Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 25/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 34/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 25/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ |
| Số hiệu: | 34/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ly hôn, tranh chấp về con chung |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC Y-PHÚ THỌ
Bản án số: 34/2025/HNGĐ- ST
Ngày 25 tháng 9 năm 2025
V/v Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC Y – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành và bà Trần Thị Kim Khuyên.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực Y-
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực Y-Phú Thọ tham gia phiên toà:
Bà Khổng Thị Phú Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực Y- Phú Thọ
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2025/TLST- HNGĐ ngày 14
tháng 7 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025 giữa các
đương sự:
1.Nguyên đơn: Anh HXK, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn GG, xã TH, tỉnh Phú Thọ.
2, Bị đơn: Chị TTH, sinh năm 1981 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn GG, xã TH, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 03/7/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa nguyên đơn anh HXK trình bày:
Anh kết hôn với chị TTH ngày 16/10/2002. Trước khi kết hôn có được tự do
tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TH, huyện Lập
Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã TH, tỉnh Phú Thọ). Sau khi cưới chị H về làm
dâu và ở chung cùng gia đình anh. Tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến
tháng 4/2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H không tôn trọng
anh, bôi nhọ danh dự, vu khống anh đánh chị nhưng anh không đánh. Đến nay anh
K xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn
chị TTH.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là HTAT, sinh ngày 20/12/2004;
HVT, sinh ngày 16/01/2007 và HGA, sinh ngày 13/11/2019, cháu Tuyết đã lấy
chồng có gia đình riêng, cháu Thực và cháu Anh đang ở cùng chị H. Ly hôn anh
K xin nuôi cháu HGA, anh K không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con, đối
với cháu Tuyết và cháu Thực đã trưởng thành anh không đề nghị gì.
2
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Anh K không
đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị TTH trình bày: Về thời gian kết hôn quá trình chung sống như
anh K trình bày là đúng. Còn nguyên nhân mâu thuẫn là do khoảng đầu năm 2025
anh K đi làm ăn tại thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận nên ít khi về nhà, theo
chị là anh K có quan hệ bất chính bên ngoài nên về nhà bỏ vợ con, vì trước đó
anh rất quan tâm, yêu thương vợ con, từ khi đi làm bên ngoài anh không quan
tâm đến vợ con nữa, hàng tháng cũng ít mang tiền về cho vợ con so với trước
đây. Chị nghe anh em đi làm cùng anh K nói anh có quan hệ với người phụ nữ
sinh khoảng năm 1977 và thường xuyên qua lại. Từ đó anh K về lạnh nhạt với
chị, thường xuyên gây áp lực bắt chị phải ly hôn. Đến nay chị xác định tình cảm
vợ chồng không còn anh K xin ly hôn chị đồng ý. Mặc dù quá trình giải quyết vụ
án chị xin đoàn tụ. Tòa án giải thích nhưng chị khẳng định việc đồng ý ly hôn tại
phiên tòa hôm nay là tự nguyện, không bị ai ép buộc do chị không chịu nổi thái
độ của anh K đối với chị nên chị đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là HTAT, sinh ngày 20/12/2004;
HVT, sinh ngày 16/01/2007 và HGA, sinh ngày 13/11/2019, hiện nay cháu Thực,
cháu Anh đang ở cùng chị, cháu Tuyết đã đi lấy chồng. Ly hôn chị đề nghị được
tiếp tục nuôi cháu HGA, chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con, cháu
Thực đã trưởng thành chị không đề nghị gì.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị H không
đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa cháu HTAT trình bày:
Bố mẹ cháu mâu thuẫn như thế nào thì
cháu không biết, nhưng bố mẹ cháu hòa thuận hạnh phúc khoảng khoảng 23 năm.
Tháng 9/2024 cháu đi lấy chồng khi đó bố mẹ cháu chưa mâu thuẫn, thời gian gần
đây cháu mới thấy bố mẹ cháu cãi nhau, bố cháu thì đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới
về nhà. Nguyện vọng của cháu chỉ mong muốn bố mẹ cháu đoàn tụ, còn việc đoàn
tụ được hay không là do bố mẹ cháu quyết định.
Tại phiên tòa cháu HVT trình bày: Bố mẹ cháu mâu thuẫn như thế nào thì
cháu không biết nhưng bố mẹ cháu hòa thuận hanh phúc khoảng khoảng 23 năm,
thời gian gần đây cháu mới thấy bố mẹ cháu cãi nhau, bố cháu thì đi làm ăn xa từ
sau tết âm lịch, bố cháu làm nghề lái xe công chở gạch, thỉnh thoảng mới về nhà,
gần đây bố cháu về nhà không nói chuyện gì với mẹ cháu, hiện nay cháu đã nghỉ
học và làm nghề sữa chữa xe máy ở gần nhà, thu nhập bình quân khoảng 5.000.000
đồng/tháng. Hiện nay cháu và em HGA đang ở cùng mẹ cháu tại nhà của bố mẹ
cháu. Nguyện vọng của cháu chỉ mong muốn bố mẹ cháu đoàn tụ, còn việc đoàn tụ
được hay không là do bố mẹ cháu quyết định. Nếu bố mẹ cháu mà ly hôn, cháu
không có nguyện vọng ở với ai vì cháu đã đủ 18 tuổi có thể lao động tự túc được.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực Y- Phú Thọ phát
biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Quá trình giải
3
quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy
định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ.
Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thuận tình ly hôn của
anh K, chị H. Về con chung chấp nhận đề nghị xin nuôi con của chị H. Về án phí
anh K, chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công
khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Anh HXK
khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với chị TTH, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã
TH, tỉnh Phú Thọ. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân Khu vực Y- Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều
28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
[2] Về pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án: Ngày 03/7/2025 anh HXK có
đơn xin ly hôn Chị TTH. Vì vậy pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án là Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về nội dung vụ án: Cuộc hôn nhân giữa anh HXK và chị TTH là tự
nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tiến bộ. Về tình cảm:
Sau khi kết hôn chị H, anh K có thời gian dài hòa thuận, hạnh phúc. Quá trình vợ
chồng chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo anh K là do chị H
không tôn trọng anh, bôi nhọ danh dự, vu khống anh đánh chị nhưng anh không
đánh. Theo chị H nguyên nhân mâu thuẫn là do khoảng đầu năm 2025 anh K đi
làm ăn tại thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận nên ít khi về nhà, theo chị là anh
K có quan hệ bất chính bên ngoài nên về nhà bỏ vợ con, vì trước đó anh rất quan
tâm, yêu thương vợ con, từ khi đi làm bên ngoài anh không quan tâm đến vợ con
nữa, hàng tháng cũng ít mang tiền về cho vợ con so với trước đây. Chị nghe anh
em đi làm cùng anh K nói anh có quan hệ với người phụ nữ sinh khoảng năm
1977 và thường xuyên qua lại. Từ đó anh về lạnh nhạt với chị, thường xuyên gây
áp lực bắt chị phải ly hôn. Tại phiên tòa chị H đồng ý ly hôn, mặc dù đã được Hội
đồng xét xử giải thích nhưng chị vẫn đồng ý ly hôn và khẳng định việc đồng ý ly
hôn là tự nguyện không bị ai ép buộc. Như vậy thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã
trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận
việc thuận tình ly hôn tại phiên tòa của anh K và chị H.
Về con chung: Xét đề nghị xin được nuôi con của anh K và chị H, Hội đồng
xét xử thấy rằng cháu HGA còn nhỏ và hiện đang ở cùng chị H, anh K thì thường
xuyên đi làm vắng nhà, mặt khác sau khi ly hôn thì phải ưu tiên xem xét nguyện
vọng của người phụ nữ do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con
của chị H, giao cho chị H được tiếp tục nuôi cháu
HGA, sinh ngày 13/11/2019,
cho đến khi cháu trưởng thành, chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nên Hội
đồng xét xử không xem xét. Do vậy đề nghị xin nuôi con đối với cháu HGA của
anh K không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
4
Về tài sản chung, công nợ, công sức lao đông: Anh K, chị H không đề nghị
Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Anh HXK xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm nên Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[5] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn
cứ, được xem xét khi quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều, 57, 58, 81, 82, 83 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuân tình ly hôn giữa anh HXK và chị TTH.
2. Về con chung: Giao cho chị TTH trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục cháu
HGA, sinh ngày 13/11/2019
cho đến khi thành niên đủ 18 tuổi lao
động tự túc được
, (hiện nay cháu Anh đang ở cùng chị H).
Anh K không phải cấp
dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và
nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Anh K, chị H
không đề nghị Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Anh HXK tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và
gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000
đồng theo biên lai ký hiệu: BLTU/25E số 0000222 ngày 14/7/2025 của Thi hành
án dân sự tỉnh Phú Thọ. Anh K đã nộp đủ tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án anh K, chị H
có mặt có quyền kháng cáo bản án.
Nơi nhận:
- Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực Y- Phú Thọ;
- Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ;
- Các đương sự (để thi hành);
- UBND xã TH (để vào sổ hộ tịch);
- Lưu hồ sơ, Văn phòng.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Công Sinh
5
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Trung Thành – Trần Thị Kim Khuyên Nguyễn Công Sinh
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Hợp Lý: Việc kết hôn giữa chị Lan và anh
Đức được Ủy ban nhân dân xã Hợp Lý đăng ký kết hôn ngày 27/10/2021, sau ngày
cưới chị Lan về làm dâu gia đình anh Đức, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận.
Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, vợ
15
chồng thường xuyên xẩy ra va chạm, hiện nay không thấy chị Lan ở gia đình anh
Đức. Anh Đức hiện nay vẫn sinh sống và làm việc tại thôn Tân Lập, xã Hợp Lý.
Nay chị Lan xin ly hôn anh Đức đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
16
17
18
19
20
21
22
23
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Bản án số 45/2025/HNGĐ-PT ngày 25/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm