Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 24/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 39/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST ngày 24/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 39/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị C xin được ly hôn với ông Đỗ Văn Đ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – ĐẮK LẮK
Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/09/2025
V/v: Kiện Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con
.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quang Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lan.
2. Ông Ngô Văn Tuyển.
- Thư ký phiên tòa: Trần Thị Thúy Vịnh TTòa án nhân dân khu
vực 4 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thùy Nguyên – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 09 năm 2025, tại phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân khu
vực 4 Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2025/TLST-HNGĐ
ngày 16 tháng 07 m 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 16 tháng 07 năm
2025 Quyết định hoãn phiên tòa số 25/QĐST- HNGĐ ngày 15 tháng 09 năm
2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh ngày 18/06/1985, (Vắng mặt, có
đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn 3, xã Q, tỉnh L.
Nơi tạm trú: Số 26/26 đường số 15, khu phố N, phường D, thành phố Hồ
Chí M.
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn Đ, sinh ngày 04/05/1984 (Vắng mặt).
2
Nơi thường trú: Thôn 2A, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong bản tự khai quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn
Thị C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi Nguyễn Thị C ông Đỗ Văn Đ sau một thời
gian tìm hiểu, yêu thương nhau tự nguyện thì quyết định tiến tới hôn nhân, có tổ
chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại
Uỷ ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Nay UBND E, tỉnh Đắk Lắk)
theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28, quyển số 01 ngày 24 tháng 01 năm 2007.
Lúc mới kết hôn vợ chồng chung sống bình yên, hạnh phúc được khoảng 6
tháng thì sau đó do ông Đ tính tình thay đổi, không quan tâm, chăm sóc cho gia
đình, tính cách vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống, mỗi người có
một quan điểm, suy nghĩ riêng nên tđó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn
thường xuyên cãi vả, không tôn trọng nhau trong cuộc sống. Mâu thuẫn nhất của
vợ chồng tôi là ông Đ nghe lời xúi dục của mẹ ruột, mỗi lần cãi nhau là ông Đ có
hành vi bạo lực, chửi bới tôi thậm tệ, tuy sống chung dưới một mái nhà những
việc sinh hoạt, ăn, ngủ thì mỗi người một phòng riêng, không còn ngủ chung với
nhau. đã cho nhau nhiều hội đề hàn gắn gia đình hai bên cũng hoà
giải nhiều lần nhưng không được. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chúng
tôi đã sống ly thân cuối năm 2007 cho đến nay. Tôi nhận thấy vợ chồng tôi sống
chung với nhau không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn
của vợ chồng đã quá trầm trọngkhông còn hội quay về đoàn tụ nên tôi đề
nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Đỗ Văn Đ.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng tôi có 01 con chung
cháu Đỗ Thị Kim L, sinh ngày 11/03/2008. Sau khi vợ chồng tôi sống ly thân
thì cháu Đỗ Thị Kim L đang do tôi trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguyện vọng
của tôi về con chung sau khi ly hôn tôi xin được trực tiếp chăm scó, nuôi dưỡng
cháu Đỗ Thị Kim L cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Hiện nay tôi đang làm công nhân
thu nhập hàng tháng khoảng 8.000.000 đồng – 9.000.000 đồng đang ở trọ nên
có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng
nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3
* Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn ông Đỗ Văn Đ trình bày: Tôi và bà
Nguyễn Thị C xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đăng kí kết hôn
tại Uỷ ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Nay là UBND xã E, tỉnh Đắk
Lắk) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28, quyển số 01 ngày 24 tháng 01 năm
2007. Sau khi về chung sống, vợ chồng tôi sống với nhau hạnh phúc được 6 tháng
thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống trong
việc kinh tế gia đình, do vậy bà C đã bỏ nhà đi từ tháng 6 năm 2007 đến nay. Bản
thân tôi cũng không điện thoại hỏi han C cũng như việc chăm sóc con chung
tôi đcho bà C tự một mình nuôi con. Nay C làm đơn xin ly hôn thì tôi đồng
ý đề nghị Tòa án cho vợ chồng được thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Tôi và bà C có 01 con chung là cháu Đỗ Thị Kim L, sinh
ngày 11/03/2008. Sau khi vợ chồng tôi sống ly thân thì cháu Đỗ Thị Kim L đang
do bà C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn bà C nguyện vọng muốn
được nuôi con thì tôi đồng ý.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: C không yêu cầu tôi cấp dưỡng nuôi
con chung nên tôi không có ý kiến gì.
- V tài sn chung, n chung: Tôi không yêu cu Tòa án gii quyết.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm nn dân khu vực 4 - Đắk Lắk về việc tuân
theo pháp luật ttụng dân sự trong quá tnh giải quyết vụ án và nội dung vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng
xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp
hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa
chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bluật tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều
51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật
hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho Nguyễn Thị C được ly hôn với ông Đỗ Văn
Đ.
Về con chung: Giao con chung cháu Đỗ Thị Kim L, sinh ngày 11/03/2008
cho bà Nguyễn Thị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu L đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyễn Thị C không yêu cầu, nên không
xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung nợ chung: Bà Nguyễn Thị C, ông Đỗ Văn Đ không yêu
cầu nên không xem xét, giải quyết.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của
đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền: Nguyên đơn Nguyễn Thị C khởi kiện xin ly hôn
đối với ông Đỗ Văn Đ, thường trú tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ điểm
a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 BLTTDS, Tòa án nhân dân khu vực
4 Đắk Lắk thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
[1.2]. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn ly hôn đề ngày 11 tháng 06 năm
2025 của bà Nguyễn Thị C, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Kiện
ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng
dân sự.
[1.3]. Về sự vắng mặt của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C, bị đơn ông Đỗ Văn
Đ tại phiên toà: Nguyên đơn Nguyễn Thị C đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn
ông Đỗ Văn Đ đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 17/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 16 tháng 07 năm 2025 và Quyết định hoãn
phiên tòa s25/QĐST- HNGĐ ngày 15 tháng 09 năm 2025, tuy nhiên ông Đ vắng
mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ
luật ttụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên
đơn bà Nguyễn Thị C, bị đơn ông Đỗ Văn Đ là có căn cứ.
[2]. Xét về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C:
[2.1]. Xét về quan hệ hôn nhân:
Trong quá trình thu thập chứng cứ, Nguyễn Thị C và ông Đỗ Văn Đ khai
nhận: Vợ chồng ông bà đến với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện và có đăng
kết hôn tại E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (NayUBND xã E, tỉnh Đắk Lắk) ngày
24 tháng 01 năm 2007, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Sau
khi về chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc được 6 tháng thì thường xuyên phát
sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính do tính cách không hợp, bất đồng quan
điểm sống, mỗi người có một quan điểm, suy nghĩ riêng, mâu thuẫn về kinh tế
nên từ đó vchồng phát sinh nhiều mâu thuẫn thường xuyên cãi vả, không tôn
trọng nhau trong cuộc sống. Từ cuối năm 2007, vợ chồng ông bà đã sống ly thân
không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau nữa.
Để spháp giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xác minh mâu
thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông Đ. Theo kết quả xác minh tại
chính quyền địa phương (Bút lục số 45) cho thấy: “Chính quyền địa phương không
5
nắm rõ nguyên nhân mâu thuẫn hôn nhân giữa vchồng ông Đ, bà C nhưng được
biết vợ chồng ông bà sống chung với nhau không được hạnh phúc đã không
còn sống chung với nhau từ cuối năm 2007 cho đến nay…”.”.
Căn cứ lời trình bày của các bên đương sự phần xác minh tại địa phương,
nhận thấy từ năm 2007, C ông Đ đã không sống chung với nhau, không
quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Từ đó có đủ cơ sở chứng minh tình trạng hôn nhân
giữa Nguyễn Thị C ông Đỗ Văn Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. vậy, HĐXX áp dụng
khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình để chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của Nguyễn Thị C, cho Nguyễn Thị C được ly hôn với ông Đỗ
Văn Đ là có căn cứ, đúng pháp luật.
,
[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Công Đỗ Văn Đ có 01 con chung
là cháu Đỗ Thị Kim L, sinh ngày 11/03/2008. Hiện nay cháu L đang doC trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Trong quá trình thu thập chứng cứ, C có nguyện vọng xin được trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, ông Đ nguyện vọng
giao con chung cho C chăm c, nuôi dưỡng. Xét thấy, việc giao con chung
cho ai nuôi dưỡng cần căn cứ theo nguyện vọng và quyền lợi mọi mặt cuộc sống
của con chung. Cháu Đỗ Thị Kim L đã đủ 7 tuổi khi được trình bày nguyện
vọng của bản thân muốn sống cùng ai khi ba mẹ ly hôn tcháu L nguyện vọng
muốn sống cùng mẹ, từ khi ba mẹ ly thân cho đến nay cháu đang sống cùng mẹ,
cháu L con gái nên việc giao cháu cho mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ
đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu hơn. Từ những phân tích nêu trên HĐXX
cần áp dụng Điều 81, 82 Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, giao cháu Đỗ Thị
Kim L, sinh ngày 11/03/2008 cho bà Nguyễn Thị C trc tiếp trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu L đủ tuổi 18 là phù hợp.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung:Nguyễn Thị C không yêu cầu nên
HĐXX không đề cập giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị
C, ông Đỗ Văn Đ không yêu cầu nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội buộc bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ
thẩm.
6
[4]. Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-
Đắk Lắk căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến của Viện
kiểm sát.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4
Điều 147; Điều 203; Điều 220; khoản 2 Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271
và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; khoản
3 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho Nguyễn Thị C được ly hôn với ông Đỗ
Văn Đ.
- Về con chung: Giao cháu Đỗ Thị Kim L, sinh ngày 11/03/2008 cho
Nguyễn Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi
cháu L đủ tuổi 18 tuổi.
Ông Đỗ Văn Đ được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không
ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông Đỗ Văn Đ kng được lạm dụng việc tm
nom con chung đcản trhoặc y nh hưởng xu đến việc tng nom, chăm
c, nuôi dưỡng giáo dc con chung. lợi ích của con chung, khi cần thiết
c n có quyền u cầu Toà án thay đổi việc ni con chung và cấp dưỡng
phí tổn nuôi con chung.
- Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Nguyễn Thị C không yêu cầu ông Đỗ
Văn Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không đề cập giải quyết.
.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị C, ông Đỗ Văn Đ không
yêu cầu nên Toà án không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn
thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Thi
hành án dân sự tỉnh Đ1 theo biên lai số 0003361 ngày 15/07/2025.
7
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của
pháp luật.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trương Quang Vinh
Tải về
Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST Bản án số 39/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất