Bản án số 38/2025/DS-ST ngày 08/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 38/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 38/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 38/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 38/2025/DS-ST ngày 08/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ |
| Số hiệu: | 38/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 08/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bản án Dân sự sơ thẩm Ngân hàng - Đào Văn C |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
Bản án số: 38/2025/DS- ST
Ngày 08 tháng 9 năm 2025
“V/v Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Triển
Ông Phùng Văn Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
Khu vực 10 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ tham gia phiên
tòa: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú
Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 23/2025/TLST-DS ngày
23 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2025
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V1); Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và
tầng 2, tòa nhà S, số A P, phường S, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Chức vụ: Tổng giám
đốc Ngân hàng TMCP Q; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Đình H -
Chức vụ: Giám đốc THN trực tiếp và XLN vùng - Vùng Tây Hà N, Ngân hàng
TMCP Q.
Người được ủy quyền lại: Bà Trần Thùy P, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn
Thị Thu P1, bà Trần Thị Thu H1 - Chức vụ: Cán bộ, Ngân hàng TMCP Q.
- Bị đơn: Ông Đào Văn C, sinh năm 1987 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1995;
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã V, tỉnh Phú
Thọ), (Đều vắng mặt);
2
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Văn B, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ)
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 12 năm 2024 và những lời khai tiếp
theo tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Thu
H1 trình bày:
Ngày 11/03/2024 Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V1) (nay được gọi
tắt là Ngân hàng V1) ký hợp đồng tín dụng số 104486965.24 với vợ chồng ông
Đào Văn C và bà Vũ Thị T, theo đó ngân hàng V1 cho vợ chồng ông C và bà T
vay số tiền 870.000.000đ (Tám trăm bảy mươi triệu đồng), mục đích cấp tín
dụng: Để đáp ứng nhu cầu vay bù đắp số tiền đã vay, mượn bên thứ ba để mua
BĐS tại thửa đât số 560, tờ bản đồ số 53 địa chỉ: TDP H, thị trấn G, huyện B,
tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là xã B, tỉnh Phú Thọ); Thời hạn vay là 240 tháng kể từ
ngày tiếp theo ngày khoản tiền tín dụng được giải ngân; Phương thức cho vay
từng lần; Lãi suất cho vay thả nổi, được xác định tại thời điểm giải ngân. Thực
hiện Hợp đồng thì Ngân hàng đã giải ngân cho vợ chồng ông C và bà T vay tiền
theo đúng thoả thuận, ngày 11/3/2024 Ngân hàng đã giải ngân cho vợ chồng ông
Đào Văn C, bà Vũ Thị T vay số tiền 870.000.000đ (Tám trăm bảy mươi triệu
đồng) thời hạn vay là 240 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân cho đến
ngày 11/3/2044, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 8,50%/năm là lãi suất
ưu đãi chỉ áp dụng cho 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng,
hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng
lãi suất cơ sở cộng biên độ 3.90%/năm. Ngoài ra, ngày 14/3/2024 ông Đào Văn
C còn được Ngân hàng cho vay dưới hình thức thẻ với hạn mức thẻ là
30.000.000đồng
Để đảm bảo khoản vay trên vợ chồng ông Đào Văn C, bà Vũ Thị T có ký
Hợp đồng thế chấp số 0046587.24.035 ngày 11/3/2024 với Ngân hàng V1, tài
sản thế chấp bao gồm: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số
560 tờ bản đồ số 52, diện tích 374,5m
2
(Trong đó 100m
2
đất ở và 274,5m
2
đất
trồng cây lâu năm) địa chỉ: TDP H, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là
xã B, tỉnh Phú Thọ) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DO
365436 ngày 01/3/2024 đứng tên ông Đào Văn C, bà Vũ Thị T (nguồn gốc là do
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất).
3
Quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay là vợ chồng ông C và bà T đã
nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tính đến ngày 25/12/2024 ông C và bà T
chỉ trả nợ được Ngân hàng tổng số tiền là 47.176.030 đồng tiền lãi. Ngân hàng
đã đôn đốc nhiều lần nhưng ông C và bà T không thực hiện thanh toán trả nợ
cho Ngân hàng nên ngày 30/10/2024 khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Nay
Ngân hàng V1 có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ
giải quyết: Buộc vợ chồng Đào Văn C và bà Vũ Thị T phải có nghĩa vụ thanh
toán, trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 08/9/2025 là
1.010.279.389 đồng trong đó gồm: nợ gốc khoản vay theo Hợp đồng tín dụng là
869.900.000 đồng, lãi trong hạn 25.404.242 đồng, lãi quá hạn 58.752.014 đồng;
nợ gốc khoản vay thẻ tín dụng là 27.075.000 đồng, nợ lãi: 9.704.722 đồng và nợ
phí: 19.443.411 đồng. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử là ngày 09/9/2025 ông
C, bà T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo đúng thoả thuận trong hợp đồng
tín dụng và giấy đề nghị phát hành thẻ. Cụ thể đối với khoản vay theo Hợp đồng
tín dụng phải trả lãi quá hạn là 12,75%/năm đối với dư nợ gốc chưa thanh toán,
đối với khoản vay theo thẻ tín dụng phải trả lãi trong hạn là 2,49%/tháng và các
khoản phí (bao gồm phí chậm thanh toán 2.000.000đồng/tháng, phí vượt hạn
mức 50.000 đồng/tháng và phí thường niên 499.000 đồng/năm) cho đến khi
thanh toán hết khoản vay cho Ngân hàng.
Trong trường hợp ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng V1 thì Ngân hàng có
quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm
của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng. Toàn bộ số
tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa
vụ trả nợ của Bên vay đối với Ngân hàng V1. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý
tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Bên vay vẫn phải có nghĩa
vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng V1.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng đã nộp tạm ứng số tiền
10.000.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đã chi phí hết
5.000.000 đồng, được hoàn trả lại số tiền 5.000.000 đồng. Nay Ngân hàng tự
nguyện chịu chi phí không yêu cầu bị đơn phải chịu.
Tại phiên toà bị đơn ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T đều vắng mặt. Tuy
nhiên tại biên bản lấy lời khai ngày 03/4/2025 ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T
đều trình bày: Ông bà đều thừa nhận có ký Hợp đồng tín dụng và đơn đề nghị
phát hành thẻ với Ngân hàng V1 để vay số tiền 870 triệu đồng, cụ thể các khoản
4
vay tín dụng và theo thẻ tín dụng bao nhiêu tiền ông bà không nhớ, tuy nhiên
ông bà thừa nhận theo như người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày
như trên là đúng. Tuy nhiên khoản vay nói trên là do ông bà đứng ra vay hộ ông
Đào Văn B là anh em con bá con dì, khoảng năm 2024 ông B có mua thửa đất
thổ cư số 560 tờ bản đồ số 52, diện tích 374,5m
2
(Trong đó 100m
2
đất ở và
274,5m
2
đất trồng cây lâu năm) địa chỉ: TDP H, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh
Phúc (Nay là xã B, tỉnh Phú Thọ). Tại thời điểm mua đất do ông B cần nhu cầu
vay tiền nhưng bản thân ông B bị nợ xấu nên không thể vay tiền tại các tổ chức
tín dụng, ông B có nhờ vợ chồng ông bà đứng tên quyền sử dụng đất và vay vốn
hộ ông B. Thực tế việc vay tiền là do ông B sử dụng vốn vay và trả nợ lãi hàng
tháng cho Ngân hàng, tài sản thế chấp cũng là của ông B không phải là của vợ
chồng ông bà. Nay Ngân hàng có đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông bà trả nợ
gốc và lãi theo như cách tính của ngân hàng thì ông bà không có ý kiến gì. Quan
điểm của ông bà đề nghị Tòa án cho thời gian để ông Bình bán tài sản thu sếp trả
nợ Ngân hàng, Trường hợp ông B không trả được nợ cho Ngân hàng thì đề nghị
Toà án cho xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật, ông bà đề nghị Ngân
hàng miễn giảm lãi cho ông B. Do điều kiện công việc nên ông bà xin được giải
quyết vắng mặt.
Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn B vắng
mặt nhưng tại Biên bản lấy lời khai ngày 11/4/2025 ông Đào Văn B trình bày:
Năm 2024 ông có mua thửa đất số 560 tờ bản đồ số 52, diện tích 374,5m
2
(Trong đó 100m
2
đất ở và 274,5m
2
đất trồng cây lâu năm) địa chỉ: TDP H, thị
trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là xã B, tỉnh Phú Thọ), sau khi mua xong
do tình cảm nên ông có nhờ vợ chồng ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T đứng tên
quyền sử dụng đất, do cần vốn làm ăn nên ông có nhờ vợ chồng ông C bà T
đứng ra thế chấp tài sản và vay tiền theo Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế
chấp như Ngân hàng đã trình bày là đúng. Số tiền vay 870 triệu đồng và 30 triệu
đồng tiền thẻ vay là do ông sử dụng, hàng tháng ông là người trả nợ cho Ngân
hàng tiền lãi. Do làm ăn khó khăn nên ông đã vi phạm hợp đồng không nộp tiền
lãi đúng hạn. Nay Ngân hàng khởi kiện vợ chồng ông C và bà T thì quan điểm
ông đề nghị cho ông thời gian 03 tuần để ông thu xếp trả nợ ngân hàng. Nếu quá
thời hạn 03 tuần ông không trả được nợ thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy
định pháp luật. Ông B thừa nhận toàn bộ số tiền vay là do ông sử dụng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng các Điều 117, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều
5
325 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các
Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 24, Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân
hàng TMCP Q, buộc ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T phải thanh toán trả nợ cho
Ngân hàng V1 tổng số tiền đến hết ngày 08/9/2025 là 1.010.279.389 đồng trong
đó gồm: nợ gốc khoản vay 869.900.000 đồng, lãi trong hạn 25.404.242 đồng, lãi
quá hạn 58.752.014 đồng; nợ gốc khoản thẻ 27.075.000 đồng, nợ lãi: 9.704.722
đồng; nợ phí: 19.443.411 đồng. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử là ngày
09/9/2025 ông C, bà T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo đúng thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng và đề nghị phát hành thẻ. Cụ thể đối với khoản vay theo
Hợp đồng tín dụng phải trả lãi quá hạn là 12,75%/năm đối với dư nợ gốc chưa
thanh toán, đối với khoản vay theo thẻ tín dụng phải trả lãi trong hạn là
2,49%/tháng và các khoản phí (bao gồm phí chậm thanh toán 2.000.000
đồng/tháng, phí vượt hạn mức 50.000đồng/tháng và phí thường niên 499.000
đồng/năm) cho đến khi thanh toán hết khoản vay cho Ngân hàng.
Trong trường hợp ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh
thì Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát
mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho V1.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh
toán nghĩa vụ trả nợ của Bên vay đối với Ngân hàng V1. Nếu số tiền thu được từ
bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Bên vay vẫn
phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng V1.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng đã nộp số tiền
5.000.000đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Nay Ngân hàng không yêu
cầu bị đơn phải chịu chi phí.
Về án phí: Ngân hàng không phải chịu án phí nên được hoàn trả lại số tiền
tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa và căn cứ; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến
6
của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; Hội đồng
xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP Q (V1) có đơn khởi kiện yêu
cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T phải trả nợ
gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng số 104486965.24 ngày 11/3/2024 và đề nghị
phát hành thẻ ngày 14/3/2024 do đó quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh
chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ Luật Tố tụng
dân sự năm 2015. Tại thời điểm khởi kiện và thụ lý vụ án ông Đào Văn C và bà
Vũ Thị T có hộ khẩu thường trú tại xã X, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là xã V,
tỉnh Phú Thọ) nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ Luật Tố tụng dân sự
năm 2015 Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ thụ lý giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm là đúng về thẩm quyền.
Đối với sự vắng mặt của bị đơn là ông Đào Văn C, bà Vũ Thị T và người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn B vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã
được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn
cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử
vắng mặt đối với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đào Văn
B là đúng quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Ngày 11/3/2024 Ngân hàng TMCP Q (V1) và vợ chồng ông Đào
Văn C và Thị T đã ký hợp đồng tín dụng số 104486965.24, theo đó Ngân hàng
cho vợ chồng ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T vay số tiền là 870.000.000đ (Tám
trăm bảy mươi triệu đồng), mục đích sử dụng vốn: Vay bù đắp số tiền đã vay,
mượn bên thứ ba để mua BĐS tại thửa đât số 560, tờ bản đồ số 53 địa chỉ: TDP
H, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là xã B, tỉnh Phú Thọ). Ngoài ra,
ông Đào Văn C còn có đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng với số tiền
30.000.000 đồng. Tổng số tiền Ngân hàng đã cho vay là 900.000.000 đồng
(Chín trăm triệu đồng chẵn), ngân hàng đã giải ngân theo đúng thoả thuận đã ký
trong các Hợp đồng tín dụng, ông C và bà T đã nhận đủ số tiền vay.
Để đảm bảo khoản vay trên ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T đã thế chấp
cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất bằng hợp đồng thế
chấp số 0046587.24.035 ngày 11/3/2024 với Ngân hàng V1, tài sản thế chấp bao
gồm: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 560 tờ bản đồ số
52, diện tích 374,5m
2
(Trong đó 100m
2
đất ở và 274,5m
2
đất trồng cây lâu năm)
địa chỉ: TDP H, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là xã B, tỉnh Phú Thọ)
7
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DO 365436 ngày 01/3/2024
đứng tên ông Đào Văn C, bà Vũ Thị T (nguồn gốc là do nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất).
Khi ký kết các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp, các bên tham
gia ký kết đều có năng lực hành vi dân sự, việc ký kết trên cơ sở tự nguyện,
không bị ép buộc lừa dối, các điều khoản trong hợp đồng không trái pháp luật,
không trái đạo đức xã hội thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực quy định tại Điều
117 Bộ luật dân sự 2015. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng và được đăng
ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật, tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng ông Đào
Văn C và bà Vũ Thị T, tại thời điểm thế chấp tài sản không có tranh chấp, không
bị kê biên để đảm bảo thi hành án. Hợp đồng được lập thành văn bản các bên
đều tự nguyện ký kết đóng dấu về nội dung và hình thức đều hợp pháp nên phát
sinh hiệu lực đối với các bên tham gia.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là vợ chồng ông C, bà T và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đào Văn B đều cho rằng tài sản thế chấp là
của ông Đào Văn B, tuy nhiên không có chứng cứ chứng minh vì giấy chứng
nhận đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên ông Đào Văn C, bà Vũ Thị T và vợ
chồng ông C bà T là người ký kết Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp, bị
đơn đều thừa nhận chữ ký trong Hợp đồng là của vợ chồng ông bà Chí T1.
Do vợ chồng ông C và bà T1 đã không thực hiện trả nợ lãi theo như cam
kết trong Hợp đồng cấp tín dụng, các khế ước nhận nợ, khoản vay bị quá hạn từ
ngày 30/10/2024. Quá trình ngân hàng Đ, vợ chồng ông C bà T1 trả được cho
Ngân hàng số tiền 47.176.030 đồng, trong đó nợ gốc: 0 đồng, lãi trong hạn
46.924.938 đồng, lãi quá hạn 251.092 đồng. Tính đến ngày 08/9/2025 vợ chồng
ông C bà T1 còn nợ của Ngân hàng tổng số tiền là 1.010.279.389 đồng trong đó
gồm: nợ gốc khoản vay 869.900.000 đồng, lãi trong hạn 25.404.242 đồng, lãi
quá hạn 58.752.014 đồng; nợ gốc khoản thẻ 27.075.000 đồng, nợ lãi: 9.704.722
đồng; nợ phí: 19.443.411 đồng. Ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T đề nghị cho
thời gian để ông Đào Văn B thu sếp bán tài sản trả nợ Ngân hàng, ông Đào Văn
B xin thời gian 03 tuần kể từ ngày 11/4/2025 để trả nợ Ngân hàng nhưng đến
nay đã quá thời hạn cam kết, bên vay không trả được nợ cho Ngân hàng. Do
vậy, Ngân hàng có đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Đào Văn C và bà Vũ
Thị T phải trả nợ Ngân hàng số tiền tính đến ngày 08/9/2025 là 1.010.279.389
đồng trong đó gồm: nợ gốc khoản vay 869.900.000 đồng, lãi trong hạn
8
25.404.242 đồng, lãi quá hạn 58.752.014 đồng; nợ gốc khoản thẻ 27.075.000
đồng, nợ lãi: 9.704.722 đồng; nợ phí: 19.443.411 đồng là có căn cứ, phù hợp với
quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên cần
được chấp nhận. Như vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ cần
được chấp nhận.
Đối với yêu cầu của bị đơn là vợ chồng ông Đào Văn C, bà Vũ Thị T và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đào Văn B cho rằng việc vay tiền
là do ông Đào Văn B nên ông B có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng, ông B cũng
nhận trách nhiệm trả nợ. Tuy nhiên căn cứ vào hồ sơ tín dụng thể hiện người vay
tiền là vợ chồng ông C bà T nên ông C bà T phải có nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng.
Về yêu cầu tính lãi: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà
nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu lãi như sau: Đối với khoản vay theo Hợp
đồng tín dụng phải trả lãi quá hạn là 12,75%/năm đối với dư nợ gốc chưa thanh
toán, đối với khoản vay theo thẻ tín dụng phải trả lãi trong hạn là 2,49%/tháng
và các khoản phí (bao gồm phí chậm thanh toán 2.000.000đồng/tháng, phí vượt
hạn mức 50.000đồng/tháng và phí thường niên 499.000đồng/năm) cho đến khi
thanh toán hết khoản vay cho Ngân hàng. Xét thấy yêu cầu cảu nguyên đơn là
phù hợp với Điều 468 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP
ngày 11/01/2019 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, theo đó kể từ ngày
09/9/2025 ông C và bà T còn phải tiếp tục trả các khoản lãi, phí nêu trên.
Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Để bảo đảm cho khoản vay tại Hợp
đồng cho vay số: 104486965.24 ngày 11/3/2024 thì ông Đào Văn C và bà Vũ
Thị T đã thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 0046587.24.035 ngày
11/3/2024 với Ngân hàng V1, tài sản thế chấp bao gồm: Quyền sử dụng đất, tài
sản gắn liền với đất tại thửa đất số 560 tờ bản đồ số 52, diện tích 374,5m
2
(Trong đó 100m
2
đất ở và 274,5m
2
đất trồng cây lâu năm) địa chỉ: TDP H, thị
trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là xã B, tỉnh Phú Thọ) đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số DO 365436 ngày 01/3/2024 đứng tên ông Đào
Văn C, bà Vũ Thị T.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, Toà án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ
đối với toàn bộ tài sản thế chấp nêu trên. Kết quả đo đạc diện tích đất theo hiện
trạng có sự thay đổi so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất chỉ có
chuồng trại chăn nuôi và công trình vệ sinh, sân gạch đều đã cũ hỏng không còn
giá trị sử dụng. Cụ thể: Tại thửa đất số 560, tờ bản đồ số 52 diện tích theo GCN
quyền sử dụng đất đã cấp là 374,5m
2
, qua kiểm tra hiện trạng là 374,5m
2
trong
9
đó phần diện tích đất theo chỉ giới được cấp GCN là 370,9m
2
được xác định
theo mốc 1,2,3,4,5,6,7,8,C,B,A,11,12,13,14,1 và phần nằm ngoài GCN được cấp
là 3,6m
2
được xác định theo mốc A,B,C,8,9,10,A (Nguyên nhân thay đổi diện
tích là do sai số đo đạc, ranh giới đất các hộ xung quanh đã sử dụng ổn định
không có tranh chấp gì về đất. Toàn bộ hiện trạng quyền sử dụng đất theo như
sơ đồ đo đạc chi tiết do cơ quan đo đạc đã cung cấp cho Tòa án. Tại phiên toà
Ngân hàng đồng ý xử lý tài sản thể chấp là quyền sử dụng đất theo hiện trạng
đối với thửa đất số 560, tờ bản đồ số 52 diện tích 370,9 m
2
(Theo chỉ giới các
mốc 1,2,3,4,5,6,7,8,C,B,A,11,12, 13,14,1). Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là
tự nguyện nên cần được chấp nhận.
[3]. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyên chịu chi phí, không yêu
cầu bị đơn phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không
xem xét.
[5]. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ngân hàng không phải chịu án phí nên
được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn phải chịu án phí theo
quy định của pháp luật. Cụ thể số tiền bị đơn phải trả Ngân hàng là
1.010.279.389 đồng nên án phí dân sự sơ thẩm phải chịu là 36.000.000đ + 3% x
210.279.389đ = 42.308.381đồng (được làm tròn là 42.308.000đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 35; Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân
sự; các Điều 117, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 325 của Bộ
luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các Tổ chức tín
dụng năm 2010; Điều 24, Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q (V1) đối
với vợ chồng ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T.
Buộc ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q
(V1) tổng số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 08/9/2025 là 1.010.279.389 đồng
trong đó gồm: nợ gốc khoản vay 869.900.000 đồng, lãi trong hạn 25.404.242
đồng, lãi quá hạn 58.752.014 đồng; nợ gốc khoản thẻ 27.075.000 đồng, nợ lãi:
9.704.722 đồng; nợ phí: 19.443.411 đồng.
10
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử là ngày 09/9/2025 ông C, bà T còn phải
tiếp tục trả lãi phát sinh theo đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và đề
nghị phát hành thẻ. Cụ thể đối với khoản vay theo Hợp đồng tín dụng phải trả lãi
quá hạn là 12,75%/năm đối với dư nợ gốc chưa thanh toán, đối với khoản vay
theo thẻ tín dụng phải trả lãi trong hạn là 2,49%/tháng và các khoản phí (bao
gồm phí chậm thanh toán 2.000.000đồng/tháng, phí vượt hạn mức
50.000đồng/tháng và phí thường niên 499.000đồng/năm) cho đến khi thanh toán
hết khoản vay cho Ngân hàng.
2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Đào Văn C1 và bà Vũ
Thị T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản
nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi
hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ khoản nợ
cho V1. Tài sản bảo đảm bao gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
tại thửa đất số 560; tờ bản đồ số 52; diện tích theo giấy chứng nhận được cấp
đứng tên ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T là 374.5m
2
ở địa chỉ: TDP H, thị trấn
G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là xã B, tỉnh Phú Thọ); Diện tích đất theo hiện
trạng là là 370,9m
2
được xác định theo mốc 1,2,3,4,5,6,7,8,C,B,A,11,12,13,14,1
(có sơ đồ chi tiết kèm theo);
3. Trường hợp số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm sau khi trừ đi
các chi phí cho việc bán tài sản, các khoản phải nộp cho Nhà nước (nếu có)
không đủ để trả hết nợ cho Ngân hàng thì ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T phải
có trách nhiệm tiếp tục trả nợ gốc và lãi cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
4. Về án phí: Ông Đào Văn C và bà Vũ Thị T phải chịu 42.308.381đồng
(được làm tròn là 42.308.000đồng) án phí Dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân
hàng TMCP Q (V1) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.800.000đồng (Mười
chín triệu, tám trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005376 ngày 22/01/2025
của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là
Phòng THADS Khu vực 10 - Phú Thọ).
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

11
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết
bản án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- VKSND Khu vực 10 - Phú Thọ;
- Phòng THADS Khu vực 10 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Thị Hải
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hải
12
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm