Bản án số 215/2026/KDTM-PT ngày 02/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 215/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 215/2026/KDTM-PT ngày 02/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 215/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/06/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: y án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 215/2026/KDTM-PT Bản án số 215/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 215/2026/KDTM-PT Bản án số 215/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 215/2026/KDTM-PT
Ngày: 02-6-2026
V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Huỳnh;
Ông Bùi Ngọc Thạch.
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Mỹ Dung Thư ký Tòa án nhân n
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 27 tháng 5 02 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ sở 2) xét xử phúc thẩm ng khai vụ án kinh
doanh, thương mại thụ số 106/2026/TLPT-KDTM ngày 11/3/2026 về việc
“tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”,
Do Bản án kinh doanh, thương mại thẩm 01/2026/KDTM-ST ngày
05/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 Thành phố Hồ Chí Minh bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2775/2026/QĐ-PT ngày
28/4/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH S; địa chỉ trụ sở tại: phường D, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông T, sinh năm 1990; nơi
thường trú:, Thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền (theo
Giấy ủy quyền ngày 14/4/2026), có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Nguyễn Nguyện Xuân T1
- Bị đơn: Công ty TNHH sản xuất thương mại R; địa chỉ trụ sở: phường
R1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông X; sinh năm 1997; thường trú: tỉnh
Mau, là người đại diện theo ủy quyền
2
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Thị D2; sinh năm
1996; nơi thường trú: tỉnh Thanh Hóa, có mặt
Người kháng cáo: Bị đơn Công ty TNHH sản xuất thương mại R.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/10/2024 trong quá trình giải quyết vụ
án nguyên đơn Công ty TNHH S trình bày:
Từ khoảng tháng 01/2019 đến tháng 6/2021, Công ty TNHH S (sau đây
gọi tắt là “Công ty S”) đã có mối quan hệ hợp tác mua bán hàng hóa với Công ty
TNHH sản xuất thương mại R (sau đây gọi tắt “Công ty R”) do Nguyễn
Thúy M người đại diện pháp luật, chồng M người Đài Loan mối
quan hệ quen biết lâu năm với ông Chang Fu Han - đại diện pháp luật Công ty S.
Nên khi Nguyễn Thúy M thành lập Công ty R, M vẫn tiếp tục mối quan
hệ hợp tác mua bán hàng hóa với Công ty S. Hai bên công ty thống nhất vẫn giữ
thói quen thương mại trong quan hệ mua bán hàng hóa theo hình thức thỏa thuận
thông qua Zalo như từ trước đến nay.
Ngày 31/12/2021, Công ty R đã xác nhận số tài khoản phải trả cho
Công ty S 169.814.920 đồng (một trăm sáu mươi chín triệu tám trăm mười
bốn nghìn chín trăm hai mươi đồng) thông qua Thư xác nhận về việc xác nhận
số dư cho mục đích kiểm toán.
Trong khoảng thời gian từ năm 2023 đến năm 2024, Công ty TNHH S
Công ty R đã thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa là nhựa cứng các loại. Theo
thỏa thuận của Giám đốc Công ty S với Công ty R, việc mua bán này dựa theo
số lượng các bên giao nhận xuất hóa đơn theo đơn hàng thực tế, việc kết
hợp đồng sẽ được các bên bổ sung khi cần thiết.
Đến tháng 9/2024, đại diện Công ty S đã gửi Hợp đồng nguyên tắc số
0210/SC-HP/2024 đến đại diện Công ty R (bà Huỳnh Đào) để ký kết. Sau khi ký
kết hợp đồng, đại diện theo pháp luật Công ty R là Nguyễn Thúy M không
gửi lại bản gốc hợp đồng như đã thỏa thuận.
Trong khoảng tháng 02/2023, Công ty R (Bên mua) phát sinh quan hệ
mua bán hàng hóa là nhựa cứng các loại với Công ty S (Bên bán). Cụ thể:
+ Bên mua gửi đơn đặt hàng (file Excel) qua Zalo cho bên bán;
+ Bên bán lập đơn hàng, tiến hành giao hàng thực tế;
+ Khi giao hàng, nhân viên bên mua trực tiếp nhận trên phiếu xuất
hàng và gửi lại phiếu xuất hàng cho bên bán;
+ Sau khi giao hàng, bên bán xuất hóa đơn GTGT tương ứng cho từng
đơn hàng và gửi mail file pdf hóa đơn điện tử cho bên mua.
+ Vài tháng bên mua sẽ thanh toán tiền hàng một lần dựa theo số hóa đơn
GTGT mà bên bán đã xuất cho bên mua.
3
Đây phương thức thực hiện giao dịch được hai bên thiết lập thường
xuyên, liên tục. Từ tháng 2/2023 đến tháng 6/2024, hai bên đã thực hiện 24 giao
dịch mua bán hàng hóa cụ thể như sau:
Năm 2023:
- Số lượng giao dịch: 18 giao dịch.
- Tổng tiền hàng: 993.728.454 đồng.
- Đã thanh toán: 351.611.276 đồng.
- Còn nợ: 642.117.178 đồng.
- Chi tiết:
STT
Số
hóa
đơn
Số tiền
(VNĐ)
Ngày
thanh toán
Phiếu
xuất
hàng
Ghi chú
1
035
25.361.455
25/01/2024
Đã thanh toán
2
110
63.140.880
29/02/2024
Đã thanh toán
3
143
96.579.636
27/05/2024
Đã thanh toán
4
177
65.101.080
28/03/2024
Đã thanh toán
5
179
1.450.225
03/06/2024
Đã thanh toán
6
220
151.212.600
08/07/2024
5785;
5900;
5791
Trả 99.978.000
Còn nợ
51.234.600
7
270
59.565.456
5971;
5973;
5974;
5975;
6047
Chưa thanh toán
8
271
18.437.072
Chưa thanh toán
9
318
58.462.560
6059;
6060;
6108;
6150;
6151
Chưa thanh toán
10
334
7.199.358
Chưa thanh toán
11
339
3.588.624
Chưa thanh toán
12
378
63.257.760
6273
Chưa thanh toán
13
446
48.405.600
6353;
6430;
10-01
Chưa thanh toán
14
447
24.720.264
Chưa thanh toán
15
513
148.620.096
11-01;
Chưa thanh toán
4
16
515
20.756.741
6462;
6465;
6556;
6596
Chưa thanh toán
17
560
133.096.608
12-01;
12-02;
6673;
6742
Chưa thanh toán
18
561
4.772.439
Chưa thanh toán
Công ty S đã nhiều lần yêu cầu Công ty R thanh toán nợ nhưng Công ty R
đã thương lượng được trả từ từ và muốn tiếp tục được hợp tác mua bán hàng hóa
với công ty S. Do hai người đại diện pháp luật của Công ty S ng ty R
mối quan hệ quen biết lâu năm nên mặc dù Công ty R đang còn nợ nhưng Công
ty S vẫn tiếp tục mua bán hàng hóa với Công ty R.
Hiện Công ty TNHH Một thành viên R do Nguyễn Thúy M người
đại diện pháp luật cũng đang nợ Công ty S stiền rất lớn Công ty S đang
khởi kiện bà Nguyễn Thúy M ở vụ án khác.
Năm 2024:
- Số lượng giao dịch: 06 giao dịch.
- Tổng tiền hàng: 118.682.911 đồng.
- Đã thanh toán: 37.447.498 đồng,
- Còn nợ: 81.235.413 đồng.
- Chi tiết:
STT
Số
hóa
đơn
Ngày phát
hành
Số tiền
(VNĐ)
Ngày
thanh toán
Phiếu
xuất
hàng
Ghi chú
1
39
30/01/2024
17.379.836
Chưa thanh toán
2
41
30/01/2024
37.447.498
25/04/2024
Đã thanh toán
3
65
26/02/2024
1.131.045
Chưa thanh toán
4
209
26/04/2024
28.686.513
Chưa thanh toán
5
280
31/05/2024
3.003.160
Chưa thanh toán
6
320
26/06/2024
31.034.859
Chưa thanh toán
Tổng cộng số tiền nợ hàng hóa năm 2023 năm 2024 Công ty R còn
phải trả cho Công ty S 723.352.591 đồng.
Diễn biến sau giao dịch:
Bên bán đã giao hàng đầy đủ, có hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) hợp lệ.
5
Bên mua đã ký nhận phiếu xuất kho và không có bất kỳ văn bản khiếu nại
hay từ chối nhận hàng nào.
Quan trọng hơn, Công ty R đã sử dụng toàn bộ hóa đơn GTGT do Công ty
S phát hành đkhai thuế khấu trừ thuế đầu vào, cho thấy các giao dịch
mua bán hàng hóa đã hoàn thành được công nhận trong hồ kế toán, hồ
khai thuế, hồ sơ Báo cáo tài chính của Công ty R đại diện pháp luật Công
ty R cũng không bất k khiếu nại hay phản đối nào, chứng tỏ đại diện pháp
luật Công ty R đã công nhận có phát sinh giao dịch mua bán hàng hóa với Công
ty S.
Tuy nhiên, đến khi bị khởi kiện, phía Công ty R lại phủ nhận nghĩa vụ
thanh toán không thừa nhận giao dịch mua bán hàng hóa với Công ty S.
Đây hành vi vừa mâu thuẫn, gian dối, vừa vi phạm nghĩa vụ trung thực trong
thương mại theo quy định tại Điều 6 Luật Thương mại 2005 vi phạm nghĩa
vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định tại Điều 50 Luật
Thương mại 2005.
Việc sử dụng hóa đơn đầu vào để khai thuế nhưng lại phủ nhận nghĩa
vụ trả tiền hành vi lợi dụng hệ thống pháp luật về thuế để trốn tránh trách
nhiệm dân sự, gây thiệt hại nghiêm trọng cho Công ty S ảnh hưởng đến trật
tự thương mại lành mạnh.
Ngoài tiền công nợ chưa thanh toán, căn cứ theo quy định tại Điền 357 Bộ
Luật Tố tụng dân sự 2015 về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền:
“1. Trường hợp bên nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối
với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của
các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1
Điều 468 của Bộ luật này; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định
tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.”
Yêu cầu Công ty R thanh toán phần lãi suất 10%/năm từ ngày nộp đơn
khởi kiện đến ngày xét xử thẩm. Lãi suất tạm tính từ ngày nộp đơn khởi kiện
đến ngày xét xử sơ thẩm (dự kiến 03 tháng) như sau:
Lãi suất Công ty R có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty S là 723.330.591 x
(03 x (10%/12)) = 18.083.264 đồng (mười tám triệu không trăm m mươi ba
nghìn hai trăm sáu mươi bốn đồng).
Yêu cầu cụ thể của nguyên đơn như sau:
Buộc Công ty R nghĩa vụ thanh toán cho Công ty S s tiền công nợ
723.330.591 đồng (bảy trăm hai mươi ba triệu ba trăm ba mươi nghìn năm trăm
chín mươi mốt đồng).
Số tiền lãi chậm trả 18.083.264 đồng (mười tám triệu không trăm tám
mươi ba nghìn hai trăm sáu mươi bốn đồng). Tổng cộng 741.413.855 đồng (bảy
trăm bốn mươi mốt triệu bốn trăm mười ba nghìn tám trăm năm mươi lăm
đồng).
6
Ngày 03/6/2025, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số
tiền lãi chậm trả 18.083.264 đồng (mười tám triệu không trăm tám mươi ba
nghìn hai trăm sáu mươi bốn đồng). Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn phải thanh
toán cho nguyên đơn số tiền công nợ là 723.330.591 đồng (bảy trăm hai mươi ba
triệu ba trăm ba mươi nghìn năm trăm chín mươi mốt đồng).
* Tại bản tự khai ngày 12/3/2025 trong quá trình giải quyết vụ án bị
đơn Công ty TNHH sản xuất thương mại R - trình bày:
Giữa Công ty R Công ty S làm ăn mua bán hàng hóa với nhau từ
tháng 6/2023 đến tháng 6/2024.Việc Công ty S khởi kiện yêu cầu Công ty R
phải thanh toán cho Công ty S số tiền nợ gốc 723.330.591 đồng, lãi chậm trả
18.083.264 đồng thì Công ty R không đồng ý. do, Công ty S chỉ cung cấp
cho Tòa án hóa đơn giá trị gia tăng mà không kèm theo đơn đặt hàng, phiếu xuất
kho cũng như hợp đồng mua bán giữa các bên. Việc mua bán giữa hai công ty
chỉ trao đổi qua nhân viên của hai công ty (zalo). Đồng thời, hiện nay toàn bộ
nhân viên của Công ty R đã nghỉ việc dẫn đến không còn hồ chứng từ để đối
chiếu công nợ. Do đó, hai bên công ty strực tiếp làm việc với nhau ngoài Tòa
án để xác minh hồ sơ sổ sách có liên quan đến tranh chấp này.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 03/6/2025, người đại diện theo ủy
quyền của bđơn trình bày Nguyễn Thúy M là người đại diện theo pháp luật
của Công ty R. Giữa Công ty R làm ăn mua bán hàng hóa với Công ty S việc
làm ăn mua bán như thế nào M không rõ, việc làm ăn chỉ thông qua những
nhà đầu người Trung Quốc điều hành đứng phía sau hai công ty. Thời điểm
năm 2023 2024, M không biết Giám đốc Công ty S ai, đến thời điểm
hiện nay M vẫn không biết Giám đốc Công ty S là ai M cũng không
thỏa thuận hay kết bất cứ Hợp đồng mua bán hàng hóa nào với Công ty S.
Công ty S cũng không làm việc trực tiếp với M bất cứ việc gì chuyện làm ăn
hay mua bán hàng hóa.
Do đó, việc Công ty S chỉ cung cấp cho Tòa án các hóa đơn giá trị gia
tăng gửi kèm theo phiếu xuất hàng bảng không chữ xác nhận của
Giám đốc Công ty R cũng không đơn đặt hàng của Công ty R không
phù hợp theo quy định của pháp luật. Phiếu xuất hàng của Công ty S thể hiện
người nhận hàng không rõ ràng chỉ thể hiện chữ ký, người nhận hàng là ai thì
M không biết (liệu rằng phải nhân viên của Công ty R hay không), việc
giao nhận hàng cũng không có đơn đặt hàng, thỏa thuận về số lượng đơn giá của
Công ty R bằng văn bản theo từng a đơn cũng không kèm theo Hợp đồng
mua bán hàng hóa chưa đủ sở để yêu cầu Công ty R thanh toán số tiền
công nợ nêu trên.
Việc không hợp đồng đồng nghĩa với việc chưa hình thành quan h
nghĩa vụ ràng buộc theo luật định. Điều 142, 143 của Bộ luật Dân sự 2015 quy
định giao dịch dân sự do người không quyền đại diện xác lập do đó không
làm phát sinh quyền, nghĩa vụ cho pháp nhân.
Ngoài ra, Công ty S cũng không cung cấp chứng cứ khác như biên bản
giao nhận hàng giữa các bên, phiếu xuất nhập kho, chứng tkhác chứng minh
7
rằng giao dịch thực sự đã diễn ra để đối chứng với từng hóa đơn giá trị gia tăng,
số lượng hàng hóa, chất lượng đơn giá cũng không ràng chi tiết. Nguyên đơn
lập luận rằng toàn bộ hóa đơn giá trị gia tăng đã được bị đơn sử dụng để khấu
trừ thuế. Việc khấu trừ thuế bị đơn không sử dụng để khấu trừ các hóa đơn này.
Điều đó cho thấy, lời trình bày của nguyên đơn chỉ là suy đoán, không có chứng
cứ xác thực. thế, Công ty R phản bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty
S do không tồn tại hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai công ty, việc giao
nhận hàng hóa không chứng từ hợp lệ không xác định được người nhận,
Công ty R chưa từng ký Hợp đồng nguyên tắc nào với Công ty S.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị D2 trình bày: Thời
gian D2 làm việc tại Công ty R từ năm 2022 đến năm 2024. Trong thời gian
D2 làm việc tại Công ty R nhận được lệnh phân bổ, điều phối công việc t
ông W (chồng Nguyễn Thúy M Người đại diện theo pháp luật của Công ty
R) để mỗi khi nhận được đơn hàng từ phía khách hàng của công ty thì sgửi
đơn mua hàng cho nhà cung cấp Công ty S để điều phối hàng về công ty
giao cho khách hàng. Hình thức gửi đơn đặt hàng cho Công ty S thông qua
zalo cá nhân.
Căn cứ theo phiếu xuất hàng ngày 04/01/2023, 13/02/2025 người nhận
hàng D4 (nhân viên công ty) ứng với số phiếu xuất hàng số 5286 + 5374 +
5373, hóa đơn giá trị gia tăng số 035 ngày 28/02/2023.
Phiếu xuất hàng số 5537 ngày 23/3/2023, người nhận hàng D4 (nhân viên
công ty), phiếu xuất hàng 5558 ngày 27/3/2023, người nhận hàng P (nhân viên
công ty) tương ứng với hóa đơn giá trị gia tăng số 110 ngày 04/4/2023.
Phiếu xuất hàng số 5667 ngày 21/4/2023 người nhận hàng D3 (nhân viên
công ty), phiếu xuất hàng số 5668 ngày 21/4/2023 người nhận hàng D3 (nhân
viên công ty), phiếu xuất hàng số 5640 ngày 14/4/2023 người nhận hàng D3
(nhân viên công ty), phiếu xuất hàng 5538 ngày 23/3/2023 người nhận hàng D4
(nhân viên công ty), phiếu xuất hàng số 5572 ngày 29/3/2023 người nhận hàng
D4 (nhân viên công ty) tương ứng hóa đơn giá trị gia tăng số 0143 ngày
27/4/2023.
Phiếu xuất hàng số 5783 ngày 24/5/2023, người nhận hàng D4 (nhân viên
công ty), phiếu xuất hàng 5757 ngày 18/5/2023 người nhận hàng D3 (nhân viên
công ty), phiếu xuất hàng số 5686 ngày 26/4/2023 người nhận hàng D4 (nhân
viên công ty) tương ứng hóa đơn số 0177 ngày 26/5/2023.
Phiếu xuất hàng số 5900 ngày 23/6/2023 người nhận hàng Dụng (nhân
viên ng ty), phiếu xuất hàng số 5791 ngày 26/5/2023 người nhận hàng D4
(nhân viên công ty), phiếu xuất hàng số 5785 ngày 25/5/2023 người nhận hàng
D4 (nhân viên công ty) tương ứng hóa đơn số 0220 ngày 26/6/2023.
Phiếu xuất hàng số 6047 ngày 25/7/2023 người nhận hàng D (nhân viên
công ty), phiếu xuất hàng số 5971 ngày 11/7/2023 người nhận hàng D4 (nhân
viên công ty), phiếu xuất hàng số 5973 ngày 11/7/2023 người nhận D4 (nhân
viên công ty), phiếu xuất hàng số 5974 ngày 11/7/2023 người nhận hàng D4
8
(nhân viên công ty), phiếu xuất hàng số 5975 ngày 11/7/2025 người nhận hàng
D4 (nhân viên công ty) tương ứng hai hóa đơn giá trị gia tăng số 0270 + 0271
ngày 28/7/2023.
Phiếu xuất hàng số 6273 ngày 20/9/2023 người nhận hàng D4 (nhân viên
công ty), phiếu xuất hàng số 6150 ngày 22/8/2023 người nhận hàng P (nhân viên
công ty), phiếu xuất hàng số 6108 ngày 11/8/2023 người nhận hàng D2 (nhân
viên công ty), phiếu xuất hàng số 6151 ngày 22/8/2023 người nhận hàng P (nhân
viên công ty), phiếu xuất hàng số 6060 ngày 31/7/2023 người nhận hàng D2
(nhân viên công ty), phiếu xuất hàng số 6059 ngày 31/7/2023 người nhận hàng
D2 (nhân viên công ty) tương ứng các hóa đơn giá trị gia tăng số 0318 ngày
25/8/2023, 0334 ngày 29/8/2025, 0339 ngày 30/8/2023, 0378 ngày 22/9/2023.
Phiếu xuất hàng số 6353 ngày 09/10/2023 người nhận Dụng (nhân viên
công ty), phiếu xuất hàng số 6430 ngày 25/10/2023 người nhận hàng F (chị dâu
ông W) tương ứng hóa đơn số 0446 + 0447 ngày 30/10/2023.
Phiếu xuất hàng 6462 ngày 01/11/2023 người nhận hàng P (nhân viên
công ty), phiếu xuất hàng 6556 ngày 09/11/2023, phiếu xuất hàng ngày số 6596
ngày 17/11/2023 người nhận hàng F (chị dâu ông W) tương ứng hóa đơn số
0513 + 0515 ngày 28/11/2023.
Phiếu xuất hàng số 6742 ngày 21/12/2023 người nhận hàng người nhận
hàng F (chị dâu ông W), phiếu xuất hàng số 6673 ngày 07/12/2023 người nhận
hàng P (nhân viên công ty) tương ứng hóa đơn giá trị gia tăng số 0560 + 0561
ngày 25/12/2023.
Phiếu xuất hàng số 6782 ngày 03/01/2024 người nhận hàng F (chị dâu ông
W) tương ứng hóa đơn số 039 ngày 30/01/2024.
Phiếu xuất hàng số 01-02 ngày 27/01/2024 người nhận hàng P (nhân viên
công ty), phiếu xuất hàng số 01-01 ngày 27/01/2024 người nhận hàng P (nhân
viên công ty), phiếu xuất hàng số 12-03 ngày 26/12/2023 người nhận hàng F
(chị dâu ông W), phiếu xuất hàng số 12-04 ngày 26/12/2023 người nhận hàng F
(chị dâu ông W), phiếu xuất hàng số 12-05 ngày 26/12/2023 người nhận hàng F
(chị dâu ông W) tương ứng hóa đơn số 041 ngày 30/01/2024.
Phiếu xuất hàng số 02-01 ngày 21/02/2024 người nhận hàng Lâm tương
ứng hóa đơn số 065 ngày 26/02/2024.
Phiếu xuất hàng s04-01 ngày 12/4/2024 người nhận hàng P (nhân viên
công ty), phiếu xuất hàng s03-01 ngày 29/3/2024 người nhận hàng P (nhân
viên công ty) tương ứng hóa đơn số 0209 ngày 26/4/2024.
Riêng đối với hai hóa đơn dưới đây thì D2 không trực tiếp phụ trách là:
Phiếu xuất hàng số 05-03 ngày 30/5/2024 người nhận hàng P (nhân viên công
ty), phiếu xuất hàng số 05-01 ngày 10/5/2024 tương ứng hóa đơn số 280 ngày
31/5/2024; Phiếu xuất hàng số 06-02 ngày 07/6/2024 người nhận hàng P, phiếu
xuất hàng 06-01 ngày 07/6/2024 tương ứng hóa đơn số 0320 ngày 26/6/2024.
D2 xác nhận giao dịch giao nhận hàng hóa đối với những chứng từ trên
9
được Công ty R xuất bán cho Công ty T4. Đối với việc Công ty S khởi kiện
Công ty R thì D2 không có ý kiến gì.
Ti phn tòa đại diện theo ủy quyn của nguyên đơn rút yêu cầu buộc bị đơn
thanh toán tiền i sut 18.083.264 đồng, giữ nguyên yêu cầu buộc bị đơn thanh
toán tiền gốc số tiền 723.330.591 đồng. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn
không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tại Bản án thẩm số 01/2026/KDTM-ST ngày 05/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 15 Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH S
- đối với bị đơn Công ty TNHH Sản xuất Thương mại R - về việc Tranh chấp
hợp đồng mua bán hàng hóa”.
2. Công ty TNHH sản xuất thương mại R trách nhiệm thanh toán cho
Công ty TNHH S số tiền 723.330.591 đồng (bảy trăm hai mươi ba triệu ba trăm
ba mươi nghìn năm trăm chín mươi mt đồng).
Kể từ ngày 06 tháng 01 năm 2026 cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty TNHH S
đối với bị đơn Công ty TNHH sản xuất thương mại R - đối với yêu cầu thanh
toán số tiền lãi chậm trả 18.083.264 đồng (mười tám triệu không trăm tám
mươi ba nghìn hai trăm sáu mươi bốn đồng).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, quyền nghĩa vụ thi hành
án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Theo đơn kháng cáo nộp ngày 12/01/2026 của bị đơn Công ty TNHH Sản
xuất Thương mại R kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án
thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Yêu
cầu khởi kiện của Công ty S có căn cứ. Hàng hóa mà Công ty R mua từ Công
ty S loại hàng hóa đặc thù, đặc điểm riêng biệt không trùng với hàng
hóa Công ty R mua từ các đối tác khác. Sau khi mua hàng từ Công ty S,
Công ty R đã bán lại cho bên thứ ba để hưởng lợi nhuận, trong đó Công ty
TNHH Thiết Bị Y Tế A Công ty TNHH Đồ dùng Du lịch T4. Các công ty
này đã nhận hàng và thanh toán đầy đủ tiền hàng cho Công ty R. Tài liệu do
nguyên đơn cung cấp thể hiện hàng hóa nguồn gốc từ Công ty S đã được
Công ty R bán lại cho các khách hàng nêu trên và đã được thanh toán đầy đủ vào
tài khoản ngân hàng của Công ty R, với tỷ suất lợi nhuận khoảng 15%.
Trong qtrình giao dịch, Công ty S đã xuất 24 hóa đơn giá trị gia tăng
cho Công ty R. Trong số đó, Công ty R đã thanh toán đầy đủ giá trị của 05 hóa
đơn được phát hành trong khoảng thời gian từ ngày 28/02/2023 đến ngày
10
26/6/2023 đã thanh toán một phần đối với hóa đơn ngày 26/6/2023. Toàn bộ
hoạt động nhận tiền và thanh toán giữa các bên đều được thực hiện thông qua tài
khoản ngân hàng của Công ty R. Bà Nguyễn Thúy M người quản lý tài khoản
ngân hàng của Công ty R, đồng thời người các chứng từ chuyển khoản
thanh toán tiền hàng liên quan đến các lô hàng mà Công ty S đã giao cho bị đơn.
Đối với đnghị triệu tập thêm người quyền lợi, nghĩa vliên quan,
Luật của nguyên đơn cho rằng bị đơn không yêu cầu phản tố đối với D2
hoặc ông W (chồng bà Nguyễn Thúy M) về việc thực hiện giao dịch vượt q
phạm vi y quyền. Mặt khác, yêu cầu triệu tập bổ sung người tham gia tố tụng
không được đặt ra trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm. Do đó, để bảo
đảm nguyên tắc xét xử hai cấp, đề nghị Hội đồng xét xchỉ xem xét quan hệ
tranh chấp mua bán hàng hóa giữa Công ty S Công ty R trong phạm vi vụ án
này. Các tranh chấp nội bộ liên quan đến việc quản lý, điều hành hoặc quan hệ
thành viên của Công ty R (nếu có) thể được giải quyết bằng một vụ án khác
theo quy định của pháp luật.
* Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày: Đối với việc giao dịch
mua bán giữa nguyên đơn bị đơn M người đại diện theo pháp luật của
bị đơn nhưng không biết và không quản lý được, mọi hoạt động đặt hàng của D2
đều không có sự đồng ý của M, còn ông W là chồng của M nhưng không
phải người quản của bị đơn nên việc giao dịch mua bán nếu đều không
phải hoạt động của công ty với cách nhân. Tại phiên họp công khai
chứng cứ tại Tòa án cấp thẩm nguyên đơn chưa cung cấp đủ tài liệu, chứng
cứ. Sau đó nguyên đơn mới nhiều lần cung cấp chứng cứ nhưng bị đơn không
được tiếp cận. Người đại diện theo pháp luật của bị đơn chỉ đồng ý trả tiền với
điều kiện phải rõ ràng các mi quan hệ liên quan đến tranh chấp nhưng M
không quản các giao dịch mua bán này nên không chịu trách nhiệm với việc
nhân viên của mình đã thực hiện. Do đó, bị đơn không đồng ý với bản án
thẩm, đề nghị sửa bản án thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Phạm Thị D2
trình bày: D2 không làm việc cho ai khác ngoài Công ty TNHH Sản xuất
Thương mại R do Nguyễn Thúy M chủ sở hữu, nhân viên chính thức
được đóng bảo hiểm hội đến hết tháng 5/2024, là nhân viên của Công ty, phụ
trách khâu mua bán thương mại của cả công ty, làm việc theo sự chỉ đạo của cả
ông bà chủ công ty ông W Nguyễn Thúy M chứ không phải người
làm việc cho chỉ riêng ông W. Ông W bà M vợ chồng hợp pháp, tuy hiện
nay có trục trặc nhưng vẫn chưa ly hôn.
Yêu cầu khởi kiện của Công ty S đúng vì các hàng hóa mua từ Công ty
S hàng hóa đặc trưng không giống bất kỳ hàng hóa được mua từ các công ty
đối tác khác của Công ty R. Toàn bộ hàng hóa mua từ Công ty S được Công ty
R bán thương mại sang công ty thứ ba với gcao hơn để kiếm lợi nhuận
Công ty TNHH Thiết Bị Y Tế A Công ty TNHH Đồ dùng Du lịch T4. Các
công ty này đã mua hàng hóa và trả tiền hàng đầy đủ cho Công ty R. Bà Nguyễn
11
Thúy M người quản tài khoản ngân hàng của Công ty R. Các công ty đối
tác không giao dịch tiền mặt. D2 hoàn toàn không có khả năng nhận được bất kỳ
lợi ích nào từ việc bán hàng hóa này.
Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Foam Đông Sơn công ty D2
làm việc sau khi nghỉ việc khỏi Công ty R vài tháng sau đó. Công ty này không
hàng hóa giống như hàng hóa của Công ty R của cả Công ty S. Do vậy,
việc D2 làm việc cho Công ty Foam Đông Sơn không có liên quan gì đến vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham dự phiên
tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng
người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật T tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy từ năm 2023 đến năm 2024, Công ty
S và Công ty R quan hệ mua bán nhựa cứng các loại. Nguyên đơn cho rằng
đã giao hàng đầy đủ xuất hóa đơn GTGT tương ứng với từng lần giao dịch
nhưng bị đơn còn nợ số tiền 723.330.591 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn rút yêu cầu về tiền lãi chậm trả chỉ yêu cầu thanh toán khoản nợ
gốc nêu trên. Bị đơn thừa nhận giao dịch mua bán với nguyên đơn nhưng
không đồng ý thanh toán do cho rằng các giao dịch chỉ được thực hiện qua Zalo,
không hợp đồng bằng văn bản hiện không còn lưu giữ hồ sơ, chứng từ để
đối chiếu. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng, bị đơn nhiều lần xác nhận giữa hai
bên quan hệ mua bán hàng hóa đã từng thanh toán cho nguyên đơn hơn
300.000.000 đồng. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị D2
cũng xác nhận việc đặt hàng, nhận hàng giao dịch với nguyên đơn được thực
hiện thông qua Zalo; nhng người nhận hàng đều nhân viên của Công ty
R. Căn cứ các hóa đơn GTGT được lập trong các năm 2023 2024, cùng lời
khai của D2, các phiếu xuất hàng việc bị đơn không khiếu nại về chất
lượng, số lượng hàng hóa hoặc việc giao nhận hàng, đủ sở xác định Công
ty S đã giao hàng cho Công ty R với tổng giá trị còn nợ 723.330.591 đồng.
Việc bị đơn không chủ động đối chiếu công nợ không cung cấp được chứng
cứ bác bỏ các tài liệu do nguyên đơn xuất trình cho thấy không có căn cứ để phủ
nhận nghĩa vụ thanh toán.
Tòa án cấp thẩm nhận định quan hệ giữa các bên quan hệ mua bán
hàng hóa được xác lập hợp pháp theo Điều 24 Luật Thương mại năm 2005,
không có hợp đồng bằng văn bản. Công ty R đã đặt hàng, nhận hàng nhưng chưa
thanh toán đầy đủ tiền hàng, vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 50 Luật
Thương mại năm 2005. Do đó, yêu cầu của Công ty S buộc Công ty R thanh
toán số tiền 723.330.591 đồng căn cứ được chấp nhận. Do đó, yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền nêu trên là có sở
được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ hợp lệ trong hồ ván. Ngược
lại, bị đơn đơn kháng cáo nhưng trong quá trình giải quyết vụ án từ cấp
thẩm đến cấp phúc thẩm không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng
minh cho lập luận của mình, nên không sở chấp nhận kháng cáo, đề nghị
12
Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên
bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 15.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hvụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của các đương sự, Luật , ý kiến phát
biểu của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn theo quy
định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện
để thụ lý và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguyên đơn và bị đơn thừa nhn hai bên có giao dịch mua bán hàng
hóa sản phẩm nhựa cứng vào trong khoảng thời gian t năm 2023 đến năm
2024. Nguyên đơn cho rằng từ tháng 02 năm 2023, bị đơn gửi đơn đặt hàng
qua Zalo (file Excel) cho nguyên đơn, nguyên đơn đã lập đơn hàng và giao hàng
cho bị đơn, nhân viên Công ty bị đơn trực tiếp nhận trên phiếu xuất hàng
gửi phiếu xuất hàng này lại cho bên nguyên đơn. Sau đó, nguyên đơn xuất
hóa đơn giá trị gia tăng tương ứng từng đơn hàng và gửi email file PDF hóa đơn
điện tử cho bị đơn, vài tháng bị đơn sthanh toán tiền hàng một lần dựa theo số
hóa đơn gtrị gia tăng mà nguyên đơn đã xuất cho bị đơn. Từ tháng 02/2023
đến tháng 6/2024, hai bên đã thực hiện 24 giao dịch mua bán hàng hóa với tổng
giá trị hàng hóa của năm 2023 là 993.728.454 đồng (18 giao dịch), đã thanh toán
351.611.276 đồng, còn nợ 642.117.178 đồng chưa thanh toán. Năm 2024, đã
thực hiện 06 giao dịch với tổng giá trị tiền hàng 118.682.911 đồng, đã thanh
toán 37.447.498 đồng, còn nợ 81.235.413 đồng. Tổng cộng, tiền hàng năm 2023
năm 2024 bị đơn chưa thanh toán là 723.352.591 đồng. Chứng cứ nguyên
đơn cung cấp bản sao hợp đồng nguyên tắc, báo giá, hóa đơn giá trị gia tăng,
đối chiếu xuất hàng, bảng chi tiết. Đại diện hợp pháp của bị đơn không thừa
nhận các giao dịch như nguyên đơn trình bày không đồng ý thanh toán các
hóa đơn hàng hóa theo yêu cầu của nguyên đơn. Xem xét đơn yêu cầu ngày
17/10/2025 (bút lục 363), đại diện bị đơn đề nghị đưa Phạm Thị D2 tham gia
tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo bản tự khai của
D2 (bút lục 367-369), D2 xác định là nhân viên Công ty bị đơn, làm việc từ năm
2023 đến năm 2024. Mỗi khi D2 nhận được đơn hàng từ khách hàng của Công
ty bị đơn thì sẽ gửi đơn mua hàng cho nhà cung cấp Công ty nguyên đơn để
điều phối hàng về Công ty bđơn giao cho khách hàng. Hình thức gửi đơn
đặt hàng qua ứng dZalo bằng tài khoản nhân căn cứ phiếu xuất hàng
của từng đợt giao hàng, nhân viên Công ty bđơn nhận hàng. Đối chiếu lời
trình bày của nguyên đơn, bị đơn với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan D2,
sở xác định nguyên đơn bị đơn giao dịch giao nhận hàng hóa trên
thực tế. Căn cứ các phiếu xuất hàng hóa đơn giá trị gia tăng do nguyên đơn
xuất cho bị đơn theo từng thời điểm giao nhận hàng từ tháng 02/2023 đến tháng
6/2024, xác định được nguyên đơn bị đơn phát sinh 24 giao dịch mua bán
13
hàng hóa và bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn tổng cộng 389.058.774 đồng
(bút lục 506-523), số tiền còn lại 723.352.591 đồng, bị đơn chưa thanh toán.
[2.2] Tại cấp sơ thẩm, đại diện bị đơn rằng do nhân viên công ty nghỉ việc
chứng từ thất lạc nên chưa đối chiếu công nợ được. Quá trình tố tụng tại cấp
thẩm bị đơn không cung cấp được cho Tòa án cấp thẩm các chứng từ
thanh toán cho các hóa đơn giá trị gia tăng còn lại. Do đó, Tòa án cấp thẩm
không chấp nhận lời trình bày của bị đơn, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 723.352.591 đồng.
[2.3] Bị đơn kháng cáo cho rằng Tòa án cấp thẩm không tổ chức phiên
họp tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải đầy đủ đ các bên làm các
chứng cứ, vi phạm nghiêm trọng trong việc xét xử quan hệ giao dịch giữa hai
bên. Chưa thực hiện định giá, thẩm định mặt hàng nhựa cứng trong tranh chấp
hay tiến hành đối chất đầy đủ giữa các bên. Chưa làm rõ vai trò của các nhân
người Trung Quốc đứng sau điều hành, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích
hợp pháp của bị đơn. Giữa nguyên đơn bị đơn không hợp đồng, hóa đơn
giá trị gia tăng, phiếu xuất kho, bảng hàng hóa, không có chữ của người
đại diện hợp pháp của bị đơn, không đơn đặt hàng, không biên bản giao
nhận hợp lệ nên đề nghị tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn, thấy rằng:
[3.1] Theo nội dung Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ ngày 24/3/2025 (bút lục 423-424), vào lúc 14 giờ 00 phút ngày
24/3/2025, Tòa án cấp thẩm đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ đối với vụ án kinh doanh, thương mại sơ thẩm thụ
số 19/2025/TLST-KDTM ngày 11/02/2025 giữa nguyên đơn Công ty S
bị đơn Công ty R. Tham gia phiên họp ông D5 người đại diện của
nguyên đơn và ông X là người đại diện của bị đơn. Biên bản thể hiện Thẩm phán
đã công bố các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, bao gồm các tài liệu,
chứng cứ do nguyên đơn bị đơn cung cấp; tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập
được. Tài liệu nguyên đơn cung cấp gồm: Công văn số 08 ngày 13/8/2024, Công
văn số 11 ngày 10/9/2024, hình ảnh tin nhắn qua Zalo, biên bản xác nhn công
nợ, thư xác nhận, hợp đồng nguyên tắc, bảng kê, bảng báo giá, giấy chứng nhn
đăng ký kinh doanh Công ty R, hóa đơn giá trị gia tăng, căn cước công dân, giấy
ủy quyền, bản tkhai, bảng chi tiết, đối chiếu xuất hàng tháng 6, tháng 7,
tháng 8, tháng 9, tháng 10, tháng 11, tháng 12 năm 2023 tháng 01, tháng 02,
tháng 4, tháng 6 năm 2024. Tài liệu bị đơn cung cấp gồm: Bản tự khai.
[3.2] Tại phiên họp, ông X không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ; không
yêu cầu nguyên đơn cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ; không yêu cầu Tòa án
triệu tập người làm chứng; đồng thời cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm
tài liệu, chứng cứ nào khác. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn
thừa nhận giữa hai bên quan hệ mua bán hàng hóa trong khoảng thời gian từ
năm 2023 đến năm 2024 và việc giao dịch không được lập thành hợp đồng bằng
văn bản. Tuy nhiên, do các bên chưa tiến hành đối chiếu, xác nhận công nợ nên
14
bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy,
căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện việc kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật; đồng thời bảo
đảm quyền tiếp cận chứng cứ quyền trình bày ý kiến của bị đơn trong quá
trình giải quyết vụ án.
[3.3] Đồng thời tại Biên bản hòa giải ngày 24/3/2025 (bút lục 425-426) có
nội dung thể hiện bị đơn thống nhất với nguyên đơn việc hai bên làm ăn với
nhau không lập hợp đồng mua bán trong khoảng thời gian từ năm 2023 đến năm
2024, tuy nhiên giữa hai bên chưa thực hiện đối chiếu công nợ được nên bị đơn
không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày 11/3/2025, bị
đơn đơn yêu cầu sao chụp, photo tài liệu, chứng cứ (bút lục 351) liên quan
đến nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Như vậy, bị đơn cho
rằng Tòa án cấp thẩm không tiến hành công khai chứng cứ hòa giải
không có cơ sở chấp nhận.
[3.4] Ngoài ra, bị đơn cho rằng chưa thực hiện đánh giá mặt hàng nhựa
cứng trong tranh chấp hoặc đối chiếu đầy đủ giữa các bên, chưa làm vai trò
của các cá nhân người Trung Quốc làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Xét
thấy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp hợp đồng mua bán yêu cầu
thực hiện thanh toán nợ tiền hàng hóa. Các bên không tranh chấp vsố lượng,
chất lượng hàng hóa, yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đồng thời, tại thời điểm tranh
chấp không có hàng hóa nên việc thực hiện định giá hàng hóa trong vụ án này là
không cần thiết, cấp thẩm không định giá hàng hóa phù hợp. Theo trình
bày của nguyên đơn tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông W là chồng hợp pháp của
M đăng kết hôn. Bị đơn cũng thừa nhận người này, theo lời khai của
D2, là nhân viên của công ty tại thời điểm đó. Ngoài ra, còn thừa nhận cóF là
chị dâu của ông W, lúc đó tham gia nhận hàng. Lời thừa nhận của bị đơn về
việc những người này nhân viên Công ty R, tuy nhiên lại không đồng ý việc
nhận hàng vì cho rằng không thông qua ý kiến của bà M là không phù hợp.
[3.5] Xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng thông qua các
phiếu xuất hàng nhân viên của Công ty R đã nhận hàng do nguyên đơn giao. Đối
chiếu các phiếu xuất hàng và hóa đơn giá trị gia tăng xác định: nguyên đơn và bị
đơn đơn 24 giao dịch mua bán hàng hóa. Bị đơn đã thanh toán được các hóa
đơn số 035 ngày 28/02/2023 cho các Phiếu xuất hàng số 5286, 5373, 5374 ngày
xuất hàng 04/01/2023 ngày 13/02/2023 với số tiền 25.361.455 đồng (bút lục
237, 238, 514, 515). Hóa đơn số 110, 143, 177, 179 một phần hóa đơn số
220, 041. Các hóa đơn còn lại chưa thanh toán gồm: Hóa đơn số 220 chưa thanh
toán 51.234.600 đồng; các hóa đơn số 270, 271, 318, 334, 339, 378, 446, 447,
513, 515, 39, 65, 209, 280, 320 đến nay chưa thanh toán. Tòa án cấp thẩm
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán tiền nợ
có cơ sở.
[3.6] Bị đơn cho rằng chưa đối chiếu công nợ, tuy nhiên vào ngày
13/3/2024 ngày 10/9/2024, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nhưng
bị đơn không hợp tác do đó Tòa án xét xử tuyên buộc bị đơn thanh toán nợ cho
15
nguyên đơn là phù hợp. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ
mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không
sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
[3.7] Đối với ý kiến của bị đơn cho rằng việc đặt hàng và nhận hàng được
thực hiện bởi các nhân viên của công ty nhưng không theo sự chỉ đạo hoặc chấp
thuận của M, Hội đồng xét xử thấy rằng đây vấn đthuộc phạm vi quản
lý, điều hành nội bộ của Công ty R. Trường hợp bị đơn cho rằng quyền lợi
ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi hành vi của những người liên quan
thì bị đơn quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác theo quy
định của pháp luật.
[4] Từ những phân tích trên, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Lời trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn là có cơ sở.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[7] Án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu
theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Sản
xuất Thương mại R.
Giữ nguyên Bản án kinh doanh, thương mại thẩm số 01/2026/KDTM-
ST ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 Thành phố Hồ Chí
Minh.
2. Án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Bị đơn Công ty TNHH Sản
xuất Thương mại R phải chịu 2.000.000 (hai triệu) đồng được khấu trừ vào số
tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án
số 0003323 ngày 12/01/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
16
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 15 Thành phố
Hồ Chí Minh;
- Tòa án nhân dân khu vực 15 Thành phố
Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Ngọc Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 215/2026/KDTM-PT Bản án số 215/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 215/2026/KDTM-PT Bản án số 215/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất