Bản án số 354/2026/DS-PT ngày 08/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 354/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 354/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 354/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 354/2026/DS-PT ngày 08/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 354/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 08/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | ông Trần Văn P có đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Trần Văn P, yêu cầu Tòa án xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ ông Lê Bá Đ, của chị Lê Thị C cũng như hủy bỏ thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất của ông Lê Văn L và hủy bỏ thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông L với anh Lê Văn N1 đối với phần đất đang có tranh chấp. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 354/2026/DS-PT
Ngày 08 tháng 5 năm 2026
V/v tranh chấp QSD đất và tranh
chấp hợp đồng cầm cố QSD đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Trần Quỳnh Phương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Lập
Bà Hoàng Thị Hải Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Bùi
Trung Biển – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06, ngày 08 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 83/2026/TLPT-DS ngày
27 tháng 02 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp
đồng cố đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2026/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 234/2026/QĐ-PT ngày17
tháng 03 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1957, CCCD số 095057005754; Địa
chỉ cư trú: Ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Văn P, sinh năm 1990; Địa chỉ cư trú: Số C N, phường P,
Thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Số A, đường C, khu V, phường S, Thành phố
Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trần Thị K, sinh năm 1988, Căn
cước số 095188005238; địa chỉ: Số C N, phường P, thành phố Cần Thơ. (Theo Hợp
đồng ủy quyền ngày 05/5/2026). (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1957;
(Vắng mặt)
2. Bà Lê Thị C, sinh năm 1975, CCCD số 095175008667; (Có mặt)
3. Ông Lê Văn N1, sinh năm 1984, Căn cước số 095084008649; (Có mặt)
2
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau.
4. Ông Lê Văn Thực A, sinh năm 1978; (Vắng mặt)
5. Bà Bùi Thị D, sinh năm 1955;
6. Bà Trần Hồng T, sinh năm 1975;
7. Ông Trần Văn N2, sinh năm 1976;
8. Ông Trần Văn N3, sinh năm 1978;
9. Ông Trần Thị L1 (tên thường gọi: K2), sinh năm 1984;
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau.
10. Bà Trần Thị L2, sinh năm 1981;
Địa chỉ cư trú: Ấp T, phường M, Thành phố Cần Thơ.
11. Ông Trần Thị M, sinh năm 1991;
Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã Đ, Thành phố Cần Thơ.
12. Ông Trần Thị K, sinh năm 1988;
13. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1993;
Cùng địa chỉ cư trú: Số C N, phường P, Thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị D, chị Trần Hồng T, anh Trần
Văn N2, anh Trần Văn N3, chị Trần Thị L1, chị Trần Thị L2, chị Trần Thị M, chị Trần
Thị K, chị Trần Thị T1: Ông Trần Văn P, sinh năm 1990; Địa chỉ cư trú: Số C N,
phường P, Thành phố Cần Thơ. Chỗ ở hiện nay: Số A, đường C, khu V, phường S,
Thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)
14. Bà Lê Thị L3, sinh năm 1946; (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp D, xã X, Thành phố Cần Thơ.
15. Bà Lê Thị V, sinh năm 1949; (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau.
16. Ông Lê Quang T2, sinh năm 1958. (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Số E đường L, ấp D, xã X, Thành phố Hồ Chí Minh.
17. Ủy ban nhân dân (UBND) xã N, tỉnh Cà Mau (Kế thừa quyền và nghĩa vụ
tố tụng của UBND huyện H, tỉnh Bạc Liêu). Địa chỉ: Ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau.
- Người đại diện theo pháp luật UBND xã N, tỉnh Cà Mau: Ông Nguyễn Văn
C1 - Chủ tịch UBND xã. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn D1 - Phó
tịch UBND xã (Theo văn bản ủy quyền ngày 22/07/2025). (Vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn P - Là bị đơn.
(Ông Lê Văn L, bà Trần Thị K, bà Lê Thị C, ông Lê Văn N1 có mặt, các
đương sự khác vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Nguyên đơn ông Lê Văn L trình bày: Ông L khởi kiện yêu cầu anh Trần Văn
P giao trả cho ông L phần đất 01 công tầm cấy (qua đo đạc thực tế có diện tích
1.324,9m
2
) tọa lạc tại ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là ấp N, xã N, tỉnh Cà
Mau). Ngoài ra ông L không có yêu cầu gì khác.
Nguồn gốc đất tranh chấp là ông L nhận chuyển nhượng lại từ cha, mẹ của anh
P là ông Trần Văn N4, bà Bùi Thị D vào năm 1990 với giá 04 chỉ vàng 24K trong khi
giá chuyển nhượng đất vào năm 1990 chỉ khoảng 02 chỉ vàng 24K/01 công tầm cấy,
nhưng để có đường đi ra ruộng cho thuận tiện nên ông L đồng ý nhận chuyển nhượng
phần đất này với giá 04 chỉ vàng 24K. Lúc ông N4 kêu ông L nhận chuyển nhượng
phần đất này thì có sự chứng kiến của ông Trần Văn T3 ở cùng xóm. Việc chuyển
nhượng đất trước đây có làm giấy tay, tuy nhiên do thời gian đã lâu và sau đó gia đình
ông L cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất nhận chuyển
nhượng này nên ông L không còn giữ giấy tay chuyển nhượng đất tranh chấp.
Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông L quản lý, sử dụng liên tục từ năm
1990 cho đến ngày 23/02/2024 thì anh P cùng một số anh, em ruột của anh P và
khoảng 06 – 07 người lạ mặt vô trụ đá lấy lại phần đất này từ ông L và không cho
ông L sử dụng đất đến nay.
Lý do phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế và theo sự xác định của cơ quan
chuyên môn căn cứ vào hồ sơ địa chính xã N thành lập qua các năm có sự thay đổi số
thửa và người đứng tên quyền sử dụng đất là vì thời điểm ông L nhận chuyển nhượng
lại phần đất này thì ông N4, bà D vẫn chưa được nước cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Khoảng 02 – 03 năm sau khi nhận chuyển nhượng lại phần đất này từ
ông N4, bà D thì nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên
địa bàn huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Thời điểm nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì ông L ở chung với cha, mẹ ông là cụ ông Lê Bá Đ, cụ bà Trần
Thị K1 và thời điểm đó ông cũng thường xuyên đi làm ăn xa nhà nên ở nhà cha ông
là cụ Đ đã làm đơn xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất
này và sau đó nước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất này cho cha của
ông là ông Lê Bá Đ đứng tên quyền sử dụng đất vào khoảng năm 1993 – 1994. Sau
khi cha, mẹ ông L chết thì đến khoảng năm 2014 các anh, em trong gia đình ông L đã
làm thủ tục cho ông L được nhận thừa kế các thửa đất do cha, mẹ ông đứng tênSau
khi được đứng tên quyền sử dụng phần đất tại thửa 141, 142 tờ bản đồ 19 nêu trên
theo diện nhận thừa kế thì ông L đã tặng cho lại con trai ông là anh Lê Văn N1 phần
diện tích đất này nên hiện tại phần đất đang tranh chấp có một phần do anh Lê Văn
N1 đứng tên. Còn đối với việc chị Lê Thị C là con gái của ông L được cấp quyền sử
dụng đối với một phần diện tích đất đang có tranh chấp nêu trên theo hệ thống bản đồ
năm 1993 và theo hệ thống bản đồ 2009 thì ông cũng không biết lý do vì sao, từ trước
đến nay ông L không có tặng cho đất chị C ở vị trí nêu trên và chị C cũng không có
sử dụng phần đất này.
Mặc dù toàn bộ phần diện tích đất tranh chấp 1.324,9m
2
nêu trên hiện tại không
phải do ông L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà do các con của ông
đứng tên nhưng thực tế phần đất nêu trên do ông quản lý, sử dụng từ trước đến nay,
các con của ông không có quản lý, sử dụng. Vì vậy ông vẫn khởi kiện yêu cầu anh P
giao trả lại cho ông phần đất mà anh P đã lấn chiếm của ông theo diện tích đo đạc
4
thực tế là 1.324,9m
2
.
Đối với yêu cầu phản tố của anh P, ông L hoàn toàn không đồng ý với lý do
ông đã trình bày trên. Ngoài ra ông không có ý kiến và yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Trần Văn P trình bày: Anh P không đồng ý đối với yêu cầu khởi
kiện đòi quyền sử dụng đất của ông Lê Văn L. Anh P phản tố yêu cầu Tòa án tuyên
bố vô hiệu hợp đồng cố đất giữa cha, mẹ anh là ông Trần Văn N4, bà Bùi Thị D với
ông Lê Văn L đối với phần đất tranh chấp bởi vì phần đất này cha, mẹ anh P chỉ cố
lại cho ông L chứ không có chuyển nhượng và yêu cầu ông L phải bồi thường thiệt
hại cho gia đình anh P trong 10 năm (từ ngày 01/01/2014 – đến ngày 01/01/2024) với
số tiền là 25.000.000 đồng do gia đình anh P đã chuộc lại phần đất tranh chấp từ cuối
năm 2013 đầu năm 2014 nhưng ông L không chịu trả lại phần đất này mà chiếm lấy
sử dụng cho đến ngày 23/02/2024 thì gia đình anh P mới lấy lại được phần đất này.
Đồng thời, anh P yêu cầu Tòa án xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
cụ ông Lê Bá Đ, của chị Lê Thị C cũng như hủy bỏ thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất
của ông Lê Văn L và hủy bỏ thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông L với anh
Lê Văn N1 đối với phần đất đang có tranh chấp nêu trên. Ngoài ra anh P không có
yêu cầu gì khác.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/5/2024, anh P xác định phần đất đang có tranh
chấp với ông L nêu trên trước đây vào khoảng năm 2000 cha anh Phán cố lại cho ông
L (phần đất mà ông N4 cố lại cho ông L vào khoảng năm 2000 có tổng diện tích
khoảng 13 công tầm cấy trong đó có phần diện tích đất tranh chấp nêu trên. Việc cố
đất giữa cha anh Phán với ông L cụ thể như thế nào thì anh không rõ). Đến khoảng
năm 2013 - 2014 (lúc này cha anh Phán đã chết) thì anh P đứng ra đại diện cho gia
đình chuộc lại toàn bộ phần đất này từ ông L. Thời điểm anh chuộc lại phần đất này
từ ông L thì bên gia đình ông L có nói giá chuộc lại toàn bộ phần đất nêu trên là 05
cây vàng 24K. Đồng thời bên gia đình ông L cũng quy đổi 05 cây vàng 24K ra thành
tiền tại thời điểm anh P chuộc lại phần đất nêu trên tương đương khoảng 170.000.000
đồng và anh P đã trả cho anh Lê Văn Thực A là con trai của ông L trực tiếp nhận số
tiền là 170.000.000 đồng. Sau khi anh P trả tiền cho bên ông L để chuộc lại đất thì
bên ông L giữ lại sử dụng mà không chịu giao trả đất, cho đến ngày 23/02/2024 thì
anh P và anh Trần Văn N2, anh Trần Văn N3 ngăn cản không cho ông L tiếp tục sử
dụng phần đất này nữa và anh P cùng với anh N2, anh N3 có mang các trụ đá ranh
lại phần đất của gia đình anh.
Sau đó anh P có sự thay đổi lời khai và xác định cố đất tranh chấp cho ông L
vào khoảng năm 1990 - 1991 với giá 01 chỉ vàng 24K. Anh P không biết trước đây
khi cha anh cố lại phần đất nêu trên cho ông L thì giữa cha anh với ông L có làm giấy
tờ cố đất hay không. Đối với phần đất đang có tranh chấp nêu trên thì đến cuối năm
2023 đầu năm 2024 anh P và các anh, em của anh mới thỏa thuận với ông L xin được
chuộc lại nhưng ông L nói đất này cha, mẹ anh đã chuyển nhượng cho ông L và ông
L đã được nước cấp quyền sử dụng đất nên không đồng ý cho chuộc lại vì vậy nên
hai bên mới phát sinh tranh chấp.
5
Ngày 21/8/2025, anh Trần Văn P có đơn xin rút lại một phần yêu cầu phản tố,
theo đó anh P không yêu cầu Tòa án buộc ông L phải bồi thường thiệt hại cho gia
đình anh P với số tiền là 25.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, anh P xác định hiện tại phần đất tranh chấp nêu trên đang do anh
Trần Văn N2 trực tiếp quản lý, phần đất này hiện tại không có trồng hay nuôi gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn Thực A trình bày:
Anh Thực A khẳng định từ trước đến nay anh hoàn toàn không có nhận số tiền
170.000.000 đồng từ anh Trần Văn P như anh P trình bày. Mà trước đây vào khoảng
năm 1996 anh có nhận chuyển nhượng lại từ ông Trần Văn N4, bà Bùi Thị D là cha,
mẹ của anh P phần đất ruộng diện tích 01 công tầm cấy với giá 09 chỉ vàng 24K, việc
chuyển nhượng đất này có làm giấy tay chuyển nhượng. Hiện tại giấy tay chuyển
nhượng đất giữa anh Thực A với ông N4, bà D anh Thực A vẫn còn giữ. Sau đó đến
khoảng năm 2001 – 2002 thì anh Thực A có nhận cố lại từ vợ chồng ông N4, bà D
phần đất ruộng 04 công tầm cấy với giá 2,7 cây vàng 24K), việc cố đất giữa anh Thực
A với vợ chồng ông N4, bà D hai bên có làm giấy tay cố đất. Sau đó đến khoảng năm
2013 - 2014 thì gia đình bà D, ông N4 (lúc này ông N4 đã chết) có xin chuộc lại phần
đất 04 công tầm cấy mà vợ chồng ông N4, bà D đã cố lại cho anh Thực A vào khoảng
năm 2001 - 2002 nêu trên và được anh Thực A đồng ý, sau đó chị Trần Thị K2 (con
ông N4) và anh Thực A có thỏa thuận quy đổi 2,7 cây vàng 24K cố đất trước đó ra
thành tiền tại thời điểm chuộc đất tương đương số tiền là 91.000.000 đồng và chị K2
có trực tiếp giao cho anh Thực A nhận số tiền là 91.000.000 đồng và anh Thực A đã
bàn giao lại phần đất 04 công tầm cấy nhận cố từ vợ chồng ông N4, bà D cho gia đình
bà D vào khoảng năm 2012 - 2013. Sau khi nhận được tiền chuộc đất từ chị K2 đưa
thì anh Thực A đã giao trả lại giấy cố đất trước đó giữa anh Thực A với vợ chồng ông
N4, bà D cho chị K2 nhận.
Phần đất đang tranh chấp giữa ông L với anh P không có liên quan đến phần
đất mà anh Thực A nhận chuyển nhượng và nhận cố lại từ ông N4, bà D nêu trên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị D trình bày: Phần
đất tranh chấp trước đây vợ chồng bà chỉ cố lại cho ông L vào khoảng năm 1990-1991
với giá 01 chỉ vàng 24K, bà D không biết trước đây khi chồng bà cố lại phần đất trên
cho ông L4, do chồng bà là ông N4 đứng ra thỏa thuận với ông L nên bà không biết
việc cố đất giữa các bên có làm giấy tờ gì không. Còn việc lý do vì sao người thân
của ông L là ông Lê Bá Đ, chị Lê Thị C, anh Lê Văn N1 đứng tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên thì bà không rõ. Từ trước đến nay vợ
chồng bà không có giao dịch chuyển quyền sử dụng phần đất nêu trên với ông Lê Bá
Đ, chị Lê Thị C cũng như anh Lê Văn N1.
Trước đây vợ chồng bà D cố đất lại cho nhiều người chứ không phải chỉ cố lại
phần đất nêu trên ông L. Sau này các con của vợ chồng bà đi làm có tiền thì mới về
xin chuộc lại các phần đất mà trước đây vợ chồng bà đã cố lại cho người khác. Đối
với phần đất đang có tranh chấp nêu trên thì đến cuối năm 2023 đầu năm 2024 các
con của bà mới thỏa thuận với ông L xin được chuộc lại nhưng ông L không đồng ý
mà nói rằng đất này vợ chồng bà đã chuyển nhượng lại cho ông L và ông L đã được
cấp quyền sử dụng đất vì vậy hai bên phát sinh tranh chấp.
Vào năm 1993, chồng bà D là ông N4 đã có đi kê khai đăng ký cấp giấy chứng
6
nhận quyền sử dụng đối với các phần đất của vợ chồng bà nhưng nay đo đạc phần đất
đang có tranh chấp nêu trên cơ quan chuyên môn kết luận không nằm trong giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng bà thì bà mới biết. Bà D yêu cầu Tòa án
xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Bá Đ, của chị Lê Thị C
cũng như hủy bỏ thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất của ông Lê Văn L và hủy bỏ thủ
tục tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông L với anh Lê Văn N1 đối với phần đất đang
có tranh chấp nêu trên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N, chị Lê Thị C,
anh Lê Văn N1 thống nhất trình bày: Bà N là vợ của ông Lê Văn L, còn chị C, anh
N1 là các con của L, bà N5. Bà N, chị C, anh N1 thống nhất đối với yêu cầu khởi kiện
của ông L với anh Trần Văn P và thống nhất với phần trình bày của ông L trong quá
trình giải quyết vụ án. Ngoài ra bà N, anh N1, chị C không có ý kiến và yêu cầu gì
khác.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị L3, bà Lê Thị
V, ông Lê Quang T2 thống nhất trình bày: Các ông, bà không biết gì về nguồn gốc
phần đất đang có tranh chấp giữa ông L với anh Trần Văn P. Trước đây vào ngày
18/4/2024, bà L3, bà V cùng với ông L có lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản do
cha, mẹ là cụ ông Lê Bá Đ, cụ bà Trần Thị K1 chết để lại trong đó có thửa đất số 141,
142 cùng tờ bản đồ số 19 cho ông L được hưởng thừa kế nhưng không có sự tham gia
của ông Lê Quang T2. Về phía ông T2 xác định mặc dù ông không có ký tên vào văn
bản thỏa thuận phân chia di sản do cha, mẹ chết để lại cùng với bà Lê Thị L3, bà Lê
Thị V và ông Lê Văn L nhưng ông vẫn thống nhất với văn bản thỏa thuận phân chia
di sản này, đồng ý để cho ông L được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất tại thửa 141,
142 cùng tờ bản đồ số 19 do cha, mẹ chết để lại. Ngoài ra các ông, bà không có ý kiến
và yêu cầu gì.
Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Trần Hồng T,
anh Trần Văn N2, anh Trần Văn N3, chị Trần Thị L1, chị Trần Thị L2, chị Trần Thị
M, chị Trần Thị K, chị Trần Thị T1 là các anh, chị em, ruột của bị đơn anh Trần Văn
P đã ủy quyền lại cho bị đơn anh Trần Văn P trong quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là UBND xã N, tỉnh Cà Mau trình
bày: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ ông Lê Bá Đ tại thửa 141,
142 và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Lê Thị C tại thửa đất số
140 cùng tờ bản đồ số 19 (theo hồ sơ địa chính xã N lập năm 1993) là đúng trình tự,
thủ tục theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy, UBND xã không nắm được
việc có đo đạc thực tế đối với các thửa đất này trước khi cấp giấy hay không vì thời
gian đã lâu và không UBND xã không trực tiếp thực hiện, không lưu giữ hồ sơ.
Việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Lê Thị C tại thửa đất
số 1116, tờ bản đồ số 03 (theo hồ sơ địa chính năm 2009) là đúng trình tự, thủ tục quy
định tại thời điểm cấp giấy. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê
Văn L (nhận thừa kế) tại thửa đất số 268, 1637 tờ bản đồ số 03 (theo hồ sơ địa chính
năm 2009) là đúng trình tự, thủ tục quy định tại thời điểm cấp giấy. Việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Lê Văn N1 (nhận tặng cho) tại thửa đất số
268, 1637 tờ bản đồ số 03 (theo hồ sơ địa chính năm 2009) là đúng trình tự, thủ tục
quy định tại thời điểm cấp giấy.
7
UBND xã không có ý kiến về việc Tòa án xem xét hủy hay không hủy một
phần giấy nhận quyền sử dụng đất tại các thửa đất nêu trên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2026/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L.
Buộc anh Trần Văn N2 giao trả cho ông Lê Văn L phần đất qua đo đạc thực tế
có diện tích 1.324,9m
2
tọa lạc tại ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau. tứ cạnh kèm theo.
2. Buộc anh Trần Văn P, anh Trần Văn N2 và anh Trần Văn N3 cùng có trách
nhiệm di dời 05 trụ đá do anh Trần Văn P, anh Trần Văn N2 và anh Trần Văn N3 trên
phần đất buộc giao trả cho ông Lê Văn L nêu trên.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của anh Trần Văn P đối với ông Lê Văn
L về việc yêu cầu ông Lê Văn L phải bồi thường thiệt hại cho gia đình anh P với số
tiền là 25.000.000 đồng.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Trần Văn P về việc yêu cầu Tòa
án tuyên vô hiệu hợp đồng cố đất giữa cha, mẹ anh P là ông Trần Văn N4, bà Bùi Thị
D với ông Lê Văn L đối với phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 1.324,9m
2
mà
ông L khởi kiện yêu cầu anh P giao trả.
5. Không chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn P về việc yêu cầu Tòa án xem
xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ ông Lê Bá Đ, của chị Lê Thị C
cũng như hủy bỏ thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất của ông Lê Văn L và hủy bỏ thủ
tục tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn L với anh Lê Văn N1 đối với phần
đất tranh chấp giữa anh Trần Văn P với ông Lê Văn L.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo
của đương sự.
Ngày 04/02/2026, ông Trần Văn P có đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ
thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Trần Văn P.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn P giữ
nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ
luật tụng dân sự, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2026/DS-ST ngày 26 tháng 01
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án
nhân dân khu vực 9 – Cà Mau giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của các đương sự và ý kiến phát
8
biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, sau khi thảo luận, nghị án, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1.1] Đơn kháng cáo của ông Trần Văn P nộp trong thời hạn luật định, đã đóng
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Căn cứ Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa, ông L, bà K, ông N1, bà C có mặt; các đương sự khác đã
được Tòa án triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vẫn vắng mặt hoặc có đơn yêu cầu xét xử
vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét vụ
án vắng mặt các đương sự nêu trên.
[1.3] Về phạm vi khởi kiện
Khoản 1 Điều 5 Bộ luật tụng dân sự quy định “1. Đương sự có quyền quyết
định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án
chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự
và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.”
Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành các Thông báo thụ lý vụ án,
thụ lý yêu cầu phản tố theo đúng nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu
phản tố của bị đơn Cụ thể: Tại các Thông báo số 95/TB-TB-TLVA ngày 8/4/2024;
Thông báo về việc thụ lý yêu cầu phản tố ngày 17/5/2024; Thông báo thụ lý phản tố
ngày 26/8/2025. Căn cứ quy định nêu trên thì phạm vi khởi kiện trong vụ án này là
nội dung theo các Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo thụ lý yêu cầu phản tố trên.
Ngoài ra cấp sơ thẩm còn xem xét giải quyết việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng các phần đất tranh chấp theo yêu cầu của đương sự.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/8/2025, ông Trần Văn P xác định “ Tôi yêu
cầu Tòa án xem xét hủy bỏ thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất của ông Lê Văn L và
hủy bỏ thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn L với ông Lê Văn N1 đối
với phần đất tranh chấp giữa ông Trần Văn P với ông Lê Văn L ”, khi đó Tòa án có
giải thích cho ông P được biết nếu có yêu cầu phản tố mới thì phải làm đơn nộp Tòa
án tuy nhiên ông P không có đơn phản tố các yêu cầu nêu trên và Tòa án nhân dân
khu vực 9-Cà Mau cũng không thụ lý các yêu cầu phản tố này.
Như vậy, các đương sự không có đơn yêu cầu hủy bỏ thủ tục thừa kế quyền sử
dụng đất của ông Lê Văn L và hủy bỏ thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông
Lê Văn L với ông Lê Văn N1 đối với phần đất tranh chấp giữa ông Trần Văn P với
ông Lê Văn L, cấp sơ thẩm chưa thụ lý các yêu cầu nêu trên theo trình tự quy định tại
Bộ luật tụng dân sự nhưng đưa ra xem xét, giải quyết là vượt quá phạm vi khởi kiện
ban đầu.
[1.4] Về người tham gia tố tụng: Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đối với phần đất tranh chấp thì ông L đã được Sở Tài nguyên và trường tỉnh
B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC519591 đối với thửa 1637, tờ bản đồ
9
số 3, diện tích 1.051,8m
2
ngày 25/10/2021, sau đó thửa 1637, thửa 268 đã được sang
tên chuyển quyền cho ông Nguyễn Văn N6 và ông N6 đã được Sở Tài nguyên và
trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ369469 đối với thửa đất
trên. Như phân tích tại mục [1.3]do đương sự có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất liên quan đến thửa đất 1637 nên cần thiết phải đưa Sở Tài nguyên và
trường tỉnh B (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là Sở Nông nghiệp và Môi
trường tỉnh C) vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc cấp sơ thẩm
không đưa Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh C vào tham gia tố tụng là thiếu sót,
làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh C.
Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ kiện từ khi thụ lý đến khi có bản án, cấp sơ
thẩm xác định bị đơn trong vụ án là ông Trần Văn P.
Khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Bị đơn trong vụ án dân sự
là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật
này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền
và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”. Như vậy, ông L xác
định ông P là người lấn đất ông nên yêu cầu ông P trả, Tòa án cũng thụ lý xác định tư
cách của ông P là bị đơnnhưng tuyên buộc người trả đất là ông Trần Văn N2 mà không
có nội dung nhận định căn cứ liên quan là chưa phù hợp.
[1.5] Qua xem xét thẩm định tại chỗ vào ngày 01/8/2024 phần đất mà ông L
yêu cầu anh P giao trả được có tứ cạnh, diện tích cụ thể như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất của bà Bùi Thị D, cạnh dài 3,50m.
- Hướng Tây giáp phần đất của ông Lê Văn L có cạnh dài 12,40m.
- Hướng Nam giáp phần đất của ông Lê Văn L có cạnh dài 167,80m.
- Hướng Bắc giáp phần đất của ông Lê Thực A có cạnh dài 167,80m
Tổng diện tích: 1.324,9m
2
Hiện trạng trên phần đất tranh chấp tại thời điểm khảo sát ngày 01/8/2024 có
05 trụ đá do anh Trần Văn P, anh Trần Văn N2, anh Trần Văn N3 cùng . Ngoài ra
không còn tài sản gì khác trên đất.
Tại Mãnh trích đo địa chính số 17-2024 và phụ chú kèm theo mãnh trích đo;
Công văn số 132/CNVPĐKĐĐ ngày 21/11/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai huyện H kết luận phần đất tranh chấp nêu trên cụ thể như sau:
Thửa đất số 1: Diện tích 903,0m
2
- Hướng Đông giáp thửa đất tranh chấp số 2, cạnh dài 7,60m.
- Hướng Tây giáp phần đất của ông Lê Văn L có cạnh dài 12,40m.
- Hướng Nam giáp phần đất của ông Lê Văn L có cạnh dài 90,60m.
- Hướng Bắc giáp phần đất của ông Lê Thực A có cạnh dài 91,70m
Thửa đất số 2: Diện tích 308,7m
2
- Hướng Đông giáp thửa đất tranh chấp số 3, cạnh dài 4,95m.
- Hướng Tây giáp thửa đất tranh chấp số 1 có cạnh dài 7,60m.
10
- Hướng Nam giáp phần đất của ông Lê Văn L có cạnh dài 49,85m.
- Hướng Bắc giáp phần đất của ông Lê Thực A có cạnh dài 49,55m
Thửa đất số 3: Diện tích 113,2m
2
- Hướng Đông giáp phần đất của bà Bùi Thị D, cạnh dài 3,50m.
- Hướng Tây giáp thửa đất tranh chấp số 2 có cạnh dài 4,95m.
- Hướng Nam giáp phần đất của ông Lê Văn L có cạnh dài 27,35m.
- Hướng Bắc giáp phần đất của ông Lê Thực A có cạnh dài 26,55m.
Căn cứ vào hồ sơ địa chính xã N thành lập qua các năm có cơ sở xác định:
Thửa số 1, diện tích 903,0m
2
: Nằm trong một phần thửa 268 tờ bản đồ số 3 do
ông Lê Văn N1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thửa số 2, diện tích 308,7m
2
: Nằm trong một phần thửa 1116 tờ bản đồ số 3 do
chị Lê Thị C đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thửa đất số 3, diện tích 113,2m
2
: Nằm trong một phần thửa 1637 tờ bản đồ số
3 do ông Lê Văn N1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như vậy, đối với thửa số 1 và thửa số 3, ông Lê Văn L đã tặng cho ông Lê Văn
N1 và ông N1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất như phân tích tại mục [1.4]. Do đó, ông P không còn là chủ sử
dụng thửa đất 1637, thửa 268 nên không có quyền và nghĩa vụ đối với các thửa đất
tranh chấp, nhưng cấp sơ thẩm vẫn xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L
và buộc giao trả đất cho ông L là không đảm bảo quyền lợi của những người đứng tên
trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Mặc khác, hồ sơ vụ án thể hiện ngoài ông P còn có ông N2 và ông N3 cùng
cắm trụ đá tranh chấp quyền sử dụng đất với ông L và cả ba người cùng có hành vi
lấn chiếm đất, cản trở việc sử dụng đất của ông L. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm
phía bị đơn lại xác định ông N2 là người trực tiếp quản lý sử dụng đất. Xét thấy, lời
trình bày của bị đơn tại phiên tòa không thống nhất với chính lời khai của mình trong
quá trình giải quyết vụ án nhưng cấp sơ thẩm không làm rõ để xác định thực tế người
trực tiếp sử dụng đất mà căn cứ vào lời trình bày tại phiên tòa của ông P để tuyên
buộc ông N2 giao trả đất là không đảm bảo thi hành án. Cấp phúc thẩm không thể bổ
sung buộc các đương sự còn lại, như vậy sẽ làm mất đi quyền kháng cáo của các
đương sự.
[2] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm đã có những
vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự mà cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do vậy, Hội đồng
xét xử không xem xét đến nội dung vụ án mà cần huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm
số: 09/2026/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà
Mau và giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau giải quyết lại vụ án
theo thủ tục sơ thẩm; chấp nhận ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Do huỷ án sơ
thẩm nên không xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn là ông Trần Văn P.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Đương sự không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
11
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1/ Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2026/DS-ST ngày 26 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cà Mau và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân
khu vực 9 - Cà Mau giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2/ Về án phí dân sự phúc thẩm: Đương sự không phải chịu.
Hoàn lại cho ông Trần Văn P 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc
thẩm theo biên lai thu số 0001479 ngày 05/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà
Mau.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa thẩm TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Cà Mau;
- TAND vực 9-CM;
- Phòng THADS khu vực 9-CM;
- Đương sự;
- Lưu, Tổ HCTP.
Tăng Trần Quỳnh Phương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 19/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 18/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 13/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm