Bản án số 94/2026/HS-PT ngày 22/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 94/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 94/2026/HS-PT ngày 22/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 94/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bùi Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 94/2026/HS-PT Bản án số 94/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 94/2026/HS-PT Bản án số 94/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
bà Hoàng Ngọc Liễu
Các Thẩm phán:
ông Nguyễn Mạnh Hùng
ông Nguyễn Quang Tuấn
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thúy Hằng - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: ông
Vũ Quốc Hùng - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 06 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số: 70/2026/TLPT-HS ngày
12 tháng 03 năm 2026 đối với bị cáo Bùi Thị H, do kháng cáo đối với Bản án
hình sự sơ thẩm số: 18/2026/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 15 - Phú Thọ.
- Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng nghị: BÙI THỊ H, sinh năm 1986. S
CCCD: ************. Nơi trú: Xóm T, M, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lao
động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nữ; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn S và bà Đinh Thị B; chồng là Đinh
Công U; có 02 con: con lớn nhất sinh năm 2008; con nhỏ nhất sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 04/11/2024 đến ngày 11/4/2025 được thay
thế biện pháp ngăn chặn sang bảo lĩnh; từ ngày 14/9/2025 đến nay bị áp dụng biện
pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Người bào chữa của Bị cáo: ông Bùi Quang N Trợ giúp viên pháp của
Chi nhánh số 02 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Th.
- Bị hại:Đinh Thị Minh T, sinh năm: 1970. Địa chỉ: Số C, tổ C, cụm A,
phường T, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện tại: số nhà A, ngách B, ngõ C T, phường
T, thành phố Hà Nội.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 94/2026/HS-PT
Ngày: 22 - 06 - 2026
2
(Tại phiên tòa, Bị cáo Trợ giúp viên pháp mặt. Bị hại Đinh Thị Minh
T đơn xin xét xvắng mặt. Ngoài ra, ván n những người có quyền lợi va
nghĩa vụ liên quan nhưng Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
V (Tên viết tắt tiếng Anh: MACDI) là tổ chức khoa học và công nghệ ngoài
công lập được thành lập ngày 16/03/2012 theo Quyết định số 173/QĐ-LHHVN
của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Đinh Thị Minh T được
bầu là Chủ tịch Hội đồng thành viên và được Đoàn Chủ T1 Hội đồng Trung ương
liên hiệp các Hội khoa học và kthuật Việt Nam bổ nhiệm quyền Viện trưởng theo
Quyết định số: 175/-LHHVN ngày 16/3/2012. Sau khi thành lập, MACDI
văn bản đề nghị được Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình (nay tỉnh Phú Thọ) tiếp
nhận 03 dự án: "Hỗ trợ phát triển kinh doanh sinh kế bền vững cho hộ nghèo
tại tỉnh Hòa Bình" (tên gọi khác dự án "Sinh kế bền vững dành cho phụ nữ nghèo
tại tỉnh Hòa Bình"), "Dự án hỗ trợ can thiệp toàn diện cho trẻ khuyết tật" và "Dự
án thúc đấy tài chính toàn diện vì phụ nữ dân tộc thiểu số", triển khai trên địa bàn
huyện T, tỉnh Hòa Bình cũ. Theo các văn kiện, nội dung, chương trình của 03 dự
án trên không hoạt động cho vay. Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai dự án,
Đinh Thị Minh T đã tự thành lập Quỹ Tài chính vi sự phát triển cộng
đồng, mục đích hoạt động cho người dân vay để phát triển kinh tế, lãi suất thu
được sẽ dùng vào việc chi trả các chi phí duy trì hoạt động của Quỹ và quay vòng
vốn cho vay. T đã tdùng tiền của nhân để triển khai song song với các
chương trình, dán được Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình chấp thuận, tiếp nhận.
Tổng số tiền Đinh Thị Minh T đưa vào Quỹ tài chính vi sự phát triển cộng
đồng để hoạt động cho vay là 1.385.545.000 đồng.
Bùi Thị H là nhân viên hợp đồng làm việc tại MACDI từ năm 2014
đến tháng 8/2018 thì chấm dứt Hợp đồng lao động. Công việc chính của Bùi Thị
H là tìm kiếm, tư vấn cho khách hàng, thẩm định hồ sơ cho vay vốn, đôn đốc thu
hồi công nợ, báo cáo kết quả theo quy định. Trong đó, H trách nhiệm báo cáo
số tiền thu nợ trong tuần, số nợ của khách hàng vay nộp đầy đsố tiền đã
thu nợ vào tài khoản tiền gửi số 1506201019268 do Đinh Thị Minh T mở với
tên chủ tài khoản tổ chức MACDI tại Ngân hàng N1, Chi nhánh T2, Nội.
Trong quá trình thực hiện, từ năm 2014 đến tháng 8/2018 Bùi Thị H đã viện vào
các lí do như mất mùa, người dân làm bùa chài... nhiều lần báo cáo gian dối về số
tiền thu nợ thấp hơn số tiền thu được thực tế của khách hàng vay tại địa bàn các
3
M, T, P, huyện T, tỉnh Hòa Bình (nay là các xã M và M, tỉnh Phú Thọ) để giữ lại
một phần số tiền thu được từ khách hàng để sử dụng chi tiêu nhân. Đến tháng
8/2018, khi tổ chức MACDI phát hiện về hành vi chiếm đoạt tài sản của Bùi Thị
H, yêu cầu H trả lại số tiền đã chiếm đoạt nhưng H không thực hiện nên tổ chức
MACDI đã đơn trình báo đến Công an huyện T, tỉnh Hòa Bình (nay ng an
tỉnh PThọ). Quá trình điều tra đã xác định tổng số tiền Bùi Thị H đã chiếm đoạt
của nhân Đinh Thị Minh T với số tiền 271.753.000 đồng, không phải
chiếm đoạt của tổ chức MACDI.
Bản án hình ssơ thẩm số: 18/2026/HS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ quyết định: Căn c khoản 3 Điều 175; điểm b, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 khoản 1 Điều 54 của Bluật Hình sự. Tuyên
bố bị cáo Bùi Thị H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Xử phạt: bị
cáo Bùi Thị H 04 (bốn) năm tù. Ngoài ra, Bản án hình sthẩm còn tuyên về
trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 13/02/2026, bị cáo Bùi Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày
13/3/2026, Bị cáo bổ sung kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án
treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt và cho hưởng án treo Bị cáo lao động chính trong gia đình, con đang
trong độ tuổi cần chăm sóc, đã thanh toán toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho Bị hại,
được chính quyền địa phương xác nhận ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành chủ
trương, chính sách pháp luật của Nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công
dân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm: Về thời
hạn kháng cáo và thủ tục thực hiện quyền kháng cáo của Bị cáo đã được thực hiện
trong thời hạn đúng hình thức theo quy định. Về nội dung, Tòa án nhân dân khu
vực 15 - Phú Thọ xét xử bị cáo Bùi Thị H về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản và xử phạt 4 năm theo quy định tại khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự là căn cứ, đúng người, đúng
tội, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm
tội do Bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm, Bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự mới như Bị cáo đã trả nốt số tiền 51.753.000 đồng chiếm
đoạt còn lại cho B1 hại, Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và cho Bị cáo được
hưởng án treo, bố Bị cáo được Ủy ban nhân dân tặng Giấy khen do thành tích
trong phong trào sản xuất kinh doanh giỏi, Bị cáo lao động chính trong gia đình,
con đang trong độ tuổi cần chăm sóc, được chính quyền địa phương xác nhận chấp
hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa
4
vụ công dân nơi cư trú. Xét thấy, Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện để cho
hưởng án treo. Đnghị Hội đồng xét xcăn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm
e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi
Thị H, sửa án hình sự thẩm số: 18/2026/HS-ST ngày 06/02/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ theo hướng giảm mức hình phạt tù xuống còn 03
năm cho Bị o được hưởng án treo. Thời gian thử thách 5 năm kể từ ngày
tuyên án phúc thẩm. Về án phí: bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Người bào chữa cho Bcáo, Trợ giúp viên pháp Bùi Quang N: Nhất trí
với các căn cứ của Kiểm sát viên đề nghị về việc chấp nhận kháng cáo xin giảm
hình phạt và cho Bị cáo được hưởng án treo.
Khi nói lời sau cùng, Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xxem xét cho Bị cáo
được giảm hình phạt cho hưởng án treo, để có thể nhà chăm sóc con cái
gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên sở nội dung vụ án, n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng,
quan tiến hành tố tụng, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ
thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thẩm, phúc thẩm, Bị cáo không
ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng, Người bào chữa. Do đó hành vi, quyết định tố tụng
của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, Người bào chữa hợp
pháp.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, Bị cáo đơn kháng cáo Bản án hình sự
thẩm. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, kháng cáo trong hạn luật định,
hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.3] Tại phiên tòa, Bị cáo và Người bào chữa có mặt. Bà Đinh Thị Minh T
đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án nhân
dân tỉnh Phú Thọ vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H một lần nữa đã thừa nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Từ khoảng năm 2014 đến tháng 8/2018, lợi
dụng vào việc được Đinh Thị Minh T Hợp đồng lao động, phân công giao
5
thu tiền nợ của các hộ dân và có trách nhiệm chuyển trả bà Đinh Thị Minh T. Tuy
nhiên sau khi thu được tiền nợ từ các hộ dân, Bị cáo đã báo cáo gian dối, giao nộp
số tiền thấp hơn số tiền thực tế đã thu, mục đích để sử dụng chi tiêu nhân, khi
sự việc bphát hiện Bị cáo không có tiền để trả T. Kết quả điều tra xác định, Bị
cáo đã chiếm đoạt tài sản của nhân Đinh Thị Minh T với tổng số tiền
271.753.000 đồng, số tiền này không phải tiền của tổ chức MACDI. Do đó, hành
vi của Bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo
quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Lời khai của Bị cáo phù hợp với
lời khai của Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vliên quan, cùng toàn btài liệu
có trong hồ sơ vụ án. Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ đã xét xử bị cáo Bùi
Thị H về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản căn cứ, đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật.
[2.2] Xét kháng cáo của Bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng
án treo, Hội đồng xét xxét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá nhân thân và áp
dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Bị cáo nBị o đã thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, tích cực khắc phục hậu
quả, Bị cáo người dân tộc thiểu số, sinh sống vùng đặc biệt khó khăn, năm
2016 được Chủ tịch y ban nhân dân P tặng Giấy khen là các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
Hình sự. Do Bị cáo có nhiều tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định
tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản
1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Bùi Thị H 04 (bốn) năm tù là phù hợp
với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi mà Bị cáo gây ra.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự mới như Bị cáo đã bồi thường số tiền chiếm đoạt còn lại
51.753.000 đồng cho bị hại T, Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và cho Bị cáo
được hưởng án treo, Bị cáo lao động chính trong gia đình, con đang trong độ
tuổi cần sự chăm sóc, bố ông Bùi Văn S thành tích trong công tác Hội
Nông dân trong phong trào sản xuất kinh doanh giỏi các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bluật Hình sự. Xét Bị
cáo không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhiều tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
Hình sự, Bị cáo nơi trú ràng, được chính quyền địa phương xác nhận về
việc chấp hành tốt chính sách, pháp luật địa phương thực hiện đầy đủ các
nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Để đảm bảo chính sách nhân đạo, khoan hồng
của Nhà nước, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, sửa án hình sự sơ thẩm theo
6
hướng giảm mức hình phạt xuống còn 03 năm tù và cho hưởng án treo. Thời gian
thử thách là 05 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
[ 2.3] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thanh toán số tiền chiếm đoạt còn
lại 51.753.000 đồng cho T. Xác nhận Bị cáo đã bồi thường xong số tiền đã
chiếm đoạt cho bị hại T.
[2.4] Các quyết định khác ca Bn án hình sự thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị, hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2.5] Về án phí phúc thẩm: Do bản án hình sự sơ thẩm bị sửa nên bị cáo H
không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số:
18/2026/HS-ST ngày 06/2/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ theo
hướng giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, cụ thể:
1.1. Căn c khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1
Điều 54; Điều 38 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Bùi Thị H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Xử phạt: bị cáo Bùi Thị H 03 (Ba) năm nhưng cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách là 05 (Năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Bùi Thị H cho Ủy ban nhân dân M, tỉnh Phú Thọ giám sát,
giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Bùi Thị H có trách nhiệm phối
hợp với Ủy ban nhân dân M, tỉnh PThọ trong việc giám sát, giáo dục Bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi trú thì thực hiện theo
quy định tại Điều 87 Luật hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp thực
hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của
bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56
Bộ luật Hình sự.
1.2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự
Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự.
7
Bị cáo Bùi Thị H đã bồi thường số tiền 51.753.000 đồng cho bà Đinh Thị
Minh T theo Bản án hình sự thẩm số: 18/2026/HS - ST ngày 06/2/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ.
Xác nhận bị cáo Bùi Thị H đã bồi thường xong toàn bộ stiền đã chiếm
đoạt cho bà Đinh Thị Minh T.
2. Các quyết định khác của Bản án hình sự thẩm không kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản
lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Thị H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
4. Bản án hình sự phúc thẩm hiệu lực pháp luật ktừ ngày tuyên án
(22/6/2026)./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- PC10 và PC03 - CA tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 15 - Phú Thọ;
- VKSND khu vực 15 - Phú Thọ;
- P. THADS khu vực 15 - Phú Thọ;
- UBND xã Mường Hoa, tỉnh Phú Thọ;
- Bị cáo; Bị hại;
- Lưu HCTH và hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Hoàng Ngọc Liễu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 94/2026/HS-PT Bản án số 94/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 94/2026/HS-PT Bản án số 94/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất