Lộc đã có Công văn số 3902/VPĐK.XL-ĐKTK ngày
16/11/2021 trả hồ sơ về cho UBND xã Xuân Tâm để hướng dẫn cho bà Đ
chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân dân giải quyết việc hủy bỏ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, vì không thuộc trường hợp thu
hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên nền bản đồ địa chính mới được đo
vẽ năm 2012, thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 (cũ) xã Xuân Tâm được đo mới
thành các thửa 42, 44, 45, 48, tờ bản đồ số 18 xã Xuân Tâm. Diện tích đất của
ông Hồ K đang sử dụng thuộc thửa 42, tờ bản đồ số 18 xã Xuân Tâm, có diện
tích 1.709,4 m
2
. Nay, ông Hồ K yêu cầu tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BB 220076 ngày 02/6/2010 do UBND huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng
Nai đã cấp cho hộ bà Trương Thị Đ đối với thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 (cũ)
xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai để ông K làm thủ tục đăng ký, kê
3
khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 42, tờ bản đồ số 18 xã
Xuân Tâm theo quy định của pháp luật.
* Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Xuân Lộc do ông Nguyễn Văn L
đại diện trình bày:
Ngày 04/4/1997, ông Lê Quốc V kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận
diện tích 9.935m
2
, thuộc thửa đất số 157, tờ bản đồ số 05, xã Xuân Tâm, đất có
nguồn gốc phục hóa năm 1994. Ngày 14/2/1999, Hội đồng xét duyệt cấp giấy
chứng nhận xã Xuân Tâm có Biên bản xét duyệt 477 hộ đủ điều kiện cấp giấy.
Ngày 14/2/1999, UBND xã Xuân Tâm có Thông báo số 09/TB/UB về việc công
khai hồ sơ đăng ký đất và biên bản kết thục công khai hồ sơ đăng ký đất ngày
02/3/1999; Ngày 23/2/1999, UBND xã Xuân Tâm có Tờ trình số 10/TT.UBX về
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 26/2/1999, Phòng Địa chính
có Tờ trình số 94/TT.ĐC và được UBND huyện Xuân Lộc cấp giấy chứng nhận
số Q 092717 ngày 27/2/1999 cho hộ ông Lê Quốc V tại Quyết định số
211/1999/QĐ.UBH ngày 27/2/1999. Đến ngày 24/3/2000, hộ ông Lê Quốc V
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho hộ bà Trương Thị Đ đối với diện tích
9.935m
2
, thuộc thửa đất số 157, tờ bản đồ số 05, xã Xuân Tâm và được UBND
huyện Xuân Lộc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 220076 ngày
02/6/2010.
Căn cứ Luật đất đai năm 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004 của Chính Phủ, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của
Chính Phủ, UBND huyện Xuân Lộc cấp giấy chứng nhận số BB 220076 ngày
02/6/2010 cho hộ bà Trương Thị Đ diện tích 9.935m
2
, thuộc thửa đất số 157, tờ
bản đồ số 05, xã Xuân Tâm là đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Tuy nhiên tại
Văn bản số 567/UBND-KT ngày 09/11/2021 của UBND xã Xuân Tâm xác định
diện tích khoảng 3.000m
2
thuộc một phần thửa đất số 157, tờ bản đồ 05 xã Xuân
Tâm do ông Lâm Quang T và ông Hồ K1 đang trực tiếp sử dụng nhưng cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Trương Thị Đ. Do đó, đề nghị Tòa án
thu thập chứng cứ, tài liệu có liên quan để đưa vụ án ra xét xử, đảm bảo theo
quy định pháp luật.
* Người liên quan bà Trương Thị Đ do bà Huỳnh Kim X đại diện trình
bày:
Ngày 24/3/2000, hộ ông Lê Quốc V có chuyển nhượng thửa đất số 157, tờ
bản đồ số 5 (cũ) xã Xuân Tâm cho hộ bà Trương Thị Đ và hộ bà Trương Thị Đ
đã được UBND huyện Xuân Lộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB
220076 ngày 02/6/2010, diện tích 9.935m
2
. Tuy nhiên, phần đất hai bên thực tế
chuyển nhượng cho nhau chỉ khoảng 7.000m
2
, nhưng hai bên chuyển nhượng lại
không phát hiện ra sai sót. Đến năm 2021, UBND xã Xuân Tâm có mời bà
Trương Thị Đ ra làm việc về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
BB 220076 ngày 02/6/2010 có phần đất cấp nhầm của người khác cho bà
Trương Thị Đ. Cụ thể, có khoảng 1.700m
2
của ông Hồ K bị gộp vào thửa đất số
157, tờ bản đồ số 5 cũ xã Xuân Tâm, đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số BB 220076 ngày 02/6/2010 cho bà Trương Thị Đ.
4
Sau khi làm việc tại UBND xã Xuân Tâm thì các bên đã thống nhất lập hồ
sơ đề nghị UBND huyện Xuân Lộc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số BB 220076 ngày 02/6/2010 của hộ bà Trương Thị Đ. Tuy nhiên, sau đó, Văn
phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai – Chi nhánh Xuân Lộc đã có văn bản số
3902 ngày 16/11/2021 hướng dẫn bà Đ chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai giải quyết việc hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật, vì không thuộc trường hợp UBND huyện Xuân Lộc thu hồi
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên nền bản đồ địa chính mới được đo vẽ
năm 2012, thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 cũ xã Xuân Tâm được đo mới thành
các thửa 42, 44, 45, 48, tờ bản đồ số 18 xã Xuân Tâm. Diện tích đất của ông Hồ
K đang sử dụng thuộc thửa 42, tờ bản đồ số 18 xã Xuân Tâm, có diện tích
1.709,4 m
2
. Diện tích đất của ông Lâm Quang T đang sử dụng thuộc thửa 48, tờ
bản đồ số 18 xã Xuân Tâm, có diện tích 1.994,3 m
2
. Diện tích đất của bà Trương
Thị Đ đang sử dụng thuộc thửa 44, 45, tờ bản đồ số 18 xã Xuân Tâm, có diện
tích 6.836,5 m
2
. Nay, bà Trương Thị Đ đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Hồ K
về việc yêu cầu Tòa án tuyên hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB
220076, do UBND huyện Xuân Lộc cấp ngày 02/6/2010 cho bà hộ Trương Thị
Đ đối với thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 cũ xã Xuân Tâm, có diện tích là
9.935m
2
.
* Người liên quan bà Nguyễn Thị Thu H do ông Võ Nhật V đại diện trình
bày: Bà Nguyễn Thị Thu H là vợ của ông Hồ K, bà thống nhất với toàn bộ lời
trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông Hồ K trong vụ án.
* Người liên quan bà Trần Thị Bích P do bà Huỳnh Kim X đại diện trình
bày: Bà Trần Thị Bích P là con của bà Trương Thị Đ, bà thống nhất với toàn bộ
lời trình bày và ý kiến của bà Trương Thị Đ trong vụ án.
* Người liên quan ông Lâm Quang T trình bày: Ông T đang sử dụng phần
đất có diện tích khoảng 2.000m
2
tại ấp Suối Đục, xã Xuân Tâm, huyện Xuân
Lộc, tỉnh Đồng Nai. Nguồn gốc thửa đất là do ông Thuận nhận chuyển nhượng
vào năm 2000 và sử dụng cho đến nay. Năm 2020, khi ông T đăng ký cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nói trên thì mới được biết phần
đất của ông T thuộc một phần thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 (cũ) xã Xuân Tâm
đã được UBND huyện Xuân Lộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB
220076 ngày 02/6/2010 cho hộ bà Trương Thị Đ. Nay trên nền bản đồ địa chính
mới được đo vẽ năm 2012, thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 (cũ) xã Xuân Tâm
được đo mới thành các thửa 42,44,45, 48, tờ bản đồ số 18 xã Xuân Tâm. Diện
tích đất của ông T đang sử dụng thuộc thửa thuộc thửa 48, tờ bản đồ số 18 xã
Xuân Tâm, có diện tích 1.994,3 m
2
. Nay, ông T đồng ý yêu cầu khởi kiện của
ông Hồ K về việc yêu cầu Tòa án tuyên hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BB 220076, do UBND huyện Xuân Lộc cấp ngày 02/6/2010 cho bà
Trương Thị Đ đối với thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 cũ xã Xuân Tâm, có diện
tích là 9.935m
2
để ông T làm thủ tục đăng ký, kê khai cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa đất số 48, tờ bản đồ số 18 xã Xuân Tâm theo quy định
của pháp luật.
Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

5
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng hành chính: Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp
luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2
Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông
Hồ K về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 220076, do UBND
huyện Xuân Lộc cấp ngày 02/6/2010 cho bà hộ Trương Thị Đ đối với thửa đất
số 157, tờ bản đồ số 5 cũ xã Xuân Tâm, có diện tích là 9.935m
2
.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Các đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 158 Luật
tố tụng hành chính.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Năm 2021, khi ông Hồ K đăng ký cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất ông đang sử dụng thì ông mới
được biết phần đất của ông thuộc một phần thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 (cũ)
xã Xuân Tâm, đã được UBND huyện Xuân Lộc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BB 220076 ngày 02/6/2010 cho hộ bà Trương Thị Đ. Ông K đã liên
hệ với UBND xã Xuân Tâm để giải quyết. Sau khi UBND xã lập biên bản về
việc cấp nhầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gửi hồ sơ lên huyện nên
ông K chờ cán bộ địa chính hướng dẫn việc cấp lại Giấy. Văn phòng đăng ký đất
đai tỉnh Đồng Nai- Chi nhánh Xuân Lộc có Công văn số 3902/VPĐK.XL-
ĐKTK ngày 16/11/2021 hướng dẫn các bên khởi kiện đến Tòa án giải quyết hủy
bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 220076 ngày 02/6/2010 vì không
thuộc trường hợp thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng chỉ gửi cho
UBND xã Xuân Tâm và bà Trương Thị Đ. Ông Hồ K không nhận được Công
văn số 3902/VPĐK.XL-ĐKTK ngày 16/11/202 của Văn phòng đăng ký đất đai
tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh Xuân Lộc. Đến ngày 03/9/2022, ông Hồ K mới được
bà Đượm cho biết hồ sơ bị trả về và nói ông Hồ K đi kiện vì bà già yếu, gia đình
khó khăn. Ngày 24/2/2023 UBND xã Xuân Tâm có Biên bản hòa giải tranh chấp
quyền sử dụng đất giữa các bên liên quan. Bà Đ cũng xác nhận là ngày
03/9/2022 bà Đ mới nói cho ông K biết hồ sơ bị trả về và nói ông K đi kiện. Qua
xác minh, UBND xã Xuân Tâm xác nhận chỉ thông báo cho bà Đ Công văn số
3902/VPĐK.XL-ĐKTK ngày 16/11/2021 mà không thông báo cho ông K, vì bà
Đ là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy có cơ sở
xác định ngày 03/9/2022 ông K mới biết được Công văn số 3902/VPĐK.XL-
ĐKTK ngày 16/11/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai - Chi
nhánh Xuân Lộc. Tính đến ngày 17/3/2023, ông K nộp đơn khởi kiện là còn
trong thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 151 của Luật tố tụng hành chính.
[3] Đánh giá tính hợp pháp Quyết định hành chính bị khởi kiện:
- Về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: UBND huyện
Xuân Lộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 220076 ngày

6
02/6/2010 cho hộ gia đình bà Trần Thị Đ là đúng thẩm quyền theo quy định tại
khoản 2 Điều 52 Luật đất đai 2003.
- Về trình tự thủ tục: Trên cơ sở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O
092717 ngày 27/02/1999 của UBND huyện Xuân Lộc cấp cho hộ ông Lê Quốc
V. Ngày 24/3/2000 ông V chuyển nhượng cho hộ bà Trương Thị Đ, UBND xã
Xuân Tâm xác nhận về việc đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất vào ngày 26/10/2009. Do vậy, UBND huyện Xuân Lộc cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số BB 220076 ngày 02/6/2010 là đúng trình tự thủ tục theo
quy định tại Điều 50 Luật đất đai 2003.
- Về nội dung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Năm 1986, ông Hồ K1 là cha ông Hồ K khai hoang phần đất có diện tích
khoảng 1.700m
2
ở xã Xuân Tâm, sử dụng đến năm 1996 thì tặng cho ông Hồ K
sử dụng ổn định từ đó đến nay. Ngày 27/02/1999, UBND huyện Xuân Lộc cấp
Giấy chuyển nhượng đất số O 092717 thửa đất số 157, tờ bản đồ số 05 diện tích
9.935m2 tại xã Xuân Tâm (bao gồm cả phần đất của ông Hồ K) cho hộ ông Lê
Quốc V. Tại Giấy chuyển nhượng đất ngày 24/3/2000 ông Vinh chuyển nhượng
cho hộ bà Trương Thị Đ chỉ thể hiện chuyển nhượng diện tích 6 sào, bà Đ sử
dụng liên tục đến nay, không có tranh chấp. Tuy nhiên, ngày 26/10/2009 UBND
xã Xuân Tâm xác nhận đủ điều kiện chuyển nhượng 9.935m
2
, nên phòng Tài
nguyên và môi trường huyện Xuân Lộc đề nghị UBND huyện Xuân Lộc cấp
Giấy chuyển nhượng đất số BB 220076 ngày 02/6/2010 cho hộ bà Trương Thị Đ
diện tích 9.935m
2
là không đúng diện tích thực tế sử dụng.
Ngày 09/11/2021, UBND xã Xuân Tâm có Văn bản số 567/UBND-KT
xác nhận một phần thửa đất số 157 tờ bản đồ 05 (cũ) có diện tích khoảng 3000
m
2
do ông Lâm Quang T và ông Hồ K đang trực tiếp sử dụng nhưng đã cấp Giấy
chuyển nhượng đất cho hộ bà Trương Thị Đ. Trên nền bản đồ địa chính mới
được đo vẽ năm 2012, thửa đất số 157, tờ bản đồ số 5 (cũ) xã Xuân Tâm được
đo mới thành các thửa 42, 44, 45, 48, tờ bản đồ số 18 xã Xuân Tâm. Diện tích
đất của ông Hồ K đang sử dụng thuộc thửa 42, tờ bản đồ số 18 xã Xuân Tâm, có
diện tích 1.709,4 m
2
. Diện tích đất của ông Lâm Quang T đang sử dụng thuộc
thửa 48, tờ bản đồ số 18 xã Xuân Tâm, có diện tích 1.994,3 m
2
. Diện tích đất
của bà Trương Thị Đ đang sử dụng thuộc thửa 44, 45, tờ bản đồ số 18 xã Xuân
Tâm, có diện tích 6.836,5 m
2
.
Bà Đ trình bày phần đất mà bà và ông Lê Quốc V thực tế chuyển nhượng
cho nhau chỉ khoảng 7.000m
2
, nhưng hai bên chuyển nhượng lại không phát
hiện ra sai sót. Đến năm 2021, UBND xã Xuân Tâm có mời bà Trương Thị Đ ra
làm việc về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 220076 ngày
02/6/2010 có phần đất cấp nhầm của người khác.
Từ những phân tích trên, xét thấy nội dung trình bày của ông Hồ Khánh, bà
Trương Thị Đ và những người liên quan phù hợp với Văn bản số 567/UBND-
KT ngày 09/11/2021 của UBND xã Xuân Tâm, bản đồ địa chính đo vẽ năm
2012, Giấy chuyển nhượng đất ngày 24/3/2000 ông Lê Quốc V chuyển nhượng
cho hộ bà Trương Thị Đ, đủ căn cứ xác định UBND huyện Xuân Lộc cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 220076 ngày 02/6/2010 cho hộ bà Trương
7
Thị Đ thửa đất 157 tờ bản đồ số 5 (cũ) 9.935m
2
là không đúng diện tích. Do
vậy, căn cứ quy định tại Điều 106 Luật đất đai năm 2013, chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông Hồ K, tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB
220076 ngày 02/6/2010 là có căn cứ.
[4] Về án phí: Ông Hồ K tự nguyện nộp 300.000 đồng án phí hành chính
sơ thẩm thay cho UBND huyện Xuân Lộc, nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 193 Luật tố tụng
hành chính; Các Điều 106, Điều 204 Luật đất đai năm 2013; Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật đất đai; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hồ K. Tuyên hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 220076 ngày 02/6/2010 do Ủy ban nhân
dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cấp cho hộ bà Trương Thị Đ đối với thửa
đất số 157, tờ bản đồ số 5 (cũ) xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
2. Về án phí: Ông Hồ K nộp 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. Số
tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà ông Hồ K đã nộp
theo Biên lai thu số 0000743 ngày 03/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Đồng Nai được tính trừ vào án phí.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo
quy định.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
- Các đương sự;
- Lưu án văn, hồ sơ vụ án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Nguyệt
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 31/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 31/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 31/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm