Bản án số 408/2025/DS-PT ngày 19/09/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 408/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 408/2025/DS-PT ngày 19/09/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 408/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà B khởi kiện yêu cầu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 408/2025/DS-PT Bản án số 408/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 408/2025/DS-PT Bản án số 408/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 408/2025/DS-PT
Ngày 19 9 2025
V/v tranh chấp chia thừa kế, hợp đồng
chuyển nhượng và hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Bà Tiêu Hồng Phượng
Ông Ninh Quang Thế
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Diễm Thuý Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai ván dân sự thụ số: 125/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 4
năm 2025 về việc: Tranh chấp chia thừa kế, hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số: 63/2025/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Mau (nay Toà án nhân dân khu
vực 4 – Cà Mau) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 162/2025/QĐ-PT ngày
27 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị B, sinh năm 1964 (Có mặt);
Căn cước công dân số: ************; Cấp ngày:14/02/2022; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Nơi trú: Ấp H, N, huyện Đ, tỉnh Mau. Nay là: Ấp H, xã T, tỉnh
Mau.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho B: Ông Trần Hoàng P,
Luật của Văn phòng Luật Trần Hoàng H - thuộc Đoàn Luật tỉnh C (Có
mặt).
- Bị đơn: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1958 (Có mặt);
Căn cước công dân số: ************; Cấp ngày:18/09/2021; Nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
2
Nơi trú: Ấp Đ, T, huyện Đ, tỉnh Mau. Nay là: Ấp Đ, Đ, tỉnh
Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Võ Văn T, sinh năm 1951;
Nơi trú: Ấp B, T, huyện Đ, tỉnh Mau. Nay là: Ấp B, xã Đ, tỉnh
Mau.
Người giám hộ cho ông Văn T: Thị Kim A, sinh năm 1938 (là chị
ruột của ông Võ Văn T Có mặt)
Nơi trú: Ấp Đ, T, huyện Đ, tỉnh Mau. Nay là: Ấp Đ, Đ, tỉnh
Mau.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Văn T: Ông Nguyễn
Văn N, là Luật thực hiện trợ giúp pháp của Trung tâm Trợ giúp pháp nhà
nước tỉnh C (Có mặt).
2. Bà Lê Thị S (Vắng mặt);
Nơi trú: Ấp T, T, huyện Đ, tỉnh Mau. Nay là: Ấp T, T, tỉnh
Mau.
3. Bà Nguyễn Thị H2 (Vắng mặt);
Nơi trú: Ấp Tân Hòa, Trần Phán, huyện Đầm Dơi, tỉnh Mau. Nay
là: xã Trần Phán, tỉnh Cà Mau
4. Bà Nguyễn Thị Hồng G (Vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp L, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau. Nay là: xã T, tỉnh Cà Mau
5. Bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1938 (Có mặt);
6. Ông Nguyễn Văn Đ (Vắng mặt);
7. Ông Nguyễn Văn Q (Vắng mặt);
8. Ông Nguyễn Hồng V (Vắng mặt);
9. Anh Nguyễn Quốc D, sinh năm 1980 (Có mặt);
10. Chị Trần Lệ N1 (Vắng mặt);
11. Anh Nguyễn Hoàng H3 (Vắng mặt);
12.Anh Nguyễn Hùng H4 (Vắng mặt);
Cùng Nơi trú: p Đ, T, huyện Đ, tỉnh Mau. Nay là: Ấp Đ, Đ,
tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Nguyễn Thị B, nguyên đơn; ông Văn T, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo bà Nguyễn Thị B trình bày:
3
Cụ Nguyễn Tấn T1 (chết năm 2010) cụ Liêu Thị Đ1 (chết năm 1963) 03
người con chung gồm: Thị S, Nguyễn Thị H1 Nguyễn Thị B. Sau
khi cụ Đ1 chết, cụ T1 chung sống với cụ Bùi Thị M 06 người con gồm: Ông
Nguyễn Văn S1 (chết lúc 07 tuổi), Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị Hồng G, ông
Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Hồng V. Cụ Đ1 con riêng
Thị Kim A và ông Văn T. Khi còn sống, cụ T1 tạo lập phần đất
diện tích 30.500m
2
tọa lạc Ấp Đ, T, huyện Đ, tỉnh Mau. Trước khi chết, cụ
T1 lập di chúc ngày 25/9/2008 chia cho bà B phần đất diện tích 5.184m
2
, H1
phần đất diện tích 25.316m
2
. Năm 2013, bà B cố cho anh D phần đất được chia, giá
40 chỉ vàng 24k, không thỏa thuận thời hạn, anh D đã giao đủ vàng nhận đất sử
dụng cho đến nay. Ngoài ra khi còn sống, cụ T1 cho B phần đất thổ theo
đo đạc thực tế diện tích 298,7m
2
.
Nay B khởi kiện yêu cầu: ng nhận di chúc của cụ Nguyễn Tấn T1 ngày
25/9/2008 đối với phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 28.419,8m
2
; Buộc H1
giao cho bà B phần đất diện tích 5.184m
2
và phần đất diện tích 298,7m
2
.
- Theo bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
thống nhất lời trình bày của B về nguồn gốc đất cụ T1 lập di chúc ngày
25/9/2008. Ngày 30/4/2013, đã nhận chuyển nhượng phần đất của bà B nhận
thừa kế theo di chúc diện tích 5.184m
2
, giá 40 chỉ vàng 24k, đã giao đủ ng
cho bà B và nhận đất sử dụng đất đến nay. Bà yêu cầu công nhận di chúc của cụ T1
lập ngày 25/9/2008 đối với phần đất theo đo đạc thực tế diện tích 28.419,8m
2
, phân
chia cho được hưởng phần đất diện tích 23.235,8m
2
công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa với B ngày 30/4/2013 đối với phần
diện tích 5.184m
2
; Buộc B tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đối với
phần diện tích 5.184m
2
.
- Theo bà Lê Thị Kim A trình bày:
không yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất tranh chấp nhưng yêu cầu Tòa án
chia cho ông T hưởng thừa kế phần đất diện tích 2.541m
2
.
- Theo ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Cụ T1 cụ Bùi Thị M chung sống với nhau khoảng năm 1966 1967 đến trước
khi sinh ông thì không còn sống chung, cụ T1 sinh sống trên phần đất H1 đang
sử dụng, cụ M sinh sống trên phần đất ông đang sử dụng. Hai phần đất trên
nguồn gốc do cụ T1 khai phá, đến năm 1994 hai cụ mỗi người được cấp một phần
đất. Ông không yêu cầu liên quan đến phần đất tranh chấp giữa B với bà H1
Tại bản án dân sự sơ thẩm số:63/2025/DS-ST ngày 18 tháng 03 năm 2025 của Tòa
án nhân dân huyện Đầm Dơi quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị B về việc yêu
cầu công nhận di chúc của cụ Nguyễn Tấn T1 ngày 25/9/2008 đối với phần đất
theo đo đạc thực tế diện tích 28.419,8m
2
là hợp pháp.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B về
việc yêu cầu Nguyễn Thị H1 giao lại phần đất diện tích 5.184m
2
tại các điểm
4
M15M16M17M18M19M20 phần đất diện tích 298,7m
2
tại các điểm
M6M7M24M25.
- Buộc Nguyễn Thị H1 nghĩa vụ thanh toán cho Nguyễn Thị B số
tiền 24.493.400 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H1.
Phân chia cho H1 được hưởng phần đất diện tích 23.235,8m
2
tại các điểm
M1M2M3M4M5M6M7M8M23M22M21M13M14M15 và công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa H1 với B ngày 30/4/2013 đối với
phần diện tích 5.184m
2
tại các điểm M15M16M17M18M19M20.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Văn T về việc yêu cầu phân
chia cho ông T hưởng thừa kế phần đất diện tích 2.541m
2
.
Ngoài ra, bản án thẩm n tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án
phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 31/3/2025, Nguyễn Thị B đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án
thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà B
Ngày 31/3/2025, ông Văn T đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án
thẩm, chấp nhận yêu cầu độc lập của ông T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyễn Thị B, người giám hộ của ông Văn
T giữ nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Luật P phát biểu: Nguồn gốc đất của cụ T1 cụ Đ1 khái phá. Trước
năm 1990, cụ T1 đã cho B phần đất diện tích theo đo đạc 298,7m
2
để cất nhà ở;
phần đất ruộng cụ T1 đã cho B trước đó, nhưng đến năm 2008 cụ T1 mới lập di
chúc cho B 04 công, diện tích 5.184m
2
. Phần đất B được cho chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không được quyền chuyển nhượng, cầm
cố, cho thuê,… Theo quy định pháp luật thì hợp đồng chuyển nhượng phải được
lập thành văn bản hiệu lực kể từ khi đăng ký; nếu việc chuyển nhượng
giữa B với H1 xảy ra thì hợp đồng chuyển nhượng cũng không hiệu lực.
Toà án cấp thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng không khả thi. Theo kết
luận giám định của Phân viện khoa học hình sự không đủ sở kết luận chữ
trong Giấy sang đất là của bà B ký. Đối với phần đất diện tích theo đo đạc 298,7m
2
cấp thẩm cho rằng không đủ diện tích tách thửa nên buộc trả bằng giá trị đất
chưa phù hợp, vì theo Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh, diện tích tách thửa đối
với địa bàn phường 40m
2
, đối với địa bàn 50m
2
. Từ những căn cứ trên,
kiến nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của B, sửa bản án thẩm,
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà B.
Bà B phát biểu: Thống nhất với ý kiến phát biểu tranh luận của Luật sư P.
Luật sư N phát biểu: Mặc dù nguồn gốc đất là của cụ T1 nhưng cụ T1 và Đ1
vợ chồng, nên phần đất tài sản chung của vợ chồng cụ T1 và cụ Đ1. Cấp sơ
thẩm xác định ông T không phải người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của
5
cụ T1 chưa đúng, tuy ông T con riêng của cụ Đ1 nhưng đã được cụ T1 nuôi
dưỡng từ nhỏ (có mối quan hệ nuôi dưỡng). Quyền sử dụng đất tài sản chung
của vợ chồng cT1 và cụ Đ1 nên việc cụ T1 lập di chúc định đoạt không phù
hợp. Ông T là người bị hạn chế năng lực, nhưng việc lập di chúc không xem xét
đến quyền lợi của ông T không phù hợp. Dó đó, kiến nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo của ông T, sửa bản án thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông T.
Kim A phát biểu: Yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét chấp nhạn yêu cầu
khởi kiện của ông T.
H1 phát biểu: Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà B và ông T.
Ông D phát biểu: Phần đất B đã chuyển nhượng chứ không phải cầm cố.
Theo kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh C kết luận chữ trong giấy
sang nhượng là của bà B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị B, ông Võ Văn T, giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của Nguyễn Thị B, ông Văn T, Hội đồng xét xử xét
thấy:
[1] Cụ Nguyễn Tấn T1 cụ Liêu Thị Đ1 chung sống 03 người con
chung gồm: Thị S, Nguyễn Thị H1 bà Nguyễn Thị B. Đến năm 1963
cụ Đ1 chết. Cụ Đ1 02 người con riêng Lê Thị Kim A ông Văn T.
Sau khi cụ Đ1 chết, cụ T1 chung sống với cụ Bùi ThM 06 người con gồm:
Ông Nguyễn Văn S1 (chết lúc 07 tuổi), Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị Hồng G, ông
Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Hồng V. Đến năm 2010 cụ T1
chết.
[2] Nguồn gốc phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế diện tích 28.419,8m
2
,
toạ lạc tại ấp Đ, T, huyện Đ do cụ Nguyễn Tấn T1 khai phá. Cụ T1 được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 111 QĐ/UB ngày
29/11/1993 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, số phát hành 125488, diện tích
30.500m
2
.Tại thời điểm cấp quyền sử dụng đất cho cụ T1 thì cụ Đ1 đã chết, cụ T1
cũng không còn sống chung với cụ M, khi đó cụ T1 cũng đã có phân chia cho cụ M
phần đất diện tích 23.600m
2
cụ M được cấp quyền sử dụng cùng thời điểm với
cụ T1. Như vậy, sở xác định phần đất cụ T1 được cấp quyền sử dụng đất
30.500m
2
(theo đo đạc thực tế 28.419,8m
2
) cấp riêng cho nhân cụ T1, nên
được xác định tài sản riêng của cụ T1. Ngày 25/9/2008, cụ T1 lập di chúc phân
chia phần đất của cụ T1 cho B diện tích 5.184m
2
, phân chia cho bà H1 diện tích
25.316m
2
.
[3] Xét Di chúc của cT1 ngày 25/9/2008, thấy rằng: Việc cụ T1 lập di chúc
trên sở hoàn toàn tự nguyện, hình thức di chúc được lập thành văn bản
6
chứng thực của Ủy ban nhân dân xã T, đã tuân thủ đúng quy định tại khoản 4 Điều
650 của Bộ luật dân sự năm 2005; nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức
hội. Hiện tại, những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T1 cũng
không ai phản đối đối với di chúc của cụ T1 lập ngày 25/9/2008. Như vậy, di chúc
của cụ T1 ngày 25/9/2008 vviệc phân chia cho B phần đất diện tích 5.184m
2
,
phân chia cho bà H1 phần đất diện tích 25.316m
2
(theo đo đạc thực tế 23.235,8m
2
)
là hoàn toàn hợp pháp, được công nhận.
[4] Đối với yêu cầu của B về việc buộc H1 giao phần đất diện tích
5.184m
2
, xét thấy:
[4.1] Theo B cho rằng trước đây B cố phần đất diện tích 5.184m
2
cho anh Nguyễn Quốc D với giá 40 chỉ vàng 24k; Phía H1 cho rằng B đã
chuyển nhượng phần đất nêu trên cho H1 với giá bằng 40 chvàng 24k. Quá
trình giải quyết vụ án, B không cung cấp được tài liệu giấy tờ để chứng minh
việc B cố phần đất cho anh D như bà B trình bày; phía H1 cung cấp Tờ
sang đất ngày 30/4/2013 giữa bà B với bà H1 để chứng minh việc sang nhượng.
[4.2] Theo Tờ sang đất ngày 30/4/2013 nội dung: B sang nhượng cho
H1 phần đất được cha ông T1 cho theo di chúc diện tích 5.184m
2
với
giá
bằng 40 chỉ vàng 24k. Tờ sang đất B, H1 tên; xác nhận của ông
Trung D1 phó p chứng thực của Ủy ban nhân dân T. Tuy nhiên, B
không thừa nhận chữ của trong Tờ sang đất ngày 30/4/2013 yêu cầu
giám định.
[4.3] Tại Kết luận giám định số 95/KL-KTHS ngày 28/02/2025 của Phòng K
Công an tỉnh C kết luận: Chữ viết “Búp” dưới cụm từ Người sang đất” trên TỜ
SANG ĐẤT” ngày 20/4/2013 (Ký hiệu A) so với chviết Nguyễn Thị B trên tài
liệu mẫu so sánh (Ký hiệu từ M1 đến M40) là do cùng một người viết ra.
[4.4] Tại cấp phúc thẩm, bà B yêu cầu giám định đối với chữ trong tờ
sang nhượng đất. Tại kết luận giám định của Phân viện khoa học hình sự xác định:
Do mẫu so sánh có thời gian xuất hiện sau cách xa so với mẫu giám định nên
không đủ skết luận chữ dạng chữ viết “Búp” dưới mục “Người sang đất”
trên tài liệu giám định so với chữ ký, chữ viết mẫu so sanh đứng tên Nguyễn Thị B
phải do cùng một người ký, viết ra hay không. Tuy nhiên, xét thấy phần đất
này thực tế bà H1 đã có thời gian dài quản lý sử dụng từ năm 2013 đến nay; từ năm
2013 đến nay bà B cũng không đặt ra vấn đề chuộc lại đất. Tại phiên toà bà B cũng
xác định giá đất cầm cố 01 công bằng 01 lượng vàng 24K tương đương với
giá đất chuyển nhượng tại thời điểm bà cầm cố.
[4.5] Như vậy, sở xác định phần đất diện tích 5.184m
2
B được cụ
T1 cho theo Tờ di chúc ngày 25/9/2008, B đã chuyển nhượng cho H1 theo
Tờ sang đất ngày 30/4/2013. Mặc hợp đồng chuyển nhượng giữa B với
H1 chưa tuân thủ đúng quy định pháp luật về hình thức, nhưng hợp đồng chuyển
nhượng đã được các bên thực hiện. Do đó, Toà án cấp thẩm không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của B về việc buộc H1 giao trả cho bà B diện tích đất
5.184m
2
theo di chúc của cụ T1 ngày 25/9/2008 là có căn cứ.
7
[5] Đối với yêu cầu của B về việc yêu cầu H1 trả phần đất diện tích
298,7m
2
, thấy rằng:
[5.1] Theo các đương sđều xác định khi cụ T1 còn sống hứa cho B
một nền nhà ngang 08m cặp lộ nhựa chạy đến mé sông diện tích đo đạc thực tế
298,7m
2
sau khi cụ T1 chết đến năm 2021 H1 đã đồng ý cho B được s
dụng phần đất vĩnh viễn. Tuy nhiên xét thấy: Phần đất tặng cho B không đủ
diện tích tách thửa nên bị hiệu, nên cấp thẩm buộc H1 trách nhiệm
thanh toán cho B số tiền tương đương diện tích tặng cho, cụ thể: 298,7m
2
x
82.000đ/m
2
= 24.493.400 đồng, là có căn cứ.
[5.2] Đối với ý kiến tranh luận của Luật sư cho rằng theo quyết định của Ủy
ban nhân dân tỉnh Q1 về diện tích tối thiểu để tách thửa: Đối với địa bàn phường là
40m
2
, đối với địa bàn 50m
2
. Tuy nhiên, đối với quyết định của Ủy ban nhân
dân tỉnh Q1 diện tích đất như trên đối với đất ở, còn phần diện tích đất B yêu
cầu theo đo đạc đất cây lâu năm, nên không thuộc trường hợp như Luật đặt
ra.
[5] Đối với kháng cáo của ông T: Ông T đơn yêu cầu phân chia phần đất
diện tích 2.541m
2
, thấy rằng: Theo như nhận định [2], phần đất tài sản riêng của
cụ T1, còn ông T là con riêng của cụ Đ1, không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ
T1 theo pháp luật, đồng thời cũng không thuộc trường hợp người thừa kế không
phụ thuộc vào nội dung của di chúc được quy định tại Điều 644 của Bộ luật dân sự,
nên Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông T là có căn cứ.
[6] Từ phân tích trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo bà Nguyễn
Thị B và ông Võ Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[7] Chi phí giám định tại cấp phúc thẩm số tiền 2.061.000 đồng, B phải
chịu (bà B đã nộp xong)
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Thị B, ông Văn T được miễn
chịu án phí (đã được miễn dự nộp).
[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị B, ông Võ Văn T.
Giữ bản án dân sự thẩm số: 63/2025/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025
của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Mau Nay Tòa án nhân dân khu
vực 4- Cà Mau.
Tuyên xử:
8
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị B về việc yêu
cầu công nhận di chúc của cụ Nguyễn Tấn T1 ngày 25/9/2008 đối với phần đất
theo đo đạc thực tế diện tích 28.419,8m
2
là hợp pháp.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B về
việc yêu cầu Nguyễn Thị H1 giao lại phần đất diện tích 5.184m
2
tại các điểm
M15M16M17M18M19M20 phần đất diện tích 298.7m
2
tại các điểm
M6M7M24M25 của Bản Trích đo hiện trạng.
- Buộc Nguyễn Thị H1 nghĩa vụ thanh toán cho Nguyễn Thị B số
tiền 24.493.400 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H1.
Phân chia cho H1 được hưởng phần đất diện tích 23.235,8m
2
tại các điểm
M1M2M3M4M5M6M7M8M23M22M21M13M14M15 và công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa H1 với B ngày 30/4/2013 đối với
phần diện tích 5.184m
2
tại các điểm M15M16M17M18M19M20 của Bản Trích đo
hiện trạng.
(Kèm theo Bản Trích đo hiện trạng ngày 17/7/2024 của Công ty Trách
nhiệm hữu hạn P1).
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Văn T về việc yêu cầu phân
chia cho ông T hưởng thừa kế phần đất diện tích 2.541m
2
.
- Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản: Nguyễn Thị B
phải chịu 6.094.880 đồng; Nguyễn Thị H1 phải chịu 27.316.000 đồng. Do B
đã nộp 33.410.880 đồng, nên buộc H1 phải hoàn trả lại cho B số tiền
27.316.000 đồng.
Kể từ ngày B đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong
khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng bà H1 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự.
Chi phí giám định: Chi phí giám định tại cấp thẩm 5.900.000 đồng chi
phí giám định tại cấp phúc thẩm 2.061.000 đồng, B phải chịu (bà B đã nộp
xong).
- Án phí dân sự thẩm: Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị H1 ông
Văn T được miễn chịu án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyễn Thị B, ông Văn T được miễn
chịu án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
9
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ny tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 4- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 4- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 408/2025/DS-PT Bản án số 408/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 408/2025/DS-PT Bản án số 408/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất