Bản án số 217/2026/KDTM-PT ngày 02/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về thế chấp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 217/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 217/2026/KDTM-PT ngày 02/06/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về thế chấp
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 217/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/06/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 217/2026/KDTM-PT Bản án số 217/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 217/2026/KDTM-PT Bản án số 217/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 217/2026/KDTM-PT
Ngày: 02-6-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng hợp
tác đầu tư
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai.
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng;
Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền.
- Tphiên tòa: Phạm Thị Mỹ Dung Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nhân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 5 và 02 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ sở B) xét xphúc thẩm công khai vụ án kinh
doanh, thương mại thụ số 121/2026/TLPT-KDTM ngày 30/3/2026 về việc
“Tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư”.
Do Bản án kinh doanh, thương mại thẩm 04/2026/KDTM-ST ngày
15/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2776/2026/QĐ-PT ngày
28/4/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Đ1; số doanh nghiệp:
0316844472; địa chỉ: A, Khu dân N, đường H, phường T, Quận A, Thành
phố Hồ Chí Minh (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn N chức vụ: Giám đốc, người đại diện theo pháp
luật, có mặt;
- Ông Hoàng Văn H, sinh năm: 1984; địa chỉ: tổ A, phường N, thành phố
Hà Nội, là người đại diện theo ủy quyền, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Minh
H1 là Luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
2
- Bị đơn: Công ty TNHH Đ2; Mã số doanh nghiệp: 1101957982; địa chỉ:
số H, đường C, khu phố N, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An (nay
phường L, tỉnh Tây Ninh).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phan Thanh G, chức vụ: Giám
đốc, là người đại diện theo pháp luật, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Minh T,
Luật Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật tỉnh L (nay tỉnh Tây Ninh),
mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH K2; địa chỉ: Số A, V, đường số A, Khu công nghiệp V
- S, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường V, Thành phố Hồ
Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH K2: Ông Huang Xue Z,
chức vụ: Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, yêu cầu giải quyết
vắng mặt.
2. Tổng Công ty Điện lực Thành phố H; địa chỉ: C T, Phường B, Quận A,
Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường S, Thành phố Hồ Chí Minh), yêu
cầu giải quyết vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Điện lực Thành phố H: Ông
Trần Minh T1, sinh năm 1982; địa chỉ: Số B, đường C, phường T, Thành phố
Hồ Chí Minh, là người đại diện theo uỷ quyền, có yêu cầu giải quyết vắng mặt;
3. Ngân hàng TMCP Q (MB); địa chỉ: Số A L, Phường T, quận C, thành
phố Hà Nội (Nay là phường Y, thành phố Hà Nội).
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP Q (MB): Ông Lưu Minh
L, bà Đặng Thị K, ông Nguyễn Minh T2 và ông Nguyễn Tuấn K1; cùng địa chỉ:
số C, N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo uỷ quyền,
có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
4. Công ty Cổ phần C; địa chỉ: A, Khu dân N, đường H, phường T,
Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần C: Ông Nguyễn Văn V,
chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị, là người đại diện theo pháp luật, có mặt.
5. Ông Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1971; địa chỉ: P-C2 - TT K, phường
K, Thành phố Hà Nội, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
6. Phạm Thị Thu M, sinh năm 1991; địa chỉ: O, 1 Hồ N, Phường I,
quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh),
có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Công ty TNHH MTV Đ3 bị đơn Công
ty TNHH Đ4
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà Người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn trình bày:
Vào đầu tháng 8 năm 2020, ông Nguyễn Văn N (người đại diện theo pháp
luật của Công ty TNHH MTV Đ1 hiện nay, gọi tắt là Công ty Đ1) ông Phan
Thanh G (người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Đ2 hiện nay, gọi tắt
Công ty Đ2) đã có buổi họp tại văn phòng của Công ty TNHH C (nay là Công
ty Cổ phần C), tại địa chỉ: A Khu dân cư N, Đường H, phường T, Quận A, thành
phố Hồ Chí Minh. Nội dung cuộc họp để bàn bạc, thoả thuận thống nhất về
việc hai bên cùng hợp tác đầu tư Dự án xây dựng 02 MWp điện mặt trời mái nhà
tại Khu công nghiệp V - S, phường V, thị T tỉnh Bình Dương. Buổi họp còn
sự tham dự của ông Nguyễn Văn V, người đại diện theo pháp luật của
Công ty TNHH C (nay là Công ty Cổ phần C), đơn vị thầu thi công xây dựng 02
MWp điện mặt trời mái nnói trên. Tại cuộc họp này, ông Nguyễn Văn N
ông Phan Thanh G thỏa thuận bằng miệng (không lập văn bản), sự chứng
kiến của ông Nguyễn Văn V hai bên đã đạt được các thỏa thuận, thống nhất
như sau:
- Dự án đầu tư: Ông Nguyễn Văn N và Phan Thanh G cùng hợp tác đầu tư
“Dự án xây dựng 02 MWP điện mặt trời mái nhà”, hiệu: PB04080028511
PB04080025494.
- Địa điểm đầu xây dựng: Thuê diện tích 11.000 m
2
trên mái nhà của
Công ty K2, số 12 VSIP II A, đường số A, Khu công nghiệp V - S, phường V,
thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Đơn vị thầu xây dựng: Hai bên thống nhất chọn Công ty TNHH C, gọi
tắt là VINAGI là đơn vị thầu thi công, xây dựng trọn gói hệ thống 02 MWp điện
mặt trời mái nhà nói trên.
- Vốn đầu tư: Mỗi 01 MWp điện mặt trời mái nhà đầu tư, xây dựng là:
10.000.000.000 đồng, tổng số tiền đầu tư, xây dựng 02 MWp điện mặt trời mái
nhà là: 20.000.000.000 đồng.
- Góp vốn đầu tư:
+ Ông Nguyễn Văn N sẽ ứng trước số tiền đầu tư ban đầu tương đương
68% tổng vốn đầu tư 02 MWp điện mặt trời mái nhà cho Nhà thầu chuyển
khoản trực tiếp cho nhà thầu Công ty TNHH C, còn Công ty TNHH C sẽ đối
ứng số tiền tương đương 32% trên tổng vốn đầu tư. Ông Phan Thanh G không
tiền đầu ban đầu, ông G kinh nghiệm trong ngành điện năng lượng,
tài sản đkhi cần dùng làm tài sản đảm bảo cho khoản vay sau khi dự án hoàn
thiện.
+ Hai bên thống nhất, sau khi dự án hoàn thiện, đấu nối vào lưới điện và
Hợp đồng mua bán điện với Tổng Công ty Đ5, thì sẽ thế chấp toàn bộ 02
MWp điện mặt trời mái nhà vay vốn ngân hàng số tiền 20.000.000.000 đồng
để hoàn phần vốn đầu ban đầu Ông N đã tạm ứng trước trả phần
tiền vốn đối ứng cho nthầu. Mỗi 01 MWp điện thế chấp vay ngân hàng số
4
tiền 10.000.000.000 đồng, ngốc và lãi vay ngân hàng của mỗi bên, được
thanh toán bằng doanh thu bán điện của 01 MWp điện mỗi bên sở hữu (sau
khi trừ đi chi phí thuê mái nhà và phí bảo trì).
- Phân chia tài sản lợi nhuận sau đầu tư: Sau khi dự án lắp đặt hoàn
thành được đấu nối vào lưới điện quốc gia, thì ông Nguyễn Văn N được sở
hữu 01 MWp điện mặt trời mái nhà, hiệu: PB04080028511 ông Phan
Thanh G được sở hữu 01 MWp điện mặt trời mái nhà, ký hiệu PB04080025494.
Hàng tháng, ông Phan Thanh G phải gửi báo cáo chi tiết cho ông Nguyễn Văn N
về doanh thu bán điện, chi phí bảo trì, chi phí trả gốc lãi vay ngân hàng của
01 MWp điện ký hiệu: PB04080028511 mà ông N sở hữu.
- Pháp của dự án: Hai bên thống nhất để ông Phan Thanh G đứng tên
thành lập một pháp nhân pháp nhân này sẽ đại diện đứng tên thỏa thuận
đấu nối với Điện Lực T để xây dựng 02 MWp điện mặt trời mái nhà, pháp nhân
này cũng sẽ đại diện Hợp đồng thuê diện tích trên mái nhà với Công ty
TNHH K2 Hợp đồng mua bán điện với Tổng Công ty Đ5, cũng như làm
thủ tục thế chấp 02 MWp điện mặt trời mái nhà vay tiền Ngân hàng để hoàn trả
lại số tiền ông Nguyễn Văn N đã ứng ra cho nhà thầu. Sau đó, ông Nguyễn
Văn N sẽ thành lập pháp nhân mới thuộc sở hữu của ông N, thì phía ông Phan
Thanh G stiến hành thủ tục tách riêng 01 MWp điện cho pháp nhân này đứng
tên sở hữu.
- Thực hiện thỏa thuận hợp tác đầu tư:
+ Ông Nguyễn Văn N đã chuyển khoản số tiền 13.690.900.200 đồng,
tương đương 68% vốn đầu tư của dự án 02 MWp điện vào số tài khoản
3791188666866 của Công ty TNHH C mở tại Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh
P, cụ thể: Ngày 18/11/2020 đến ngày 21/12/2020, ông Nguyễn Văn N trực tiếp
chuyển khoản tổng số tiền là: 6.790.000.000 đồng vào số tài khoản:
3791188666866 của Công ty TNHH C mở tại Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh
P; ngày 27/11/2020, ông Nguyễn Văn N nhờ Phạm Thị M chuyển số tiền là:
3.900.000.000 đồng vào số tài khoản: 3791188666866 của Công ty TNHH C mở
tại Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh P; Ngày 08/01/2021, ông Nguyễn Văn N
nhờ ông Nguyễn Hoàng Đ chuyển khoản giúp số tiền là 3.000.000.000 đồng vào
số tài khoản: 3791188666866 của Công ty TNHH C mở tại Ngân hàng TMCP Q
- Chi nhánh P.
+ Số tiền đầu tư còn lại tương đương 32% vốn đầu thì Công ty TNHH
C đã ứng ra để hoàn thiện Dự án xây dựng 02 MWp điện mặt trời mái nhà nói
trên.
+ Thực hiện thỏa thuận, ông Phan Thanh G đã tiến hành thành lập pháp
nhân Công ty Đ2 đã được sKế hoạch và Đầu cấp Giấy chứng nhận
đăng doanh nghiệp; số doanh nghiệp: 1101957982 do Sở Kế Hoạch
Đầu tư tỉnh L cấp ngày 11/8/2020. Ngày 12/11/2020, Công ty Đ2 đã ký kết Hợp
đồng thuê diện tích trên mái nhà số: 112020/INNOCRAFT/PĐ với Công ty K2
thuê 11.000m
2
phần diện tích mái nhà tại địa chỉ: Số A, VSIP II A, đường số
5
A, Khu công nghiệp V - S, phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương để thi công Dự
án xây dựng 02 MWp điện mặt trời mái nhà, giá thuê 40.000 đồng/m
2
/năm,
tiền thuê này đã bao gồm thuế GTGT, chưa bao gồm chi phí khác như điện,
nước, vệ sinh, bảo hiểm hàng hóa phát sinh trong quá trình sdụng mặt bằng,
thuế phát sinh từ tiền thuê theo quy định pháp luật; Thời gian thuê được tính từ
01/01/2021 đến ngày 01/01/2046 thời gian bàn giao diện tích mái vào ngày
15/11/2020.
+ Ngày 16/11/2020, Công ty Đ2 gửi Công văn đnghị đấu nối hồ
đề nghị đấu nối gửi Điện lực trung tâm. Trong tháng 11 năm 2020, Công ty Đ2
đã ký Thỏa thuận đấu nối số 64/11/2020/ĐLTT và Thỏa thuận đấu nối số
67/11/2020/ĐLTT với Điện lực trung tâm.
+ Công ty TNHH C đã hoàn thành việc xây dựng, lắp đặt hthống 02
MWp điện mặt trời mái nhà sau gần 02 tháng thi công. Tháng 12 năm 2020 Điện
Lực Trung Tâm đã 02 Biên Bản nghiệm thucùng ngày 29/12/2020, Công
ty Đ2 đã đại diện đứng tên kết Hợp đồng mua bán điện cho hệ thống điện
mặt trời mái nhà số: 1715793Hợp đồng mua bán điện cho hệ thống điện
mặt trời mái nhà số: 1715737với Tổng Công ty Đ5, theo đó Tổng Công ty Đ5
mua toàn bộ sản lượng điện được sản xuất từ hệ thống 02 MWp điện mặt trời
mái ntại địa chỉ: Số A, VSIP II - A, đường số A, Khu công nghiệp V - S,
phường V, thT, tỉnh Bình Dương. Giá mua bán điện quy định tại khoản 2
Điều 8 Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 06/04/2020 của Thủ tướng Chính
phủ được áp dụng 20 năm, thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ ngày
29/12/2020 đến hết ngày 29/12/2040.
- Thực hiện thế chấp hệ thống 02 MWp (Ký hiệu PB04080028511
PB04080025494) vay tiền ngân hàng hoàn vốn góp đầu tư ban đầu: Công ty
Đ2 đã đại diện đứng tên pháp thế chấp toàn bộ hệ thống 02 MWp điện mặt
trời mái nhà để vay Ngân hàng TMCP Q Chi nhánh B2 số tiền 20.000.000.000
đồng. Sau khi được Ngân hàng TMCP Q Chi nhánh B2 giải ngân, Công ty Đ2
đã giải ngân thanh toán tiền lắp đặt, xây dựng hệ thống 02 MWp điện mặt trời
mái nhà cho nhà thầu Công ty TNHH C với tổng số tiền 19.800.690.000
đồng Cụ thể:
+ Ngày 08/01/2021, Công ty Đ2 giải ngân vào tài khoản Công ty TNHH
C số tiền: 5.000.000.000 đồng.
+ Ngày 13/01/2021, Công ty Đ2 giải ngân vào tài khoản Công ty TNHH
C số tiền: 4.800.690.000 đồng.
+ Ngày 20/01/2021, Công ty Đ2 giải ngân vào tài khoản Công ty TNHH
C số tiền: 10.000.000.000 đồng.
Công ty TNHH C cũng đã chuyển hoàn phần vốn đầu mà ông
Nguyễn Văn N đã tạm ứng trước cho Nhà thầu số tiền là 13.690.900.200 đồng.
- Công ty Đ2 đã có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của
Công ty Đ1, cụ thể:
6
+ Theo thoả thuận giữa hai bên, trong thời gian Công ty Đ2 chưa làm th
tục pháp tách 01 MWp điện, ký hiệu: PB04080028511 cho ông Nguyễn Văn
N, thì hàng tháng ông Phan Thanh G phải gửi báo cáo chi tiết cho ông Nguyễn
Văn N vdoanh thu bán điện, chi phí bảo trì, chi phí trả gốc lãi vay ngân
hàng của 01 MWp điện hiệu: PB04080028511 ông N sở hữu. Khi ông
Nguyễn Văn N thành lập pháp nhân mới do ông N đứng tên, t Công ty Đ2
phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu 01 MWp điện hiệu:
PB04080028511 sang cho pháp nhân do ông Nguyễn Văn N làm đại diện.
+ Tuy nhiên, sau khi ông Nguyễn Văn N thành lập pháp nhân Công ty
Đ1, theo Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp, mã số doanh nghiệp:
0316844472 do Sở Kế Hoạch và Đầu tư thành phố H cấp ngày 07/05/2021 đã
yêu cầu Công ty Đ2 tiến hành thủ tục chuyển quyền sở hữu 01 MWp điện mặt
trời mái nhà, hiệu: PB0408002851 sang cho Công ty Đ1 đứng tên, nhưng
Công ty Đ2 đã không thực hiện, dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp.
+ Ngày 15/10/2021, Công ty Đ2 do ông Phan Thanh G làm đại diện
Công ty Đ1 do ông Nguyễn Văn N làm đại diện, đã buổi họp để giải quyết
những vướng mắc, tranh chấp và hai bên đã Biên B thoả thuận về việc
Chuyển giao quyền sở hữu dự án điện mặt trời mái nhà”, cuộc họp cũng sự
tham gia của đại diện nhà thầu là ông Nguyễn Văn V, Giám đốc Công ty TNHH
C. Sau khi thỏa thuận, hai bên đã thống nhất nội dung sau:
“Công ty Đăng Phan đồng ý chuyển giao dự án Công ty Đ1 đồng ý
nhận dự án Điện NLMTMN 996KWp Hợp đồng mua bán điện cho hệ thống điện
mặt trời mái nhà số Angày 29/12/2020 Tổng Công ty Đ5 Công ty Đ4 Địa
chỉ số: Số A VSIP II A, đường số A, Khu công nghiệp V - S, phường V, thị
T, tỉnh Bình Dương.”
Tuy nhiên, hiện tại Công ty Đ2 đang đứng tên pháp lý cả hai dự án:
- Vay Ngân hàng Q CN bắc S P với số tiền là 20 tỷ cho 2 dự án.
- hợp đồng thuê mái nhà xưởng 25 năm với Công ty K2, số 12 VSIP II
A, đường số A, Khu công nghiệp V - S, phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương cả
2 dự án.
Trách nhiệm của các bên:
A. Trách nhiệm Bên A:
1. Bàn giao dự án cho Bên B sau khi Biên bản thỏa thuận đã thống nhất.
2. Chuyển cho Bên B 90% tiền điện do Điện lực Trung Tâm chuyển cho
Bên A từ tháng 01/2021 đến tháng 3/2021 với số tiền: 296.895.786VND (Hai
trăm chín mươi sáu triệu, tám trăm chín mươi lăm nghìn, bảy trăm tám mươi
sáu đồng), theo hoá đơn bên A đã xuất (bản photo) đính kèm, bên A giữ lại 10%
VAT để thực hiện nghĩa vụ thuế với số tiền: 26,990.526VND (Hai mươi sáu
triệu, chín trăm chín mươi nghìn, năm trăm hai mươi sáu đồng).
3. Hỗ trợ bên B làm việc với các đối tác có liên quan để bàn giao dự án.
7
4. Xuất hoá đơn VAT cho bên B theo giá trị dự án bàn giao.
B. Trách nhiệm Bên B:
1. Là chủ thể tiếp nhận, quản lý, khai thác và có quyền và trách nhiệm với
các đối tác có liên quan.
2. Thanh toán cho Bên C các chi phí khác (nếu có) để thực hiện dự án
3. Hoàn trả lại cho bên A các khoản tiền:
b. Chi phí ngoại giao: 140.700.000VND (Một trăm bốn mươi triệu, bảy
trăm nghìn đồng) do bên A đã chi để thực hiện dự án.
d. 100.000.000VND (Một trăm triệu đồng) là công sức của bên A đã bỏ ra
khi thực hiện và quản lý dự án đến ngày chuyển giao.
e. Trả tiền lãi vay Ngân hàng Q (MB) từ tháng 02/2021 đến tháng 9/2021
với số tiền là: 1.611.361.059VND (Một tỷ, sáu trăm mười một triệu, ba trăm sáu
mươi mốt nghìn, không trăm m mươi chín đồng) - (trừ) tiền điện đã thu
267.206.207VND (chưa VAT) = 1.344.154.852VND (Một tỷ, ba trăm bốn mươi
bốn triệu, một trăm năm mươi bốn nghìn, tám trăm năm mươi hai đồng).
f. Tiền điện trạm biến áp xây dựng mới: 379,802VND (Ba trăm bảy mươi
chín nghìn, tắm trăm lẻ hai đồng).
Tổng các khoản tiền là: (140.700.000 + 100.000.000 + 1.344.154.852 +
379.802) - 1.585.234.654 (Một tỷ, năm trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm ba
mươi bốn nghìn, sáu trăm năm mươi bốn đồng). Khi bên A được thanh toán, bên
A khấu trừ đi số tiền đã nêu trên, số tiền dư còn lại bên A có trách nhiệm trả lại
cho bên B trong vòng 3 ngày làm việc.
Bên B tiếp nhận dự án chịu trách nhiệm khoản vay 10 tỷ đồng cho dự
án 1 MWp trạm biến áp mới xây dựng với Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh B2 -
P. Sau khi kết Biên bản Thoả thuận hợp đồng thay đổi chủ thể mua bán
điện và thuê mái nhà đồng ý ký chuyển nhượng dự án.
4. Bên B trách nhiệm thanh toán tiền thuê mái 5 năm
1.100.000.000VNĐ (Một tỷ một trăm triệu đồng) đến ngày 31/12/2025 (bên B đã
thanh toán trước 100.000.000VNĐ) Còn lại 1.000.000.000 VND (Một tđồng).
Sau khi bên A bên B chủ nhà máy I đồng ý chuyển nhượng cho Bên B
thuê lại.
C. Trách nhiệm Bên C:
a). Bàn giao toàn bộ dự án trên thực địa, hồ dự án cho Bên A Bên
B, trường hợp không bàn giao hoặc chậm bàn giao thì phải bồi thường thiệt hại,
giá trị thiệt hại được tính bằng số tiền lãi quá hạn do Ngân hàng quy định thời
điểm hiện hành”.
Sau đó, Công ty Đ2 đã không thực hiện đúng thỏa thuận tại Biên bản cuộc
họp ngày 15/10/2021.
8
- Ngày 14/04/2022, Công ty Đ2 Công ty Đ1 tiếp tục tiến hành cuộc
họp thứ 2 và hai bên đã ký “Biên Bản thoả thuận” đề ngày 14/04/2022, nội dung
biên bản này đã nêu lại các thỏa thuận hợp tác đầu trước đây và hai bên
chốt lại các điều khoản thỏa thuận mới, cụ thể như sau:
Điều 1. Xác nhận:
- Theo thỏa thuận ban đầu ông Phan Thanh G và ông Nguyễn Văn N cùng
nhau hợp tác để lắp đặt 02 MWp (2 mê) điện năng lượng mặt trời áp mái tại địa
chỉ Công ty K2, số 12 VSIP II-A - đường số A K, phường V, thị T, tỉnh Bình
Dương. Xây lắp đặt thông qua Công ty V1.
- Sau khi hoàn thành ông Phan Thanh G (bên A) sở hữu 01 MWp hiệu:
PB04080025494, ông Nguyễn Văn N (bên B) sở hữu 01 MWp hiệu:
PB04080028511. Đồng thời, mỗi MWp (mê) sẽ vay ngân hàng số tiền
10.000.000.000 đồng (mười tỷ đồng). Sau đó, tiền điện thu về hàng tháng sẽ
dùng để trả lãi và gốc vốn vay lũy kế của ngân hàng mỗi tháng.
- Trong quá trình xây lắp Bên A là người đại diện pháp nhân Công Ty Đ2
đại diện pháp nhân cả 2 MWp để làm các thủ tục thuê mái nhà, đấu điện vay
ngân hàng. Đồng thời, viết lại cho Bên B hợp đồng mua bán 01 MWp hiệu
PB04080028511. Sau đó, Bên B có thể bán hoặc tách riêng ra 01 MWp.
+ Công ty Đ2 chủ thể 02 Hợp đồng mua bán điện cho hệ thống điện
mặt trời mái nhà được ngày 29/12/2020 giữa Công ty Đ2 Tổng Công ty
Đ5 (đại diện là Điện lực Trung Tâm).
+ Số Hợp đồng 1715793, khách hàng: P304080025494 thuộc trạm
biến áp của Công ty K2. Số Hợp đồng 1715737, khách hàng:
1304080028511 thuộc trạm biến áp xây dựng mới.
+ Công ty Đăng Phan đứng pháp lý vay tiền của ngân hàng TMCP Q Chi
nhánh B2 - P là 20 tỷ đồng để đầu tư cho dự án 2 MWp Điện MTMN tại Số A V,
đường số A, K, phường V, thị T, tỉnh Bình Dương. Tức mỗi MWp vay
10.000.000.000 đồng (mười tỷ đồng)…
Điều 2. Cam kết của Bên A:
- Đồng ý, chuyển khoản 01 lần với số tiền 4.500.000.000 đồng (Bốn tỷ,
m trăm triệu đồng) cho Bên B sau 01 ngày khi Bên mua dự án chuyển tiền lần
cuối (chậm nhất 30/6/2022). Số tiền này là bán dự án 1 MWp Điện MTMN thuộc
trạm biến áp xây dựng mới tại Số A V, đường số A, K, phường V, thT, tỉnh
Bình Dương. Số tiền này đã trừ đi số vốn vay ngân hàng hiện tại, phạt trước
hạn, thuế cùng tất cả các chi phí phát sinh ngoài giá trị của dự án Bên A
Bên B đã chi trong thời gian qua.
- Trong trường hp hết thời hạn nói trên (30/06/2022) nếu bên A không
chuyển đủ số tiền 4.500.000.000 (bốn tỷ năm trăm triệu đồng) cho bên B thì bên
A phải làm thủ tục tách chuyển đổi pháp nhân từ Công ty Đ2 sang Công ty
Đ1 01 MWp trạm điện ký hiệu PB04080028511 cho tên B.
9
Điều 3. Cam kết của Bên B:
- Bàn giao cho Công ty Đ2 tất cả các hồ sơ, giấy tờ pháp lý của trạm biến
áp xây dựng mới ngay sau khi ký Biên bản thỏa thuận này.
- Đồng ý bán 01 MWp của bên B nhận số tiền 4.500.000.000 đồng
(Bốn tỷ, năm trăm triệu đồng) do Bên A chuyển. Số tiền này bán dự án 1
MWp Điện MTMN thuộc trạm biến áp xây dựng mới tại Số A V, đường số A, K,
phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Số tiền này đã trừ đi số vốn vay ngân hàng
hiện tại, phạt trước hạn, thuế cùng tất cả các chỉ phí phát sinh khác Bên A
và Bên B đã chỉ trong thời gian qua.
- Cam kết không khiếu nại, khiếu kiện Bên A bất kỳ do gì không còn
quyền hạn hay trách nhiệm đối với dự án 1 MWp Điện MTMN thuộc trạm
biến áp xây dựng mới tại Số A V, đường số A, K, phường V, thị T, tỉnh Bình
Dương sau khi hoàn thành các nghĩa vụ trong biên bản thỏa thuận này.
Điều 4. Điều khoản chung:
4.1. Bản thoả thuận này có hiệu lực từ ngày ký.
4.2. Nếu hai bên không đạt được thỏa thuận như cam kết sẽ nhờ a án
hoặc các cơ quan đại diện pháp luật tương đương giải quyết.
4.3. Tất cả các nội dung trong thỏa thuận này đều được đánh máy, nếu
hai bên ghi tay thêm bắt nội dung nào thì các nội dung được ghi tay vào đều
không có giá trị.
Theo nội dung tại Biên bản thỏa thuận lập ngày 14/4/2022, thì Công ty Đ2
mua lại 01 MWp điện, hiệu: PB04080028511 thuộc sở hữu của Công ty Đ1
trong hệ thống 02 MWp điện mà hai Bên đã đầu tư, Công ty Đ2 phải thanh toán
01 lần số tiền 4.500.000.000 đồng cho Bên B (Công ty Đ1) sau 01 ngày khi Bên
mua dự án chuyển tiền lần cuối (chậm nhất 30/6/2022), hết thời hạn nói trên
(30/06/2022), Nếu bên A (Công ty Đ2) không chuyển đủ số tiền 4.500.000.000
đồng cho Bên B (Công ty Đ1) thì phải làm thủ tục tách và chuyển đổi pháp nhân
từ Công ty Đ2 sang cho Công ty Đ1 01 MWp trạm điện hiệu:
PB04080028511 cho Bên B (Công ty Đ1). Tuy nhiên, hết ngày 30/6/2022 Công
ty Đ2 vẫn không chuyển tiền. Như vậy, Công ty Đ2 phải thực hiện tách 01
MWp điện, ký hiệu: PB04080028511 cho Công ty Đ1 theo đúng như thoả thuận
đã ký kết tại Điều 2 Biên bản thỏa thuận ngày 14/04/2022.
- Ngày 28/02/2024, hai bên tiếp tục họp để trao đổi, thống nhất về việc xử
lý tranh chấp liên quan đến 01 MWp hệ thống điện năng lượng mặt trời mái nhà.
Sau khi kết thúc cuộc họp, hai bên đã thống nhất các nội dung như sau:
- Công ty Đ2 thanh toán chi phí tranh chấp của 1 MW Hệ thống điện
năng lượng mặt trời tại địa chỉ KCN V - S, Phường V, thị xã T (nay là thành phố
T), tỉnh Bình Dương cho công ty Đ1.
- Số tiền quyết toán xử lý tranh chấp giá trị 3.250.000.000 VND (Ba tỷ hai
trăm năm mươi triệu đồng).
10
- Công ty Đ2 sẽ hoàn thiện việc thanh toán 1 lần duy nhất (chuyển
khoản/tiền mặt) cho Công ty Đ1 tối đa đến ngày 31/03/2024. Trường hợp phát
sinh chậm trả tối đa đến ngày 30/04/2024. Công ty Đ2 sẽ chịu trách nhiệm
thanh toán chi phí lãi chậm trả phát sinh trong thời gian từ ngày 01/04/2024
đến ngày 30/04/2024 cho Công ty Đ1, với mức lãi suất cố định 9.6%/năm.
- Trường hợp Công ty Đ2 thực hiện đúng cam kết theo nội dung kết luận
thống nhất:
+ Công ty Đ1 không quyền thưa kiện tranh chấp dự án 1 MW hệ
thống điện năng lượng mặt trời tại địa chỉ KCN V - S, Phường V, thị T, Bình
Dương.
+ Công ty Đ2 toàn quyền quyết định về dự án 1 MW hệ thống điện năng
lượng mặt trời tại địa chỉ KCN V - S, Phường V, thị xã T, Bình Dương.
- Trường hợp Công ty Đ2 không thực hiện đúng cam kết theo nội dung kết
luận thống nhất:
+ Hai bên thống nhất đưa ra pháp luật giải quyết tranh chấp.
+ Công ty Đ2 phải trách nhiệm tách 01 MW hệ thống điện năng lượng
mặt trời tại địa chKCN V - S, Phường V, thị T, Bình Dương cho Công ty
Đ1”.
Tuy nhiên kể từ ngày 30/4/2024 đến nay, Công ty Đ2 đã không thực hiện
cam kết tại Biên bản làm việc ngày 28/02/2024. Do đó, căn cứ vào Mục 3 Biên
bản thỏa thuận lập ngày 28/02/2024 thì Công ty Đ2 phải trách nhiệm chuyển
quyền sở hữu 01 MWp điện mặt trời mái nhà cho Công ty Đ1.
Ngày 30/5/2024, Công ty Đ1 đã gửi Thông báo số: 30/2024/TB-VN về
việc khởi kiện ông Phan Thanh G - Giám đốc Công ty Đ4
Nội dung: “Từ m 2021 đến nay, Công ty Đ1 Công ty Đ2 đã nhiều
lần làm việc, thống nhất các hướng giải quyết các vấn đề của dự án Điện năng
lượng mặt trời áp mái IMW tại Công ty K2 số 12 VSIP II - A, đường số A, Khu
công nghiệp V - S, phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương, thông qua các văn bản
được chấp thuận giữa 02 bên, nhưng Công ty Đ2 cố tình không thực hiện theo
đúng văn bản đã thống nhất. Vào ngày 28/02/2024, Công ty Đ1 Công ty Đ2
đã làm việc với nhau và cùng đồng ý: Công ty Đ2 đồng ý thanh toán 01 lần chi
phí xử tranh chấp cho Công ty Đ1, hạn thanh toán 30/3/2024. Đến hiện tại,
Công ty Đ2 vẫn chưa động thái về việc thực đúng theo Biên bản làm việc
ngày 28/02/2024 được thống nhất giữa đại diện Công ty Đ1 Công ty Đ4
thế Công ty Đ1 đang tiến hành khởi kiện Ông Phan Thanh G - Giám đốc Công
ty Đ2 với quan nhà nước thẩm quyền về hành vi lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản của Ông G tại dự án này. Bằng thông báo này, Công ty Đ1
kính gửi đến Quý đối tác của Công ty Đ2 tại dự án: Điện năng lượng mặt trời áp
mái 1MW số 14, Khu công nghiệp V - S, Phường V, Thị T, Tỉnh Bình
Dương, hiện tại dự án đang bị lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản”.
11
Sau đó, Công ty Đ2 đã đồng ý làm thủ tục chuyển quyền sở hữu 01 MWp
điện áp mái nhà cho Công ty Đ1. Công ty Đ1 cũng đã liên hệ với Công ty Đ6
TNHH đã được cung cấp một bộ hồ vThỏa thuận thay đổi chủ thể hợp
đồngtheo Phụ Lục 4 các mẫu thỏa thuận sửa đổi, bsung Hợp đồng mua bán
điện đối với hệ thống ĐMTMN. Công ty Đ1 Công ty Đ2 đã lập Thỏa thuận
thay đổi chủ thể Hợp đồng mua bán điện cho hệ thống điện mặt trời mái nhà số
A ký ngày 29/12/2020 giữa Tổng Công ty Đ5Công ty Đ4
Công ty Đ2 Công ty Đ1 đã ký kết, đóng dấu vào bản “Thỏa thuận thay
đổi chủ thể hợp đồng” nói trên. Tuy nhiên, Tổng Công ty Đ5 TNHH chưa
vào Bản thỏa thuận thay đổi chủ thể hợp đồng này yêu cầu phải bổ sung Hợp
đồng thuê mái nhà do Công ty Đ1 trực tiếp ký với Công ty K2.
Sau đó, Công ty Đ1 đã yêu cầu Công ty Đ2 tổ chức cuộc họp 03 bên
(Công ty Đ1, Công ty Đ2 Công ty K2) để yêu cầu Công ty K2 tách hợp đồng
thuê mái nhà ra làm 02 hợp đồng thuê mái nhà độc lập (Hợp đồng thuê mái nhà
kết giữa Công ty Đ1 Công ty K2 cho 01 MWp điện mặt trời mái nhà do
Công ty Đ1 sở hữu và Hợp đồng thuê mái nhà ký kết giữa Công ty Đ2 với Công
ty K2 cho 01 MWp điện mặt trời mái nhà do Công ty Đ7). Tuy nhiên, Công ty
Đ2 không chịu thực hiện theo yêu cầu này của Công ty Đ1, dẫn đến việc
“Thỏa thuận thay đổi chủ thể hợp đồng” với Tổng Công ty Đ5 không thể thực
hiện được. Việc Công ty Đ2 không thực hiện cam kết tách 01 MWp hiệu
PB04080028511 cho Công ty Đ1 sở hữu đã gây thiệt hại rất lớn về kinh tế đối
với Công ty Đ1.
Do đó, Công ty Đ1 đề nghị Toà án xem xét, giải quyết yêu cầu sau:
Công nhận cho Công ty Đ1 được quyền sở hữu 01 MWp điện mặt trời mái
nhà, ký hiệu: PB04080028511, có công suất lắp đặt là 995.9 kWp, tại địa chỉ: Số
A, V, đường số A, K, phường V, thị T, tỉnh Bình Dương cho Công ty Đ1
(Theo Hợp đồng mua bán điện cho hệ thống điện mặt trời mái nhà số: 1715793).
Buộc Công ty Đ2 phải thực hiện thủ tục chuyển quyền shữu 01 MWp điện
mặt trời mái nhà, ký hiệu: PB04080028511 nói trên cho C1.
Quá tnh giải quyết vụ án, nhận thấy việc công nhận quyền sở hữu 01
MWp điện mặt trời không khả thi khó thực hiện. Do đó, Công ty Đ1 đã
thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Yêu cầu Công ty Đ2 phải thanh toán tiền sinh
lời của dự án tổng cộng 18.168.000.000 đồng, cụ thể: Tổng doanh thu bán
điện của 01 MWp trong thời gian 20 năm (Từ năm 2020 đến năm 2040) = 240
tháng x 180.000.000 đồng = 43.200.000.000 đồng. Trừ đi các chi phí phát sinh
25.302.000.000 đồng, gồm: Nợ gốc vay ngân hàng 10.000.000.000 đồng +
tiền lãi vay ngân hàng 8.232.000.000 đồng + tiền thuê mái nhà 4.400.000.000
đồng + chi phí bảo dưỡng, bảo trì h thống 2.400.000.000 đồng. Lấy
43.200.000.000 đồng - 25.302.000.000 đồng = 18.168.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà người đại diện hợp pháp của bị
đơn trình bày:
12
Tháng 6/2020, ông Phan Thanh G có tìm hiểu Quyết định số 13/2020/QĐ-
TTg ngày 06/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ về chế khuyến khích phát
triển điện mặt trời tại Việt Nam các quy định của Tập đoàn Đ8. Ông G đăng
thông tin trên mạng hội tìm thuê các mái nhà xưởng các tỉnh phía Nam để
đầu dự án Điện năng lượng mặt trời mái nhà, song song đó ông G cũng m
hiểu các nhà thầu thi công tìm hiểu các Ngân hàng đồng hành, hỗ trợ các
khoản vay đầu dự án. Thời gian đó cũng rất nhiều nhà thầu thi công liên lạc
với ông G để cùng đi m thuê mái nhà xưởng như: Công ty S, Công ty CP S,
Công ty TNHH C ... Tháng 10/2020, Công ty Đ2 tìm và thuê được mái nhà
xưởng của Công ty K2 để đầu dự án Điện năng lượng mặt trời mái nhà 2
MWp. Từ thời điểm bắt đầu triển khai dự án Điện năng lượng mặt trời mái nhà
khoảng tháng 10 năm 2020, Công ty Đ9 làm việc với Công ty TNHH C để thi
công dự án.
Thời gian đầu trao đổi công việc thì ông V - Giám đốc Công ty TNHH C
giới thiệu cho biết ông Nguyễn Văn N đồng hành cùng Công ty TNHH C.
Ông V cũng giới thiệu Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh B2 - Phòng giao dịch
Quận A đồng hành hỗ trợ các khoản vay cho dự án. Công ty TNHH C cam kết
thi công trọn gói đến khi hoàn thành Công trình, khi nào ngân hàng giải ngân
các khoản vay mới nhận tiền từ ngân hàng các khoản chênh lệch tCông ty
Đ4 Sau đó ông V - Giám đốc Công ty TNHH C xin cho thuê lại một phần mái
nhà xưởng để đầu tư 1 MWp, để thuận lợi cho việc thi công dự án của mình nên
ông G đồng ý nhưng chỉ nói miệng với nhau không thỏa thuận với nhau
bằng giấy tờ.
Từ tháng 11/2020 đến tháng 12/2020, ông Nguyễn Văn N đồng hành cùng
Công ty TNHH C hỗ trợ chi phí mua sắm vật thiết bị để thi công dự án, khi
ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh B2 - P giải ngân thì ông Nguyễn Văn N cùng
Công ty TNHH C đã nhận lại đủ số tiền đã bỏ ra.
Khi thi công dự án gần xong Công ty Đ2 liên hệ với ông V, ông N
thuộc Công ty TNHH C nếu nhận 1 MWp dự án Điện năng lượng mặt trời mái
nhà thì phải làm các thủ tục thuê mái nhà xưởng của 1 MWp chuyển sang Công
ty của mình đquản làm nghiệm thu Hợp đồng với Điện lực, làm thủ
tục vay Ngân hàng … Khi đó ông V nói thôi ông đứng tên ông làm luôn đi, khi
nào tụi em cần thì mua lại”. Từ năm 2021, đến nay về chế độ bảo hành, bảo trì
phía Công ty TNHH C vẫn không thực hiện tốt theo Hợp đồng.
Theo Biên bản thỏa thuận V/v chuyển giao quyền sở hữu dự án Điện mặt
trời mái nhàngày 15 tháng 10 năm 2021. Trong khoảng thời gian đó bên phía
ngành Điện yêu cầu bổ sung các hồ sơ giấy tờ pháp lý rất nhiều. Ông G gọi điện
cho ông N, ông V rất nhiều lần làm thtục tách 01 MWp ra để của ai người đó
vận hành tự làm giấy tờ bổ sung cho Điện lực. Tuy nhiên ông N, ông V bỏ
luôn, điện thoại thì không nhắc máy, nhắn tin thì không trả lời.
Theo Biên bản làm việc ngày 14/4/2022, bên mua khi đó Công ty Cổ
phần N1 đàm phán mua lại toàn bộ dự án nhưng không hoàn thành nên không
13
bán được, Công ty Đăng Phan yêu cầu ông N, ông V làm thtục mua lại dự án
để Công ty của các ông tự vận hành. Tuy nhiên, trong một thời gian dài Công ty
Đăng Phan gọi điện rất nhiều lần máy đổ chuông nhưng các ông không nhấc
máy nhắn tin cũng không trả lời. Từ đó, Công ty Đ2 không gọi nữa nhiều
lần nhờ Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh B2 - P gọi điện trao đổi với các ông
nhưng không có kết quả.
Theo Biên bản làm việc ngày 28 tháng 02 năm 2024, trong Biên bản
không ghi số tài khoản người nhận tiền, số điện thoại liên lạc. Công ty Đ2 cũng
liên lạc nhiều lần với ông V, ông N theo số điện thoại trước đây các ông cho
thì điện thoại đổ chuông nhưng các ông không nhấc máy. Bản thân ông G
nhờ ông L Giám đốc Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh B2 - P liên lạc với các
ông để đưa ra phương án nhưng vẫn không có kết quả.
Trong năm 2020, Công ty Đ2 không làm việc hợp tác bất kỳ vấn đề
về dự án Điện năng lượng mặt trời với Công ty Đ1. Được biết Công ty
TNHH Đ1 thành lập sau năm 2020 (Khoảng giữa năm 2021). Do đó, trước yêu
cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ1, Công ty Đ2 không đồng ý.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng
TMCP Q trình bày:
Công ty Đ2 quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Q theo Hợp đồng
cho vay số 68925.20.205.8813343.TD ngày 16/12/2020 và Hợp đồng cho vay số
68525.20.205.8813343.TD ngày 08/01/2021, mục đích vay: Cho vay để KH đầu
xây dựng hệ thống điện mặt trời mái nhà. Giải ngân theo Văn bản nhận nợ số
LD2100868000 LD2102071500 với tổng tiền: 20.000.000.000 đồng. Thời
hạn khoản vay: 84 tháng/LD. Tổng n tạm nh đến 9/9/2025 là:
6.666.666.504 đồng (Nợ nhóm 1), cụ thể nợ gốc 6.666.666.504 đồng. Tài sản
đảm bảo cho khoản vay là:
- TSBĐ 01: Toàn bộ hệ thống điện mặt trời mái nhà theo Hợp đồng kinh
tế số 10.HĐKT/ĐĂNGPHAN/VINAGI/11/2020 ngày 16/11/2020 giữa Công ty
Đ2 Công ty C theo Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số
70093.20.205.8813343.BĐ ngày 18/01/2021.
- TSBĐ 02: Toàn bộ hệ thống điện mặt trời mái nhà theo Hợp đồng kinh
tế số 11.HĐKT/ĐĂNGPHAN/VINAGI/11.2020 ngày 16/11/2020 giữa Công ty
Đ2 Công ty C theo Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số
70143.20.205.8813343.BĐ ngày 05/01/2021.
Ngân hàng TMCP Q không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn bởi:
- Đây thỏa thuận riêng giữa nhân ông N (đại diện Công ty Đ1)
ông G (Đại diện Công ty Đ2) nếu có.
- Ngân hàng TMCP Q không biết, không tham gia không liên quan
trong thỏa thuận riêng nêu trên.
- 01 MWp nguyên đơn yêu cầu là tài sản của Công ty Đ2 và đang thế chấp
tại Ngân hàng TMCP Q bảo đảm khoản vay cho Công ty Đ4 Hiện nay, Công ty
14
Đ2 còn dư nợ nên Ngân hàng TMCP Q không đồng ý việc chuyển quyền sở hữu
này. Tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q nên không điều kiện để
chuyển quyền sở hữu theo yêu cầu của nguyên đơn, trường hợp có căn cứ ông G
phải chuyển quyền sở hu 1 MWp cho ông N thì đề nghị các bên thanh toán cho
nhau bằng tiền. Ngân hàng TMCP Q đề nghị Tòa án xem xét giải quyết bảo vệ
các quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP Q. Ngân hàng TMCP Q
giữ nguyên ý kiến trong suốt quá trình tố tụng, đề nghị Tòa án giải quyết vắng
mặt và Ngân hàng TMCP Q từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.
Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH K2 trình bày: Từ tháng
10/2020, Công ty có trao đổi, đàm phán với Công ty TNHH Đ2 về việc cho thuê
mái nhà xưởng để Công ty TNHH Đ10, lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt
trời hợp đồng ngày 12/11/2020. Công ty không làm ăn, hợp tác với
Công ty TNHH MTV Đ1 và cũng không biết Công ty này ở đâu, làm gì. Công ty
TNHH MTV Đ1 không liên quan đến việc làm ăn của Công ty TNHH K2.
Người đại diện hợp pháp của Tổng Công ty Điện lực Thành phố H không
có ý kiến gì trình bày và xin được giải quyết vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của Công ty Cổ phần C trình bày: Thống nhất
với trình bày của nguyên đơn về việc thoả thuận hợp tác đầu đối với Dự án
xây dựng 02 (hai) MWp điện mặt trời mái nhà tại Khu công nghiệp V - S,
Phường V, Thị T (nay thành phố T), tỉnh Bình Dương. Công ty TNHH C
(Nay Công ty cổ phần C) đơn vị thi công, xây dựng trọn gói hệ thống 02
(hai) MWp điện mặt trời mái nhà nói trên. Tổng số tiền đầu tư, xây dựng 02
(hai) MWp điện mặt trời mái nhà là: 20.000.000.000 đồng (Hai mươi tỷ đồng),
mỗi 01 MWp điện mặt trời mái nhà đầu số tiền là: 10.000.000.000 đồng
(Mười tỷ đồng), ông Nguyễn Văn N sẽ trực tiếp ứng trước 68% tổng vốn đầu tư,
xây dựng của 02 (hai) MWp điện mặt trời mái nhà cho Nhà thầu chuyển
khoản trực tiếp cho Công ty TNHH C, còn lại Công ty TNHH C sẽ đối ứng 32%
trên tổng vốn đầu tư. Ông Phan Thanh G không có tiền ứng ban đầu, nhưng ông
G kinh nghiệm trong ngành điện năng lượng, tài sản để khi cần dùng làm
tài sản đảm bảo cho khoản vay sau khi dự án hoàn thiện thế chấp vay ngân
hàng để hoàn phần vốn đầu tư ông Nguyễn Văn N đã tạm ứng trước cho
Nhà thầu. Hai bên thống nhất sau khi xây dựng hoàn thiện dự án, đấu nối vào
lưới điện quốc gia Hợp đồng mua bán điện với Tổng Công ty Đ5, thì sẽ
dùng chính 02 (hai) MWp điện mặt trời mái nhà này thế chấp vay ngân hàng để
hoàn phần vốn đầu ban đầu mà ông N đã ứng ra thanh toán khoản tiền
Công ty TNHH C đã ứng trước. Thỏa thuận chia tài sản và lợi nhuận sau đầu tư:
Sau khi Dự án lắp đặt hoàn thành được đấu nối vào lưới điện quốc gia, thì
ông Nguyễn Văn N được sở hữu 01 (một) MWp điện mặt trời mái nhà, hiệu:
PB04080028511 ông Phan Thanh G được sở hữu 01 (một) MWp điện mặt
trời mái nhà, hiệu PB04080025494. Hai bên cùng thống nhất thế chấp toàn
bộ 02 (hai) MWp điện mặt trời mái nhà này vay ngân hàng số tiền
20.000.000.000 đồng (Hai mươi tỷ đồng) để hoàn phần vốn đầu ban đầu
ông N đã ứng trước thanh toán phần tiền Công ty TNHH C bỏ ra xây
15
dựng. Mỗi 01 MWp điện sẽ thế chấp vay ngân hàng số tiền 10.000.000.000
đồng (mười tỷ đồng), nợ gốc lãi vay ngân hàng của mỗi Bên, sẽ được thanh
toán bằng doanh thu bán điện của 01 (một) MWp điện mỗi Bên sở hữu (sau
khi trừ đi chi phí thuê mái nchi phí bảo trì). Hai bên thống nhất, ông Phan
Thanh G sẽ đứng tên thành lập một pháp nhân pháp nhân này sẽ đại diện,
thay mặt ký Hợp đồng thuê mái nhà với Công ty TNHH K2; Bản thỏa thuận
đấu nối với Điện L1 Trung tâm Hợp đồng mua bán điện với Tổng Công
ty Đ5 và tiến hành thủ tục thế chấp 02 (hai) MWp điện mặt trời mái nhà vay tiền
Ngân hàng để hoàn trả lại số tiền ông Nguyễn Văn N đã ứng để đầu xây
dựng và thanh toán phần tiền cho nhà thầu. Sau đó, ông Nguyễn Văn N sẽ thành
lập pháp nhân mới thuộc sở hữu của ông N, thì ông Phan Thanh G trách
nhiệm tiến hành thủ tục chuyển quyền sở hữu 01 (một) MWp điện cho Pháp
nhân này đứng tên sở hữu. Việc thoả thuận này không được lập thành văn bản.
Thực hiện thỏa thuận, ông Nguyễn Văn N đã chuyển tiền tạm ứng trước
cho nhà thầu, tổng số tiền ông N đã chuyển vào tài khoản của Công ty TNHH C
13.690.900.200 đồng (mười ba tsáu trăm chín mươi triệu chín trăm nghìn
hai trăm đồng), tương đương 68% tổng vốn đầu tư. Công ty TNHH C đã đối
ứng số tiền tương đương 32% là 6.309.099.800 đồng.
Sau gần 02 tháng xây dựng, Công ty TNHH C đã hoàn thành hệ thống 02
(hai) MWp điện mặt trời mái nhà. Sau đó, Công ty TNHH Đ2 đại diện kết
Hợp đồng mua bán điện cho hệ thống điện mặt trời mái nhà với Tổng Công ty
Đ5. Đồng thời, Công ty TNHH Đ2 đứng tên thế chấp toàn bộ hệ thống 02 (hai)
MWp điện mặt trời mái nhà này vay Ngân hàng TMCP Q Chi nhánh B2 stiền
20.000.000.000 đồng (Hai mươi tỷ đồng). Sau khi được Ngân hàng TMCP Q
Chi nhánh B2 giải ngân, Công ty TNHH Đ2 đã giải ngân thanh toán tiền lắp đặt,
xây dựng hệ thống 02 (hai) MWp điện mặt trời mái nhà cho Công ty TNHH C
với tổng số tiền là 19.800.960.000 đồng. Công ty TNHH C ng đã chuyển hoàn
phần
vốn đầu ông Nguyễn Văn N đã tạm ứng trước cho Nhà thầu số
tiền 13.690.900.200 đồng. Ngày 15/10/2021, Công ty TNHH Đ2 (ông Phan
Thanh G đại diện) và Công ty TNHH MTV Đ1 (ông Nguyễn Văn N đại diện) đã
cuộc họp để giải quyết vướng mắc giữa hai bên, cuộc họp cũng sự tham
gia của đại diện nhà thầu ông Nguyễn Văn V. Sau khi thỏa thuận, hai bên đã
thống nhất nội dung sau: “Công ty TNHH Đ2 đồng ý chuyển giao dự án
Công ty TNHH MTV Đ1 đồng ý nhận dự án Điện NLMTMN 996 kWp Hợp đồng
mua bán điện cho hệ thống điện mặt trời mái nhà số 1715793 kết ngày
29/12/2020 Tổng Công ty Đ5 Công ty TNHH Đ4 Địa chỉ: số A V, đường số
A, KCN V - S, phường V, thị T (nay thành phố T), tỉnh Bình Dương... ”.
Ngoài ra, phía Bên A Công ty TNHH Đ2 còn trách nhiệm phải thực hiện
các nội dung sau:
“1. Bàn giao dự án cho Bên B (Công ty TNHH MTV Đ1) sau khi Biên
bản thoả thuận đã thống nhất; 2. Chuyển cho Bên B 90% số tiền điện do Điện
lực Trung Tâm chuyển cho Bên A từ tháng 01/2021 đến tháng 03/2021 với số
tiền: 296.895.786 VND... ”. Nhưng sau đó phía Công ty TNHH Đ11 thực hiện
16
các nội dung đã thoả thuận trong Biên bản ngày 15/10/2021. Hai bên tiếp tục
nhiều cuộc họp để giải quyết vướng mắc, tranh chấp và trong các Biên bản cuộc
họp đều thể hiện nội dung “Sau khi hoàn thành Dự án 02 (hai) MWp điện mặt
trời mái nhà, Công ty TNHH Đ2 đồng ý làm thủ tục tách 01 (một) MWp điện,
hiệu: PB04080028511 cho Công ty TNHH MTV Đ1 sở hữu” chia lại
doanh thu điện. Tuy nhiên, phía Công ty Đ2 đã không thực hiện đúng nội dung
đã cam kết nhiều lần thoãn việc chuyển giao tài sản thanh toán phần
doanh thu như đã thỏa thuận.
Ý kiến của Công ty Cổ phần C: Chúng tôi là nhà thầu thi công và là người
trực tiếp chứng kiến toàn bộ quá trình hợp tác đầu tư giữa hai bên, Công ty Cổ
phần C xác nhận rằng: Thỏa thuận hợp tác đầu giữa ông Nguyễn Văn N
ông Phan Thanh G là có thật. Việc góp vốn, thi công phân chia quyền sở hữu
đã được thống nhất cụ thể ngay từ đầu. 02 (hai) MWp điện áp mái nhà đã được
đầu tư, xây dựng theo đúng kế hoạch thỏa thuận của các bên, việc Công ty
TNHH Đ11 thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản là 01 (một) MWp điện,
ký hiệu: PB04080028511 cho Công ty TNHH MTV Đ1 vi phạm cam kết, gây
ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của Công ty TNHH MTV Đ1.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng Đ trình bày:
Ngày 08/01/2021, ông Nguyễn Văn N nhờ ông Đ chuyển khoản qua ngân
hàng giúp ông N số tiền 3.000.000.000 đồng vào số tài khoản của Công ty
TNHH C. Số tiền trên là của ông Nguyễn Văn N, không phải của ông Đ. Ông Đ
không có yêu cầu gì trong vụ án và xin được giải quyết vắng mặt.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Thu M trình bày:
Ngày 27/11/2020, ông Nguyễn Văn N nhờ M chuyển khoản qua ngân
hàng giúp ông N số tiền 3.900.000.000 đồng vào số tài khoản của Công ty
TNHH C. Số tiền trên của ông Nguyễn Văn N, không phải của M. M
không có yêu cầu gì trong vụ án và xin được giải quyết vắng mặt.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm s04/2026/KDTM-ST ngày
15/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết
định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH
MTV Đ1 với bị đơn Công ty TNHH Đ2 về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp tác
đầu tư”.
Buộc Công ty TNHH Đ2 phải thanh toán cho Công ty TNHH MTV Đ1 số
tiền 3.508.842.466 đồng (ba tỷ m trăm ltám triệu tám trăm bốn mươi hai
nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng), gồm: Số tiền đã thoả thuận thanh toán
3.250.000.000 đồng tiền lãi 258.842.466 đồng (tính tngày 26/02/2025
đến ngày 15/01/2026).
Kể từ ngày 16/01/2026 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
9.6%/năm cho đến khi thi hành xong.
17
2. Về chi phí tố tụng: Công ty TNHH MTV Đ1 phải chịu 3.000.000 đồng
(ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đã nộp đủ.
3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Buộc Công ty TNHH Đ2 phải chịu 102.176.849 đồng (Một trăm lẻ hai
triệu một trăm bảy mươi sáu nghìn tám trăm bốn mươi chín đồng).
- Buộc Công ty TNHH MTV Đ1 phải chịu 119.491.158 đồng (một trăm
mười chín triệu bốn trăm chín mươi mốt nghìn một trăm năm mươi tám đồng).
Được trừ vào tiền tạm ứng án phí 59.000.000 đồng (năm mươi chín triệu đồng)
đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005145 ngày
19/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên (nay Thi hành
án dân sự Thành phố H). Công ty TNHH MTV Đ1 còn phải nộp 60.491.158
đồng (Sáu mươi triệu bốn trăm chín mươi mốt nghìn một trăm năm mươi tám
đồng).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên quyền nghĩa vụ thi hành án
quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 23/01/2026, nguyên đơn Công ty TNHH MTV Đ1 ngày
30/01/2026 bị đơn Công ty TNHH Đ2 kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
và yêu cầu kháng cáo, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các bên không
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Giữa
nguyên đơn bị đơn thỏa thuận về việc hợp tác đầu tư dự án xây dựng 2
MWp điện năng lượng mặt trời mái nhà tại số A V đường số A, khu công nghiệp
V - S, phường V, thành phố T, Bình Dương (nay phường V, Thành phố Hồ
Chí Minh) theo như bản án thẩm đã nhận định, theo các thỏa thuận tại Biên
bản làm việc ngày 15/10/2021, Biên bản thỏa thuận ngày 14/4/2022 và Biên bản
thỏa thuận ngày 28/02/2024. Theo Biên bản thỏa thuận ngày 15/10/2021 thì
Công ty Đ2 đồng ý chuyển cho Công ty Đ1 số tiền 4.500.000.000 đồng, nếu
không thì sẽ tách cho Công ty Đ1 01 MWp điện nhưng Công ty Đ2 không thực
hiện, đến ngày 14/4/2022, hai bên thống nhất Công ty Đ2 thanh toán cho Công
ty Đ1 một lần số tiền 4.500.000.000 đồng chậm nhất đến 30/6/2022, nếu không
chuyển đủ số tiền 4.500.000.000 đồng thì phải làm thủ tục tách 01 MWp điện
cho Công ty Đ1. Do Công ty Đ2 vẫn không thực hiện đúng thỏa thuận nên đến
ngày 28/02/2024, các bên mới có thỏa thuận giảm số tiền Công ty Đ2 thanh toán
cho Công ty Đ1 còn 3.250.000.000 đồng theo phương án 3, nhưng Công ty Đ2
vẫn không thực hiện. Bị đơn cho rằng không liên lạc được không số tài
khoản nên không thanh toán cho nguyên đơn được không phù hợp. Nguyên
đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thanh toán tcáo ra Công an nhưng bị
đơn không thực hiện theo thỏa thuận ngày 28/02/2024 là thỏa thuận có điều kiện
khi một trong các bên không thực hiện thỏa thuận thì sẽ đưa ra pháp luật xử
hoặc chuyển 01 MWp điện, do vậy căn cứ Điều 510, 506, 507, 509 Bộ luật
Dân sự các thành viên hợp đồng hợp tác được chia lợi nhuận hợp tác, nguyên
18
đơn yêu cầu bị đơn thanh toán 15.000.000.000 đồng căn cứ trên sở tiền
điện lực 20 năm, mỗi tháng 180.000.000 đồng x 20 năm trừ chi phí trả nợ ngân
hàng hàng tháng đúng với giá trị 01 MWp điện theo thỏa thuận của các bên.
Căn cứ nguyên đơn yêu cầu nguyên đơn chủ sử hữu hợp pháp của 01
MWp điện nhưng để cho bị đơn đứng tên trên cả 02 MWp điện để làm các thủ
tục pháp lý. Do đó nếu bị đơn đồng ý thì nguyên đơn sẽ nhận chuyển nhượng 01
MWp điện còn lại của bị đơn hoặc bị đơn nhận chuyển nhượng 01 MWp điện
của nguyên đơn với giá 7.000.000.000 đồng. Ngoài ra, bản án thẩm tính lãi
suất từ tháng 02/2025 là không đúng, lãi suất phải được tính từ tháng 3/2024 đến
khi xét xử sơ thẩm là 676.000.000 đồng mới đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn
theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp nguyên đơn không
được chấp nhận yêu cầu khởi kiện 15.000.000.000 đồng thì đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn tính lại tiền lãi cho nguyên
đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Công ty Đ2
với Công ty C kết hợp đồng thi công việc xây dựng, lắp đặt hệ thống 02
MWp điện mặt trời mái nhà, trong hợp đồng thể hiện ràng tiến độ thi công.
Trước khi thực hiện thi công thì phải tìm vốn, thuê mặt bằng, nơi bán điện, toàn
bộ các hoạt động trên đều do ông G đại diện của bị đơn thực hiện. Sau khi
hoàn tất việc xây dựng lắp đặt thì ông G đứng tên sở hữu 02 MWp điện làm thủ
tục vay vốn thế chấp bằng chính quyền sở hữu 02 MWP điện. Sau khi Ngân
hàng giải ngân thì bị đơn đã trả lại vốn cho nguyên đơn, do đại diện nguyên đơn
ông N, ông V đi chung mong muốn sở hữu 01 MWp điện nên mới thực
hiện thủ tục lại các hợp đồng thế chấp với Ngân hàng, thuê mặt bằng nhưng
không thực hiện nên mới phát sinh tranh chấp. Do hai bên nhiều lần không
thương lượng được với nhau nên ông G không chuyển nhượng được cho bên thứ
3. Ông G đại diện Công ty Đ2 đồng ý trả cho nguyên đơn 3.250.000.000
đồng, không đồng ý trả tiền lãi, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không
tính lãi cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn vviệc buộc bị đơn thanh toán số tiền 15.000.000.000 đồng cho
nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
Về tố tụng: Những người tham gia tố tụng những người tiến hành tố
tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà, các đương sự
không cung cấp được Hợp đồng hợp tác đầu bằng văn bản về việc đầu hệ
thống 02 MWp điện mặt trời mái nhà. Tuy nhiên, nguyên đơn cung cấp các
chứng cứ gồm: Biên bản thoả thuận ngày 15/10/2021; Biên bản thoả thuận ngày
14/4/2022; Biên bản làm việc ngày 28/02/2024; Thoả thuận thay đổi chủ thể hợp
đồng mua bán điện cho hthống điện mặt trời mái n(không đề ngày tháng
năm). Các biên bản này nguyên đơn bị đơn đều tên đóng dấu của mình
vào, đồng thời thừa nhận tham gia tại các buổi làm việc này. Nguyên đơn, bị
đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty C thừa nhận 02 MWp Hệ
19
thống điện năng lượng mặt trời tại địa chỉ Khu công nghiệp V - S mở rộng,
phường V đầu với tổng số tiền 20.000.000.000 đồng. Sau khi nghiệm thu bị
đơn đã thế chấp 02 MWp này tại Ngân hàng M1 thanh toán đủ số tiền
20.000.000.000 đồng cho Công ty C. Đây chứng cứ không cần phải chứng
minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét các biên bản làm việc và biên bản thoả thuận đủ căn cứ xác định
giữa ông N ông G thoả thuận hợp tác đầu dự án 02 MWp điện mặt trời
lắp đặt trên mái nhà của Công ty K2, địa chỉ tại số A VSIP II - A, đường số A,
Khu công nghiệp V - S, phường V từ năm 2020. Dự án đã hoàn thành và đưa
vào khai thác từ cuối năm 2020. Quá trình vận hành giữa các bên phát sinh tranh
chấp từ năm 2021 đến nay. Từ m 2021 đến năm 2024 các bên đã 03 lần
thương lượng việc giải quyết tranh chấp. Xét thấy thoả thuận nêu trên giữa các
đương sự hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên có hiệu
lực thực hiện đối với các bên liên quan.
Nguyên đơn cho rằng sau khi các bên đã thống nhất các nội dung tại Biên
bản làm việc ngày 28/02/2024, Công ty Đ2 không thực hiện việc thanh toán số
tiền 3.250.000.000 đồng cho Công ty Đ1. Bị đơn không thống nhất cho rằng
sau khi các bên thoả thuận tại Biên bản làm việc ngày 28/02/2024, Công ty Đ2
liên lạc nhiều lần với ông V, ông N theo số điện thoại trước đây các ông và
ông G đã từng liên lạc, thì điện thoại đổ chuông nhưng các ông không nghe
máy.
Biên bản làm việc ngày 28/02/2024 không ghi số tài khoản ngân hàng của
Công ty Đ1 nhưng thể hiện nội dung “thanh toán 1 lần duy nhất (chuyển
khoản/tiền mặt) cho Công ty Đ1 đã xác định nghĩa vthanh toán ràng của
Công ty Đ4
Theo Điều 284 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi hợp đồng đã
chốt thời hạn thanh toán cuối cùng ngày 31/3/2024, bên nghĩa vụ (bị đơn)
phải có trách nhiệm chủ động tìm cách liên hệ hoặc gửi tiền vào tài khoản phong
tỏa/nơi gửi giữ an toàn theo quy định pháp luật. Bị đơn không thể lấy do
nguyên đơn vắng mặt hay không đưa số tài khoản để trốn tránh nghĩa vụ thanh
toán. Hành vi không trả tiền sau ngày 31/3/2024 ràng hành vi vi phạm
nghĩa vụ thanh toán nên phải chịu tiền lãi chậm thanh toán theo thỏa thuận.
Do đó, việc Công ty Đ1 thay đổi yêu cầu khởi kiện, buộc ng ty Đ2 phải
nghĩa vthanh toán cho Công ty Đ1 số tiền 15.000.000.000 đồng tiền sinh
lời không sở. theo thoả thuận ngày 28/02/2024, thì bđơn chỉ
nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền 3.250.000.000 đồng là phù hợp. Đây
cũng tiền lợi nhuận cho việc đầu giữa hai bên bởi lẽ ngay sau khi nghiệm
thu thì bị đơn Công ty Đ2 đã thế chấp 02 MWp Hệ thống điện năng lượng mặt
trời, trả lại đủ số tiền 20.000.000.000 đồng đầu tư cho nguyên đơn Công ty Đ1.
Biên bản xử lý tranh chấp cuối cùng ngày 28/02/2024, các bên thống nhất
triệt tiêu các tranh chấp chốt lại số tiền nghĩa vụ cố định 3.250.000.000
đồng. Văn bản này hiệu lực ràng buộc thay thế các nội dung tranh chấp trước
20
đó. Do đó, không có căn cứ chấp nhận số tiền yêu cầu 15.000.000.000 đồng của
nguyên đơn.
Tuy nhiên, do Bản án thẩm xác định sai thời điểm tính lãi chậm phát
sinh do vi phạm nghĩa vụ thanh toán tngày nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án
ngày 26/02/2025 phải tính tngày bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán
theo Biên bản xử tranh chấp cuối cùng ngày 28/02/2024 nên cần sửa tính lãi
từ ngày vi phạm nghĩa v thanh toán (01/4/2024) đến ngày xét xử thẩm
(15/01/2026).
Về án phí: do xác định lại số tiền lãi bị đơn nghĩa vụ thanh toán cao
hơn số tiền Tòa án cấp thẩm chấp nhận nên cần sửa lại số tiền án phí bị đơn
phải chịu tính trên phần nghĩa vụ bị đơn phải thực hiện.
Về yêu cầu kháng cáo của bị đơn: Biên bản xử tranh chấp cuối cùng
ngày 28/02/2024, người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ2 đã trực tiếp
tên, đóng dấu xác nhận quyền và nghĩa vụ công nợ trực tiếp với pháp nhân Công
ty Đ1 số tiền 3.250.000.000 đồng nên phát sinh nghĩa vụ thanh toán của Công ty
Đ2 với Công ty Đ1.
Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn
Công ty TNHH Đ2 là không căn cứ chấp nhận; Yêu cầu kháng cáo của
nguyên đơn Công ty TNHH MTV Đ1 căn cứ chấp nhận một phần. Do đó,
đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn,
chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn; sửa một phần Bản án số
04/2026/KDTM ST ngày 15/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 theo
hướng tính lại tiền lãi chậm thanh toán án phí kinh doanh thương mại
thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, Luật sư, Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn nộp trong thời hạn theo
quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để thụ
lý và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH K2;
Tổng Công ty Điện lực Thành phố H, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, ông
Nguyễn Hoàng Đ, bà Phạm Thị Thu M vắng mặt tại phiên tòa và có yêu cầu Tòa
án giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vắng mặt các
đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
21
[2.1] Theo sthừa nhận của các bên đương sự: giữa nguyên đơn, bị đơn
kết thỏa thuận ngày 15/10/2021, Biên bản thỏa thuận ngày 14/4/2022,
Biên bản làm việc ngày 28/02/2024, Thỏa thuận thay đổi chủ thể hợp đồng mua
bán điện cho hệ thống điện mặt trời mái nkhông đề ngày tháng năm. Các bên
đương sự thừa nhận việc kết nội dung các biên bản thỏa thuận đúng ý chí
của các bên. Do đó, đây tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo
Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Xét kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn thấy rằng:
[2.2.1] Theo Biên bản làm việc ngày 28/02/2024 thể hiện nội dung thỏa
thuận giữa bên A là Công ty TNHH Đ12 ông Phan Thanh G, chức vụ Giám đốc
đại diện với bên B Công ty TNHH MTV Đ1 do ông Nguyễn Văn V đại diện.
Cuối Biên bản thỏa thuận, tại mục bên A chữ của ông Phan Thanh G
đóng dấu Công ty Đ2, bên B chữ của ông Nguyễn Văn V đóng dấu
Công ty Đ1. Tại phiên tòa phúc thẩm ông N xác định ông N ủy quyền cho
ông V để kết biên bản làm việc này với ông G mọi vấn đề liên quan đến
nội dung thỏa thuận của Biên bản làm việc ngày 28/02/2024 đều đúng với ý
chí theo sự ủy quyền của ông N. Xem xét Giấy ủy quyền số
1801/2023/GUVNN ngày 18/01/2024, thấy rằng: Bên A bên ủy quyền
Nguyễn Văn N, bên B bên nhận ủy quyền Nguyễn Văn V thỏa thuận nội
dung ủy quyền bên A y quyền cho bên B làm việc với ngân hàng để giải
quyết tất cả vấn đề liên quan đến dán lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời tại
Nhà máy I, thời gian ủy quyền kể từ ngày ký đến khi hoàn thành nhiệm vụ công
việc. Cuối văn bản ủy quyền chữ của bên ủy quyền ông N đóng dấu
Công ty Đ1, bên nhận y quyền tên Nguyễn Văn V. Như vậy nội dung Giấy
ủy quyền số 1801/2023/GUVNN ngày 18/01/2024 chỉ liên quan đến vấn đề làm
việc với Ngân hàng M1, không nội dung liên quan đến vấn đề làm việc với
Công ty Đ4 Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm suốt quá trình tố tụng cấp
thẩm, ông N thừa nhận toàn bộ nội dung biên bản làm việc theo sự ủy quyền
của ông N và thống nhất nội dung ký kết giữa ông G đại diện Công ty Đ2 và ông
V đại diện Công ty Đ1 vào ngày 28/02/2024 đúng ý chí của ông N nnhận
định nêu trên. Như vậy, Biên bản thỏa thuận ngày 28/02/2024 mặc không do
ông N với ông G, tuy nhiên ông N thừa nhận nội dung thống nhất tất cả
các điều khoản nêu trong Biên bản làm việc ngày 28/02/2024 thỏa thuận giữa
Công ty Đ2 và Công ty Đ1 đúng ý chí của ông N nên hiệu lực ràng buộc
quyền và nghĩa vụ của Công ty Đ1Công ty Đ4
[2.2.2] Theo nội dung tại mục 3 Biên bản làm việc ngày 28/02/2024 kết
luận thống nhất cuối cùng của hai bên: “Sau khi kết thúc buổi họp ngày
28/02/2024, hai bên thống nhất các nội dung như sau:
- Thống nhất lựa chọn phương án 3: Công ty Đ2 thanh toán chi phí xử
tranh chấp của 1 MW Hệ thống điện năng lượng mặt trời tại KCN V - Singapore
II mở rộng, Phường V thị xã T, Bình Dương cho Công ty Đ1.
22
- Số tiền quyết toán xử tranh chấp giá trị: 3,250,000.000VND (bằng
chữ: Ba tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng;
- Công ty Đ2 sẽ hoàn thiện thanh toán 01 lần duy nhất (chuyển khoản/tiền
mặt) cho Công ty Đ1 tối đa đến ngày 31/03/2024. Trường hợp phát sinh chậm
trả tối đa đến ngày 30/4/2024, Công ty Đ2 sẽ chịu trách nhiệm thanh toán chi
phí lãi chậm trả phát sinh trong thời gian t ngày 01/4/2024 đến ngày 30/0
4/2024 cho Công ty Đ1 với mức lãi suất cố định là 9,6%/năm.
- Trường hợp Công ty Đ2 thực hiện đúng cam kết theo nội dung kết luận
thống nhất:
+ Công ty Đ1 không quyền thưa kiện tranh chấp dự án 1 MW Hệ
thống điện năng lượng mặt trời tại địa chỉ KCN V - S mở rộng, Phường V thị xã
T, Bình Dương.
+ Công ty Đ2 toàn quyền quyết định về dự án 1 MW Hệ thống năng lượng
mặt trời tại địa chỉ KCN V - S mở rộng, Phường V thị xã T, Bình Dương.
- Trường hợp Công ty Đ2 không thực hiện đúng cam kết theo nội dung kết
luận thống nhất:
+ Hai bên thống nhất đưa ra pháp luật xử lý tranh chấp;
+ Hoặc Công ty Đ2 phải trách nhiệm ch 1 MW Hệ thống điện năng
lượng mặt trời tại địa chỉ KCN V - S mở rộng, Phường V thị T, Bình Dương
cho Công ty Đ1”.
[2.2.3] Sau khi kết thỏa thuận ngày 28/02/2024, hai bên vẫn không
thực hiện theo thỏa thuận nên xảy ra tranh chấp. Xét thấy nội dung thỏa thuận
cuối cùng của các bên là lựa chọn phương án 3: Công ty Đ2 thanh toán chi phí
xử lý tranh chấp của 1 MW hệ thống điện năng lượng mặt trời tại KCN V -
Singapore II mở rộng, Phường V thị xã T, Bình Dương cho Công ty Đ1.
- Số tiền quyết toán xử tranh chấp giá trị: 3,250,000.000VND (bằng
chữ: Ba tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng;
- Trường hợp Công ty Đ2 không thực hiện đúng cam kết theo nội dung kết
luận thống nhất:
+ Hai bên thống nhất đưa ra pháp luật xử lý tranh chấp;
+ Hoặc Công ty Đ2 phải trách nhiệm ch 1 MW Hệ thống điện năng
lượng mặt trời tại địa chỉ KCN V - S mở rộng, Phường V thị T, Bình Dương
cho Công ty Đ1”.
Như vậy khi Công ty Đ2 không thanh toán tiền, Công ty Đ1 đã khởi kiện
tranh chấp ra pháp luật nghĩa rằng Công ty Đ1 đã lựa chọn phương án pháp
luật xử tranh chấp, Công ty Đ1 khởi kiện Công ty Đ2 phải trách nhiệm
tách 1 MWp cho Công ty Đ1 là không đúng thỏa thuận. Xem xét thỏa thuận
phương án 3 thấy rằng: hai bên thống nhất Công ty Đ2 nghĩa vụ thanh toán
23
3.250.000.000 đồng cho Công ty Đ1 chậm nhất đến 31/3/2024 nhưng đến nay
Công ty Đ2 chưa thanh toán nên phải nghĩa vụ thanh toán số tiền
3.250.000.000 đồng và phải chịu lãi suất trên số tiền 3.250.000.000 đồng tính từ
ngày 01/4/2024. Hai bên thỏa thuận trường hợp chậm trả thì chịu lãi suất
9,6%/năm, lãi suất này thấp hơn lãi suất theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân
sự đồng thời nguyên đơn cũng đồng ý theo lãi suất này nên có cơ sở tính lãi suất
theo sự thỏa thuận của các bên tại thời điểm ký biên bản thỏa thuận. Từ ngày
01/4/2024 đến ngày xét xử thẩm 15/01/2026 01 (một) năm 09 (chín) tháng
14 (mười bốn) ngày. Do đó, số tiền lãi suất bị đơn nghĩa vụ thanh toán cho
nguyên đơn được xác định như sau 01 năm x 9,6% x 3.250.000.000 đồng + 09
tháng x 9,6%/12 tháng x 3.250.000.000 đồng + 14 x 9,6%/365 x 3.250.000.000
đồng = 312.000.000 + 234.000.000 đồng + 11.967.123 = 557.967.123 đồng.
Tổng cộng số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là 3.250.000.000 +
557.967.123 = 3.807.967.123 (ba tỷ tám trăm lẻ bảy triệu chín trăm sáu ơi
bảy nghìn một trăm hai mươi ba) đồng.
[2.2.4] Tòa cấp thẩm cho rằng Công ty Đ2 không yêu cầu Công ty
Đ1 thanh toán, trước khi khởi kiện, nguyên đơn không yêu cầu bị đơn thanh
toán nên thời điểm thanh toán lãi tính từ ngày khởi kiện chưa chính xác.
Trong trường hợp này Công ty Đ1 thống nhất thanh toán 3.250.000.000 đồng
theo mục 3 của Biên bản thỏa thuận ngày 28/02/2024 nhưng không thực hiện
theo thỏa thuận nên phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 01/4/2024 như đã phân
tích tại mục [2.2.3] mới phù hợp.
[2.2.5] Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn có một phần là có cơ sở, do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn phù hợp, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn nhưng không chứng cứ nào khác chứng minh nên
Hội đồng xét xử chỉ cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và
tính lại tiền lãi phát sinh từ ngày 01/4/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm trên số tiền
bị đơn phải trả 3.250.000.000 đồng với lãi suất 9,6%/năm. Đối với trình bày
của bị đơn về việc không đồng ý trả lãi cho nguyên đơn không phù hợp với
thỏa thuận của các bên, bị đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án không chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với stiền 15.000.000.000 đồng
cơ sở, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo
của bị đơn.
[3] Lời trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn và bị đơn là phù hợp một phần nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận một
phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị sửa bản án
thẩm là phù hợp.
[5] Về án pthẩm: Do số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn thay
đổi nên Hội đồng xét xử tính lại án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí đối với
24
phần yêu cầu không được chấp nhận 119.192.033 đồng, bị đơn phải chịu án phí
đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận 108.159.342 đồng.
[6] Về án phí phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty
TNHH MTV Đ1 và bị Công ty TNHH Đ4
Sửa một phần Bản án kinh doanh, thương mại thẩm số
04/2026/KDTM-ST ngày 15 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực
17 Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty
TNHH MTV Đ1 với bđơn Công ty TNHH Đ2 về việc “Tranh chấp hợp đồng
hợp tác đầu tư”.
Buộc Công ty TNHH Đ2 phải thanh toán cho Công ty TNHH MTV Đ1 số
tiền 3.807.967.123 đồng (ba tỷ m trăm lẻ bảy triệu chín trăm sáu mươi bảy
nghìn một trăm hai mươi ba đồng), gồm: số tiền đã thoả thuận thanh toán
3.250.000.000 đồng và tiền lãi 557.967.123 đồng (tính từ ngày 01/4/2024 đến
ngày 15/01/2026).
Kể từ ngày 16/01/2026, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành
án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
9,6%/ năm cho đến khi thi hành án xong.
1.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công
ty TNHH MTV Đ1 với bị đơn Công ty TNHH Đ2 về việc buộc bị đơn Công ty
TNHH Đ2 thanh toán cho Công ty TNHH MTV Đ1 số tiền 11.192.032.877
(mười một tỷ một trăm chín mươi hai triệu không trăm ba mươi hai nghìn tám
trăm bảy mươi bảy) đồng.
1.3. Về chi phí tố tụng: Công ty TNHH MTV Đ1 phải chịu 3.000.000
đồng (ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đã nộp đủ.
1.4. Về án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm:
- Buộc Công ty TNHH MTV Đ1 phải chịu 119.192.033 (một trăm mười
chín triệu một trăm chín mươi hai nghìn không trăm ba mươi ba) đồng. Được trừ
vào tiền tạm ứng án phí 59.000.000 đồng (năm mươi chín triệu đồng) đã nộp
theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005145 ngày 19/3/2025 tại
25
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên (nay Thi hành án dân sự
Thành phố H). Công ty TNHH MTV Đ1 n phải nộp 60.192.033 đồng (sáu
mươi triệu một trăm chín mươi hai nghìn không trăm ba mươi ba đồng).
- Buộc Công ty TNHH Đ2 phải chịu 108.159.342 (một trăm linh tám triệu
một trăm năm mươi chín nghìn ba trăm bốn mươi hai) đồng.
2. Án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Nguyên đơn Công ty
TNHH MTV Đ1 và bị đơn Công ty TNHH Đ2 không phải chịu.
2.1. Hoàn trả cho Công ty TNHH MTV Đ1 2.000.000 (hai triệu) đồng tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0009149 ngày 29/01/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Hoàn trả cho Công ty TNHH Đ2 phải chịu 2.000.000 (hai triệu) đồng
tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0010327 ngày 03/02/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 17 – Thành phố
Hồ Chí Minh;
- Tòa án nhân dân khu vực 17– Thành phố
Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Ngọc Mai
26
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 217/2026/KDTM-PT Bản án số 217/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 217/2026/KDTM-PT Bản án số 217/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất