Bản án số 33/2026/HNGĐ-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh An Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 33/2026/HNGĐ-PT ngày 14/08/2026 của TAND tỉnh An Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 33/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Các đương sự không thể hàn gắn nên yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con và đề nghị chia tài sản chung của vợ chồng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 33/2026/HNGĐ-PT Bản án số 33/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 33/2026/HNGĐ-PT Bản án số 33/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 33/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 14-8-2026
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung,
chia tài sản khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thúy
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Châu và ông Nguyễn Hoàng Thám
- Thư phiên tòa: Trương Phan Yến Ngọc - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Bà Nguyễn Mỹ Duyên-
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026 tại trsở a án nhân dân tỉnh An Giang xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 46/2025/TLPT-HNGĐ ngày 14 tháng 11
năm 2025, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 183/2025/HN-ST ngày 30
tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 12-An Giang, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thẩm số: 42/2025/QĐXXPT-
HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Phạm Thị Trúc P, sinh năm 1981 (Có mặt)
Căn cước công dân số ************; địa chỉ: số nhà G, tổ B, ấp P, xã P, tỉnh
An Giang.
+ Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về phần tài sản: Ông
Nguyễn Quốc V, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp P, xã P, tỉnh An Giang đại diện theo
giấy uỷ quyền ngày 14/8/2025 (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Ngô Văn S, sinh năm 1976 (Có mặt)
Căn cước công dân; số ************; địa chỉ: số nhà G, tổ B, ấp P, P,
tỉnh An Giang.
+ Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn về phần tài sản: Bà Bùi Trần Phú
T, sinh năm 1976. Địa chỉ: p M, P, tỉnh An Giang. Nơi hiện nay: Số G
2
đường H, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang đại diện theo Giấy y quyền được
văn phòng C số 6482/2025/CCGD ngày 10/11/2025 (Có mt)
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Thành D, sinh m
1984; địa chỉ: p P, xã P, tỉnh An Giang (Có đơn xin vắng mặt)
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Ngô Văn S
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:
* Nguyên đơn Phạm Thị Trúc P trình bày: Phạm Thị Trúc P ông
Ngô Văn S tự tìm hiểu tiến đến hôn nhân, không tổ chức lễ cưới, đăng
kết hôn theo quy định của pháp luật năm 2004. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm
2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, không
quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Ngoài ra, ông S người phụ nữ khác nên P
ông S không chung sống từ tháng 8/2021 đến nay, nhận thấy giữa vợ chồng xảy ra
mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. vậy, bà Phạm
Thị Trúc P yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Văn S.
Về con chung: 02 con chung tên Ngô Thành H, sinh ngày 22/6/2004
(trưởng thành) Ngô Quốc M, sinh ngày 16/10/2012, hiện bà P nuôi dưỡng. Khi
ly hôn, P yêu cầu nuôi con chung Ngô Quốc M, không yêu cầu ông S cấp
dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Trong quá trình sống chung vợ chồng tạo lập được khối tài
sản như sau:
- Diện tích 7.131m², thửa số 27, tờ bản đồ 35, loại đất chuyên trồng lúa nước
toạ lạc P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh A cấp cho ông
Ngô Văn S đứng tên.
- Diện tích 6.679m², thửa số 837, tbản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa
nước toạ lạc P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh A cấp cho
ông Ngô Văn S đứng tên ngày 17/12/2020.
- Diện ch 4.121m², thửa s1191, tờ bản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa
nước toạ lạc P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh A cấp cho
P và S đứng tên vào ngày 16/7/2018.
- Diện tích 716m², thửa số 5, tờ bản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa nước toạ
lạc xã P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp cho ông S với
bà P đứng tên vào ngày 23/6/2016.
- Diện tích 595m², thửa số 6, tờ bản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa nước toạ
lạc xã P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp cho ông S với
P đứng tên vào ngày 23/6/2016, trên đất căn nhà cấp IV nền lát gạch bông,
mái lợp tole, diện tích ngang 7m x dài 18m = 126m
2
.
3
P yêu cầu chia ½ giá trị tài sản chung gồm: diện tích 4.121m², thửa số
1191, tờ bản đồ 50; diện tích 716m², thửa số 5, tờ bản đồ 50; diện tích 595m², thửa
số 6, tờ bản đồ 50 căn nhà cấp IV nền lát gạch bông, mái lợp tole, diện tích
ngang 7m x dài 18m= 126m
2
, theo chứng thư thẩm định giá.
- Về nợ chung: Xác nhận vợ chồng nợ chung 200.000.000 đồng, P
thống nhất hoàn trả cho ông S số tiền là 100.000.000 đồng.
Ngày 04/8/2025, P rút một phần yêu cầu chia tài sản chung với ông Ngô
Văn S diện tích đất 7.131m², thửa số 27, tờ bản đồ 35 diện ch 6.679m², thửa
số 837, tờ bản đồ 50, do ông Ngô Văn S đứng tên.
* Bị đơn ông Ngô Văn S trong qtrình Toà án mở phiên họp, tiếp cận công
khai chứng cứ hgiải vắng mặt, tại phiên toà ông Ngô Văn S có mặt trình
y:
Về hôn nhân: Ông S thống nhất thuận tình ly hôn với bà P.
Về con chung: 02 con chung tên Ngô Thành H, sinh ngày 22/6/2004
(trưởng thành) Ngô Quốc M, sinh ngày 16/10/2012, ông S thống nhất giao con
chung Ngô Quốc M cho P tiếp tục nuôi dưỡng, ông S không cấp dưỡng nuôi
con.
Về tài sản chung: Không đồng ý với nội dung khởi kiện của bà P
- Diện tích 7.131m², thửa số 27, tờ bản đồ 35, loại đất chuyên trồng lúa nước
toạ lạc P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp cho ông S
đứng tên ngày 07/4/2020 tài sản riêng (khi nhận chuyển nhượng từ Thị
Mỹ Đ vào ngày 09/3/2020 P văn bản cam kết về tài sản riêng của ông S
đã được Văn phòng C1 chứng nhận).
- Diện tích 6.679m², thửa số 837, tờ bản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa nước
toạ lạc P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp cho ông S
đứng tên ngày 17/12/2020 tài sản riêng (khi nhận chuyển nhượng từ ông Chung
Văn H1 và bà Lâm Thị Ngọc M1 vào ngày 25/11/2020 thì bà P có văn bản cam kết
về tài sản riêng của ông S và đã được Văn phòng C1 chứng nhận).
- Diện tích 4.121m², thửa số 1191, tờ bản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa
nước toạ lạc P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh A cấp cho
ông S với bà P đứng tên vào ngày 16/7/2018.
- Diện tích 716m², thửa số 5, tờ bản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa nước toạ
lạc xã P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp cho ông S với
bà P đứng tên vào ngày 23/6/2016.
- Diện tích 595m², thửa số 6, tờ bản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa nước toạ
lạc xã P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp cho ông S với
bà P đứng tên vào ngày 23/6/2016. Phần đất này ông S với bà P đã chuyển nhượng
cho Hợp tác P1 nên không còn. Đối với căn nhà cấp IV trên đất, khi mẹ ông S
còn sống cho vợ chồng xây nhà cho vợ chồng ông S. vậy, căn nhà cấp
IV này không phải là tài sản chung của vợ chồng nên không đồng ý chia.
4
Đối với, 03 diện tích đất do ông S P đứng tên quyền sử dụng đất nêu
trên tài sản của ông S trước khi kết hôn với P. Tuy nhiên, đến khi cấp đổi
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì P và ông S đứng tên chung trong 03
quyền sử dụng đất gồm: CS02518; CS02519; CS03478. Do đó, P không
đóng góp trong khối tài sản chung này. Nên, khi chia tài sản chung ông S yêu
cầu Toà án xem xét công sức đóng góp, cho ông S được hưởng 80%, bà P hưởng
20%.
Vào ngày 10/02/2025, ông S phản tố về nchung: Năm 2021, vợ chồng
vay tiền của Ngân hàng S2 chi nhánh P2 là 200.000.000 đồng. Sau đó, ông S đã tất
toán nợ cho Ngân hàng, nên ông S yêu cầu bà Phạm Thị Trúc P nghĩa vhoàn
trả cho ông S số tiền 100.000.000 đồng.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Thành D ý kiến trình
bày ngày 18/3/2025, thể hiện nội dung: Diện tích đất chuyên trồng a nước
6.679m², thửa số 837, tờ bản đồ 50; diện tích 4.121m², thửa số 1191, tờ bản đồ 50,
và diện tích 716m², thửa số 5, tờ bản đồ 50, hiện nay do ông D người quản lý s
dụng, ông D đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sẽ cung cấp thông
tin cho Toà án.
Tại Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 183/2025/HNGĐ-ST ngày 30
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - An Giang, đã quyết định:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung của bà Phạm Thị
Trúc P với ông Ngô Văn S về diện tích đất 7.131m², thửa số 27, tờ bản đồ 35
diện tích 6.679m², thửa số 837, tờ bản đồ 50, quyền sử dụng đất do ông Ngô Văn
S đứng tên.
2. Công nhận thuận tình ly hôn giữa Phạm Thị Trúc P với ông Ngô Văn S.
3. Về con chung: 02 con chung tên Ngô Thành H, sinh ngày 22/6/2004
(trưởng thành) Ngô Quốc M, sinh ngày 16/10/2012. Giao con chung Ngô Quốc
M cho bà P được nuôi dưỡng, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung: Ông Ngô Văn S được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng 03
diện tích gồm: diện tích 4.121m², thửa số 1191, tờ bản đồ 50 theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu n tài sản khác gắn liền với đất số
CS03478 ngày 16/7/2018; diện tích 716m², thửa số 5, tờ bản đ 50 theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với
đất số CS02519, ngày 23/6/2016; diện tích 595m², thửa số 6, tờ bản đồ 50 theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất số CS02518, ngày 23/6/2016, và căn nhà cấp 4 gắn liền với đất, kết cấu
nền lát gạch bông, mái lợp tole, tổng diện tích 126m
2
, nhà đất toạ lạc xã P, tỉnh An
Giang.
Ông Ngô Văn S nghĩa vụ hoàn trả cho Phạm Thị Trúc P giá trị phần
chênh lệch về tài sản chung được chia 611.331.700 đồng (Sáu trăm mười một
triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm đồng).
5
Các đương sự nghĩa vụ liên hệ với quan Nhà nước thẩm quyền để
đăng ký kê khai lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
5. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Ngô Văn S đối với Phạm Thị Trúc
P về số tiền 100.000.000 đồng.
Buộc Phạm Thị Trúc P nghĩa vụ trả cho ông Ngô Văn S số tiền
100.000.000 (Một trăm triệu) đồng.
6. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Kể từ ngày quyết định hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi nh án quyền chđộng ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân snăm
2015.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, quyền kháng cáo,
quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 01/10/2025, ông Ngô Văn S có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm xét xử lại toàn bộ Bản án hôn nhân gia đình thẩm số:
183/2025/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12
- An Giang.
* Tại phiên tòa:
+ Bùi Trần Phú T người đại diện theo ủy quyền về phần tài sản của
ông Ngô Văn S ý kiến tranh luận: Tại phiên tòa hôm nay bà P đã rút lại không
còn yêu cầu đối với diện tích đất 595m², thửa số 6, tờ bản đồ 50 hiện nay đã
chuyển nhượng cho Hợp tác không còn tài sản chung của ông S, P thì
ông S đồng ý. Đề nghị, Hội đồng t xử phúc xem xét chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của ông Ngô Văn S đối với phần tài sản chung diện tích 4.121m², thửa số
1191, tờ bản đồ 50 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CS03478 ngày 16/7/2018; diện ch 716m²,
thửa số 5, tờ bản đ50 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS02519, ngày 23/6/2016 và căn nhà
cấu trúc nền lát gạch bông, mái lợp tole nằm trên diện tích đất của ông Ngô Văn
L theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00602/nC cấp ngày 30/11/1994 (giấy
chứng nhận biến động ngày 24/9/2020). Nguồn gốc đất được cha mẹ ruột của ông
S cho riêng ông S đứng tên sau đó điều chỉnh biến động mới thay đổi tên P,
ông S cùng đứng n. Đối với căn nhà là do Đ1 mruột ông S cất cho vợ
chồng ông S, bà P khi mới cưới về ở, xét nguồn gốc hình thành tài sản đều do gia
6
đình của ông S tặng cho nên tính công sức tạo lập tài sản của ông S. Đề nghị
xem xét sửa bản án thẩm theo hướng chia cho ông S được nhận 70% P
nhận 30% giá trị tài sản. Ông S đề nghị nhận hiện vật và đồng ý hòan 30% giá trị
tài sản cho P theo giá tại Chứng thư thẩm định giá.
+ Ông Ngô Văn S thống nhất với ý kiến trình bày của người đại diện theo ủy
quyền về phần tài sản, ông không có ý kiến tranh luận.
+ Ông Nguyễn Quốc V người đại diện theo ủy quyền về phần tài sản của
Phạm Thị Trúc P ý kiến tranh luận: Tại phiên tòa, P xác định không còn
tranh chấp và xin rút lại yêu cầu chia đối với diện tích đất 595m², thửa số 6, tờ bản
đồ 50 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số CS02518, do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh A cấp
ngày 23/6/2016, vị trí khu đất toạ lạc xã P, tỉnh An Giang. P không đồng ý yêu
cầu kháng cáo của ông S đề nghị chia cho ông S nhận 70% P nhận 30% giá
trị tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp
luật, ông S P cùng đứng tên trên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
thời gian sống chung hơn 20 năm nên xem xét công sức của bà P, để chia cho bà P
được nhận 50% đối với giá trị tài sản chung diện tích đất 4.121m²; diện tích đất
716m² và căn nhà.
+ Phạm Thị Trúc P đồng ý với ý kiến trình bày của người đại diện theo
ủy quyền, bà không có ý kiến khác.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng
xét xử, Thư phiên tòa đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ Luật tố tụng dân
sự từ khi thụ vụ án đến khi xét xử. Các đương sự cũng đã chấp hành đúng các
quy định của pháp luật về tố tụng.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị, Hội đồng xét xáp dụng khoản 2
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần yêu cầu kháng
cáo của bị đơn ông N Văn S. Sửa Bản án hôn nhân gia đình thẩm số
183/2025/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 -
An Giang:
Chia tài sản chung 4.121m², thửa số 1191, tờ bản đồ 50 theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu n tài sản khác gắn liền với đất số
CS03478 ngày 16/7/2018; diện tích 716m², thửa số 5, tờ bản đ 50 theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với
đất số CS02519, ngày 23/6/2016 01 căn nhà cấu trúc nền nóng xây gạch +
sàn cột tông cốt thép, nền lát gạch men, vách tường, mái tole mái che phía
trước căn nhà cấu trúc khung gtạp, mái tole nền lát gạch men, chia cho P
và ông S mỗi người được nhận 50% giá trị tài sản; Giao toàn bộ tài sản chung cho
ông S được nhận bằng hiện vật ông S trách nhiệm hoàn lại 50% giá trị tài
7
sản cho P. Ông S được quyền thực hiện các thủ tục khai đăng điều chỉnh
các thông tin biến động đối với tài sản.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị Trúc P
đối với diện tích đất 595m², thửa số 6, tờ bản đồ 50 theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu ntài sản khác gắn liền với đất số CS02518, do
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh A cấp ngày 23/6/2016 do bà P đã rút lại một
phần yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa phúc thẩm.
Các phần khác của bản án thẩm giữ nguyên các đương sự phải nộp án
phí và chi phí tố tụng theo quy định
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thtục tố tụng: Bị đơn ông Ngô Văn S làm đơn kháng cáo trong hạn
luật định đóng tạm ứng án phí đầy đủ nên được Hội đồng xét xử giải quyết
theo trình tự phúc thẩm theo Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.1] Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn D1 đơn yêu
cầu xét xvắng mặt, yêu cầu xét xử vắng mặt của ông D1 phù hợp theo quy định
nên Hội đồng xét xử phúc căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng n sự năm
2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Ngô Văn D1.
[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn Phạm Thị Trúc P xác định không còn
tranh chấp và xin rút lại yêu cầu chia đối với diện tích đất 595m², vị trí khu đất toạ
lạc P, tỉnh An Giang ông S thống nhất với nội dung P rút lại một phần
yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với diện tích đất
595m², thửa số 6, tờ bản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa nước theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu ntài sản khác gắn liền với đất số
CS02518, do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh A cấp ngày 23/6/2016, vị trí đất
toạ lạc xã P, tỉnh An Giang
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Ngô Văn S, Hội đồng xét xử phúc
thẩm xét thấy:
[2.1] Giữa ông Ngô Văn S, Phạm Thị Trúc P thống nhất về quan hệ hôn
nhân, thời gian kết hôn, ông S P đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã
P, huyện P, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 149/2004, ngày
31/5/2004. Thời gian phát sinh mâu thuẫn, các bên không thể hàn gắn mâu thuẫn,
cả ông S, bà P đều thống nhất đề nghị giải quyết cho ly hôn.
[2.2] Về con chung: Ông S P thống nhất trình bày có 02 con chung tên
Ngô Thành H, sinh ngày 22/6/2004 (trưởng thành) Ngô Quốc M, sinh ngày
16/10/2012. Sau khi ly hôn ông S, P thống nhất việc chăm sóc nuôi dưỡng con
chung
[2.3] Về nchung trong thời kỳ hôn nhân ông S, P đều trình bày thống
nhất có nợ chung cũng như đồng ý các bên sẽ tự chịu ½ số nợ và thống nhất số nợ
8
do ông S đã thanh toán cho ngân hàng nên P trách nhiệm hoàn trả lại tiền
cho ông S.
[2.4] Đối với nội dung về quan hệ hôn nhân, con chung, nợ chung các đương
sự thống nhất không kháng cáo nên đối với hôn nhân, về con chung về nợ
chung có hiệu lực Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết.
[3] Về tài sản chung:
[3.1] Giữa P và ông S ý kiến không thống nhất với nhau, bà P trình bày
giữa vợ chồng có các tài sản chung, gồm:
- Diện tích 4.121m², thửa số 1191, tờ bản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa
nước toạ lạc P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh A cấp cho
ông S với bà P đứng tên vào ngày 16/7/2018.
- Diện tích 716m², thửa số 5, tờ bản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa nước toạ
lạc xã P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp cho ông S với
bà P đứng tên vào ngày 23/6/2016.
- Căn nhà nền lát gạch bông, mái lợp tole cất trên đất diện tích 595m², thửa số
6, tờ bản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa nước toạ lạc P, tỉnh An Giang do Sở
Tài nguyên môi trường tỉnh A cấp cho ông S với P đứng tên vào ngày
23/6/2016.
[3.2] Theo bị đơn ông S trình bày phần đất 595m², thửa số 6, tờ bản đồ 50,
loại đất chuyên trồng lúa nước toạ lạc P, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên
môi trường tỉnh A cấp cho ông S với bà P đứng tên vào ngày 23/6/2016 này ông S
với bà P đã chuyển nhượng cho Hợp tác xã P1 nên không còn. Đối với căn nhà nền
lát gạch bông, mái lợp tole trên đất, khi mẹ ông S còn sống có cho vợ chồng
xây nhà cho vợ chồng ông S, căn nhà xây dựng trên diện tích đất của cha ông S
ông Ngô Văn L đứng tên. vậy, căn nhà cấu trúc nền lát gạch bông, mái lợp tole
này không phải tài sản chung của vợ chồng n không đồng ý chia 50% giá tr
tài sản chung theo yêu cầu của bà P.
[3.3] Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thống nhất với giá tại Chứng thư
thẩm định giá số 090/2025/619 ngày 25/8/2025 của Công ty Cổ phần T2 không
yêu cầu định giá lại nên Hội đồng xét xử căn cứ theo sự thống nhất của các đương
sự về giá trị tài sản đang tranh chấp để giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều
104 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3.4] Ông S do người đại diện theo y quyền Phú T ý kiến trình bày
các tài sản đều có nguồn gốc do ông S được gia đình tặng cho nên xem xét chia tài
sản chung theo điều kiện ông S công sức nhận tài sản chung hoàn lại giá trị
cho bà P và chia cho bà P giá trị 30% giá trị tài sản do 02 diện tích đất do ông S và
P đứng tên quyền sdụng đất nêu trên tài sản của ông S đứng tên từ năm
1994 trước khi kết hôn với bà P. Tuy nhiên, đến khi cấp đổi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì P ông S đứng tên chung trong 02 quyền sử dụng đất
gồm: CS02519; CS03478. Do đó, P không đóng góp trong khối tài sản
chung này. Riêng căn nhà cấu trúc nền lát gạch bông, mái lợp tole, diện tích
9
ngang 7m x dài 18m, khi cha mn sống chính bà Đ1 xây cất cho vợ chồng ông
S, bà P ở trên đất
[3.5] Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy ông S, P chung sống đăng
ký kết hôn từ năm 2004 cho đến năm 2016 tài sản được tặng cho và vào thời điểm
sang tên ông S và P cùng đứng tên được xác định phù hợp theo quy định tại tại
Điều 33 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014. vậy, cấp sơ thẩm xác định
đây là tài sản chung của ông S và bà P là phù hợp theo quy định.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông S đề nghị đo đạc lại đối với diện tích
đất hiện nay P yêu cầu chia 50% đối với diện tích 595m
2
, thửa số 6, tờ bản đồ
50 căn nhà cấu trúc nền lát gạch bông, mái lợp tole, diện tích ngang 7m x
dài 18m; đồng thời xác định lại đất cất nhà không phải trên diện tích đất 595m
2
,
thửa số 6, tờ bản đồ 50 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản gắn liền với đất số CB743110, số vào sổ CS02518 do Sở Tài
nguyên và môi trường tỉnh A cấp cho ông S với bà P đứng tên vào ngày 23/6/2016
[4.1] Sau khi thực hiện đo đạc xem xét, thẩm định tại chỗ được ghi nhận
tại đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng Đ2 Chi nhánh khu vực L xã P ngày
17/6/2026, tại các điểm 3, 6, 7, 4 diện tích đất 595m², thửa số 6, tờ bản đồ 50,
loại đất chuyên trồng lúa nước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản gắn liền với đất số CB743110, số vào sổ CS02518 do Sở Tài
nguyên môi trường tỉnh A cấp cho ông S với P đứng tên vào ngày
23/6/2016. Vị trí khu đất tọa lạc tại P, tỉnh An Giang với tờ bản đồ số 38, thửa
đất số 14, diện tích 470 m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT16176
là cùng vị trí
[4.2] Cấp phúc thẩm trích lục được hồ sơ về trình tự thủ tục giấy chứng
nhận quyền sdụng đất gồm bản sao y Giấy chứng nhận quyền sdụng đất; Đơn
xin cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất; Biên bản xác định mốc ranh giới khi
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Các tài liệu liên quan đến quyền sử dụng
đất các thông tin thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối
với: Diện tích 470 m
2
, tờ bản đồ số 38, thửa đất số 14 theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số CT16176 diện tích đất 1.452m², loại đất chuyên trồng lúa nước
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00602QSDĐ/nC do Ủy ban
nhân dân huyện P cấp cho ông Ngô Văn L đứng tên vào ngày 30/11/1994. Nội
dung thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Văn phòng
Đ2 chi nhánh P2 ký xác nhận ngày 24/9/2020 đã có căn cứ xác định:
+ Diện tích đất 595m², thửa số 6, tờ bản đồ 50, loại đất chuyên trồng lúa nước
theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền
với đất số CB743110, số vào sổ CS02518 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh A
cấp cho ông S với P đứng tên vào ngày 23/6/2016 đã được ông S, bà P Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bên nhận chuyển nhượng Hợp tác
P1 do ông Võ Lợi D2 Chủ tịch Hội đồng quản trị làm người đại diện vào
ngày 03/8/2016 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang với giá
75.000.000 đồng được Ủy ban nhân dân P chứng thực số 24/2016, quyển số
10
01-SCT/HĐ.GD ngày 3/8/2016 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
CB743110, số vào sổ CS02518 đã cập nhật phần IV những nội dung thay đổi sau
khi cấp giấy chứng nhận ngày 9/5/2018 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
Hợp tác P1. Đến ngày 15/5/2018, Hợp tác P1 được Sở T cấp Giấy chứng
nhận số vào sổ CT16176, diện tích 470,0 m
2
, thửa đất số 14, tờ bản đồ số 38, loại
đất thương mại, dịch vụ
+ Đối với căn nhà mà bà P đang yêu cầu chia và xác định đây là tài sản chung
của vợ chồng, tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ được Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang lập ngày 04/02/2026, thể hiện căn nhà cấu trúc nền nóng xây gạch +
sàn cột tông cốt thép, nền lát gạch men, vách tường, mái tole; Phía trước căn
nhà có phần mái che cấu trúc khung gỗ tạp, mái tole nền lát gạch men, xung quanh
căn nhà tường rào + cổng o trước nhà. Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất
sau khi đo đạc thể hiện căn ntại các điểm 42,43,44,45 diện tích 100,2m
2
tại
các điểm 40, 41, 42, 45 mái che diện tích 33,3m
2
của đồ hiện trạng khu
đất của Văn phòng Đ2 Chi nhánh khu vực Liên xã P ngày 17/6/2026 thì phần diện
tích đất này nằm trong diện tích đất 1.452m², loại đất chuyên trồng lúa nước theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00602QSDĐ/nC do Ủy ban nhân
dân huyện P cấp cho ông Ngô Văn L đứng tên ngày 30/11/1994. Nội dung thay
đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Văn phòng Đ2 chi
nhánh P2 ký xác nhận ngày 24/9/2020
Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số
138/2020/QĐST-DS ngày 09/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân nay
Tòa án nhân dân khu vực 12-An Giang có quyết định:
- Ngô n S: Nền đất gắn liền căn nhà của anh S: Diện tích 359 m
2
đất 02
lúa, các điểm 17, 23, 37, 54, 16. Theo đồ hiện trạng khu đất lập ngày
24/5/2020 của văn phòng Đ2-chi nhánh huyện P2
Các ông, tên trên đây gồm: T1, S, S1, SuoL,H2, hiện nay tách thửa đối
với diện tích đất mình được hưởng chưa thực hiện được, đất mỗi người được
hưởng chưa được 500 m
2
, vậy các đương sự thống nhất nếu sau nầy nhà nước
chủ trương dưới 500m
2
vẫn được tách thửa thì lúc bấy gi mới tiến hành
thực hiện
…”
[4.3] Tại Công văn số 1235/CNKVLXPT-ĐK V/v phúc đáp ng văn số
146/CV-TA ngày 29/7/2026 của Văn phòng Đ2 Chi nhánh khu vực L P thông
tin căn nhà ông S, bà P đang tranh chấp được xây dựng vẫn nằm trên diện tích đất
thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên của ông Ngô Văn L.
[5] Từ những phân tích trên việc bị đơn cũng như người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan cản trở việc đo đạc dẫn đến giai đoạn phúc thẩm phát sinh đối với
các tình tiết mới không phải lỗi cấp thẩm nhưng trong việc thu thập tài liệu,
chứng cứ cấp thẩm cần thận trọng hơn để làm cơ sở giải quyết vụ án được triệt
để.
11
[5.1] Phạm Thị Trúc P yêu cầu chia đôi tài sản chung, xin được nhận
giá trị tài sản và đồng ý giao hết hiện vật nhà và đất cho ông Ngô Văn S nhận. Ông
Ngô Văn S đồng ý nhận tài sản chung bằng hiện vật hoàn giá trị lại cho P.
Đối với diện tích đất 595m² hiện nay P t lại không yêu cầu, cũng nkhông
yêu cầu chia diện tích đất nơi căn nhà nên không cần thiết đưa Hợp tác
P1, cũng như những người đang có nhà trên diện tích đất của ông L, gồm ông Ngô
Văn H2, Ngô Thị T1 vào tham gia tố tụng chỉ cần sửa án thẩm xác định
lại tài sản chung của ông S, bà P.
[5.2] Tại phiên tòa, ông S kháng cáo yêu cầu được chia 70% giá trị tài sản và
được nhận bằng hiện vật đối với diện tích 4.121m², diện tích 716m² theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
do Sở T cấp cho ông NVăn S, bà Phạm Thị Trúc P căn nhà kết cấu nền t
gạch bông, mái lợp tole.
[5.3] Các đương sự đều xác nhận nguồn gốc đất hình thành được gia đình
của ông S tặng cho, bà Trúc P tại phiên tòa phúc thẩm cũng xác nhận các diện tích
đất được cha mẹ chồng tặng cho lại nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ theo
tinh thần của Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 được công bố theo Quyết định số
220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì
khi chia phải coi ông S có công sức đóng góp nhiều hơn để chia theo công sức của
mỗi bên cần phải căn cứ vào nhu cầu về chỗ để chia hiện vật cho các bên
nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Cả ông S, bà P thống nhất giao tài sản
chung bằng hiện vật cho ông S được nhận ông S trách nhiệm hoàn giá trị
phù hợp, nhưng đối với yêu cầu của ông S đề nghị được nhận 70% giá trị tài sản là
không có căn cứ chia cho ông S được nhận 70% phần tài sản.
[5.4] Hội đồng xét xử chia đối với diện tích 4.121m², diện tích 716m² theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất do Sở T cấp cho ông Ngô Văn S, bà Phạm Thị Trúc P chia cho ông S được
nhận 60% giá trị tài sản, bà P được nhận 40% giá trị tài sản.
[5.5] n nhà cấu trúc nền nóng xây gạch + n cột tông cốt thép, nền
lát gạch men, vách tường, mái tole; Phía trước căn nhà phần mái che cấu trúc
khung gỗ tạp, mái tole nền lát gạch men; ông S cho rằng đây là tài sản cha mẹ còn
sống cho vợ chồng trên đất xây nhà. Tại phiên tòa, ông S không cung
cấp i liệu, chứng cứ nào thể hiện đây tài sản được cha mông S xây dựng
cho lại vợ chồng, ông S ng xác định căn nhà hiện trạng như hiện nay được
xây dựng, sửa chữa từ năm 2012. Do đó, chia cho P ông S mỗi người được
nhận 50% giá trị tài sản của căn nhà cấu trúc nền nóng xây gạch + sàn cột
tông cốt thép, nền lát gạch men, vách tường, mái tole; Phía trước căn nhà có phần
mái che cấu trúc khung gỗ tạp, mái tole nền lát gạch men.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh An Giang đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn
S phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. vậy, Hội đồng xét xử sửa án
12
sơ thẩm đối với chia tài sản chung và điều chỉnh lại án phí sơ thẩm theo quy định.
Do đó, yêu cầu kháng cáo của ông S là có căn cứ để chấp nhận một phần yêu cầu.
[7] Tài sản chung của bà Phạm Thị Trúc P và ông Ngô Văn S, gồm có: Diện
tích 4.121m², thửa số 1191, tbản đồ 50 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, trị giá 453.310.000 đồng; Diện tích 716m², thửa số 5, tờ bản đồ 50 theo giấy
chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với
đất số CS02519, ngày 23/6/2016, trị giá 78.760.000 đồng căn nhà kết cấu
nền nóng xây gạch + sàn cột tông cốt thép, nền lát gạch men, vách tường, mái
tole; Phía trước căn nhà phần mái che cấu trúc khung gỗ tạp, mái tole nền lát
gạch men, xung quanh căn nhà có tường rào + cổng rào trước nhà, trị g
213.998.400 đồng; Vị trí nhà, đất toạ lạc xã P, tỉnh An Giang. Tổng giá trị tài sản
chung là 746.068.400 đồng
[7.1] Chia tài sản chung Phạm Thị Trúc P được nhận 40% giá trị tài sản
chung diện tích 4.121m², diện tích 716m², tương đương số tiền 212.834.400
đồng và 50% giá trị tài sản chung căn nhà có cấu trúc nền nóng xây gạch + sàn cột
tông cốt thép, nền lát gạch men, vách tường, mái tole; Phía trước căn nhà
phần mái che cấu trúc khung gỗ tạp, mái tole nền lát gạch men, xung quanh căn
nhà tường rào + cổng o trước ntrị giá 106.999.200 đồng. P được nhận
tổng giá trị tài sản được chia số tiền 319.833.600 đồng
[7.2] Chia tài sản chung ông Ngô Văn S được nhận 60% giá trị tài sản chung
diện tích 4.121m², diện tích 716m² tương đương số tiền 319.251.600 đồng
50% giá trị tài sản chung căn nhà căn nhà có cấu trúc nền nóng xây gạch + sàn cột
tông cốt thép, nền lát gạch men, vách tường, mái tole; Phía trước căn nhà
phần mái che cấu trúc khung gỗ tạp, mái tole nền lát gạch men, xung quanh căn
nhà có tường rào + cổng rào trước nhà trị giá 106.999.200 đồng. Ông S được nhận
tổng giá trị tài sản được chia số tiền 426.250.800 đồng
[7.3] Ông Ngô Văn S được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng diện tích
4.121m², thửa số 1191, tờ bản đồ 50 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CS03478 ngày 16/7/2018;
diện tích 716m², thửa s5, tờ bản đồ 50 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất sCS02519, ngày 23/6/2016
01 căn nhà cấu trúc nền nóng xây gạch + sàn cột tông cốt thép, nền lát
gạch men, vách tường, mái tole tại các điểm 42,43,44,45 diện tích 100,2 m
2
và mái
che phía trước căn nhà có cấu trúc khung gỗ tạp, mái tole nền lát gạch men có diện
tích 33,3 m
2
tại các điểm 40, 41, 42, 45 của đồ hiện trạng khu đất của Văn
phòng Đ2 Chi nhánh khu vực L P ngày 17/6/2026. Vtrí nhà đất toạ lạc P,
tỉnh An Giang.
[7.4] Ông Ngô Văn S nghĩa vụ hoàn trả cho Phạm Thị Trúc P giá trị
phần chênh lệch về tài sản chung được chia 319.833.600 đồng (Ba trăm mười
chín triệu tám trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm đồng).
[8] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá
tài sản giai đoạn sơ thẩm 19.325.280 đồng và giai đoạn phúc thẩm số tiền
13
3.787.000 đồng. Tổng cộng số tiền 23.112.280 đồng; P ông S cùng phải
nộp chi phí ttụng mỗi người 11.556.140 đồng. Nhưng P nộp tạm ứng số
tiền 19.325.280 đồng tại giai đoạn thẩm, ông S nộp tạm ứng giai đoạn phúc
thẩm số tiền 3.787.000 đồng. Sau khi khấu trừ vào tiền tạm ứng P và ông S đã
nộp thì P đã nộp đủ chi phí tố tụng. Ông S nghĩa vụ hoàn lại cho P số
tiền 7.769.140 đồng
[9] Về án phí:
[9.1] Bà Phạm Thị Trúc P tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là
300.000 đồng, phải chịu án phí chia tài sản 15.991.680 đồng án phí nghĩa vụ
trả nợ 5.000.000 đồng. Tổng số tiền án p bà P phải nộp 21.291.680 đồng
nhưng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí 39.850.000 đồng sang theo biên lai
thu số 0011749 ngày 07/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân,
tỉnh An Giang nay Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 12-An Giang. Sau khi
khấu trừ hoàn lại 18.558.320 đồng cho bà Phạm Thị Trúc P.
[9.2] Ông Ngô Văn S phải chịu án phí chia tài sản 21.312.540 đồng, được
khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng sang theo biên lai thu số
0011819 ngày 12/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang nay Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 12-An Giang. Sau khi khấu trừ,
ông S còn phải nộp tiền án phí là 18.812.540 đồng.
[10] Về án phí phúc thẩm: Do, yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn S được
chấp nhận một phần nên ông S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Đối với các phần quyết định khác của Bản án thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị đã hiệu lực pháp luật ktngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số , ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí, lệ phí Toà án; Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định
số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn S yêu cầu chia tài
sản chung đối với bà Phạm Thị Trúc P.
Sửa Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 183/2025/HNGĐ-ST ngày 30
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - An Giang;
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị Trúc P
đối với diện tích đất 595m², thửa số 6, tờ bản đồ 50 theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu ntài sản khác gắn liền với đất số CS02518, do
14
Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh A cấp ngày 23/6/2016 do bà P đã rút lại một
phần yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa phúc thẩm.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 147, Điều 246; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015; Điều 9, Điều 33, Điều 55, Điều 56, Điều 59, Điều 62, Điều 63, Điều
81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 357 và Điều 468
Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 5, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí, lệ phí
Tòa án.
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung của Phạm Thị
Trúc P với ông Ngô Văn S về diện tích đất 7.131m², thửa số 27, tờ bản đồ 35
diện tích 6.679m², thửa số 837, tờ bản đồ 50, quyền sử dụng đất do ông Ngô Văn
S đứng tên.
2. Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Phạm Thị Trúc P với ông Ngô Văn S.
3. Về con chung: 02 con chung tên Ngô Thành H, sinh ngày 22/6/2004
(đã trưởng thành) và cháu Ngô Quốc M, sinh ngày 16/10/2012.
Sau khi ly hôn giao con chung cháu Ngô Quốc M cho bà P được tiếp tục nuôi
dưỡng, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Phạm Thị Trúc P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản
trở ông Ngô Văn S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
chung. Trên sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc nhân,
quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm
2014, Tòa án thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức
cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
4. Tài sản chung của Phạm Thị Trúc P ông Ngô Văn S, gồm: diện tích
4.121m², thửa số 1191, tờ bản đồ 50 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CS03478 ngày 16/7/2018;
diện tích 716m², thửa s5, tờ bản đồ 50 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CS02519, ngày 23/6/2016;
01 căn nhà cấu trúc nền nóng xây gạch + sàn cột tông cốt thép, nền lát gạch
men, vách tường, mái tole tại các điểm 42,43,44,45 diện tích 100,2 m
2
mái che
phía trước căn nhà cấu trúc khung gỗ tạp, mái tole nền lát gạch men diện
tích 33,3 m
2
tại các điểm 40, 41, 42, 45 của đồ hiện trạng khu đất của Văn
phòng Đ2 Chi nhánh khu vực Liên xã P ngày 17/6/2026; vị trí nhà đất toạ lạc xã P,
tỉnh An Giang. Tổng trị giá tài sản chung là 746.068.400 đồng
4.1. Chia tài sản chung Phạm Thị Trúc P được nhận 40% giá trị tài sản
chung diện tích 4.121m², diện tích 716tương đương: 212.834.400 đồng và
50% giá trị tài sản chung căn nhà cấu trúc nền nóng xây gạch + sàn cột bê tông
cốt thép, nền lát gạch men, vách tường, mái tole diện tích 100,2m
2
mái che
cấu trúc khung gỗ tạp, mái tole nền lát gạch men diện tích 33,3m
2
trị giá
15
106.999.200 đồng. P được nhận tổng giá trị tài sản được chia số tiền
319.833.600 đồng
4.2. Chia tài sản chung ông Ngô n S được nhận 60% giá trị tài sản chung
diện tích 4.121m², diện tích 716m² tương đương: 319.251.600 đồng và 50% giá
trị tài sản chung căn nhà có cấu trúc nền nóng xây gạch + sàn cột bê tông cốt thép,
nền lát gạch men, vách tường, mái tole diện tích 100,2m
2
mái che cấu trúc
khung gỗ tạp, mái tole nền lát gạch men diện tích 33,3m
2
trị giá 106.999.200 đồng,
ông S được nhận tổng giá trị tài sản được chia số tiền 426.250.800 đồng
5. Ông Ngô Văn S được quyền sở hữu, quản lý, s dụng diện tích đất
4.121m², thửa số 1191, tờ bản đồ 50 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03478 do Sở Tài nguyên
và môi trường tỉnh A cấp cho ông S với bà P ngày 16/7/2018; Diện tích đất 716m²,
thửa số 5, tờ bản đồ 50 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số CS02519 do Sở Tài nguyên môi
trường tỉnh A cấp cho ông S với bà P ngày 23/6/2016 và 01 căn nhà cấu trúc
nền nóng xây gạch + sàn cột tông cốt thép, nền lát gạch men, vách tường, mái
tole tại các điểm 42,43,44,45 diện tích 100,2 m
2
và mái che phía trước căn nhà
cấu trúc khung gỗ tạp, mái tole nền lát gạch men có diện tích 33,3 m
2
tại các điểm
40, 41, 42, 45 của Sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng Đ2 Chi nhánh khu vực
L xã P ngày 17/6/2026. Vị trí nhà đất toạ lạc xã P, tỉnh An Giang.
6. Ông Ngô Văn S nghĩa vụ hoàn trả cho Phạm Thị Trúc P giá trị phần
chênh lệch về tài sản chung được chia 319.833.600 đồng (Ba trăm mười chín
triệu tám trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm đồng).
Ông Ngô Văn S có quyền, nghĩa vụ thực hiện thủ tục đăng điều chỉnh
thông tin biến động đối với các quyền sử dụng đất tại quan nhà nước thẩm
quyền theo quy định của pháp luật đất đai.
(Sơ đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng Đ2 Chi nhánh khu vực L P ngày
17/6/2026 được đính kèm với bản án)
7. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Ngô Văn S đối với Phạm Thị Trúc
P về số tiền 100.000.000 đồng
Buộc Phạm Thị Trúc P nghĩa vụ trả cho ông Ngô Văn S số tiền
100.000.000 (Một trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày quyết định hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi nh án quyền chđộng ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân snăm
2015.
8. Về nợ chung: không xem xét giải quyết
9. Chi phí ttụng: Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ định giá tài
16
sản giai đoạn sơ thẩm và giai đoạn phúc thẩm tổng cộng stiền 23.112.280 đồng;
P và ông S cùng phải nộp chi phí tố tụng mỗi người 11.556.140 đồng. Sau
khi khấu trừ vào tiền tạm ứng P ông S đã nộp, P đã nộp đủ chi phí tố
tụng. Ông S có nghĩa vụ hoàn lại cho bà P chi phí tố tụng số tiền 7.769.140 đồng
10. Về án phí:
10.1. Về án phí sơ thẩm:
Phạm Thị Trúc P phải nộp tiền án phí thẩm là 21.291.680 đồng nhưng
được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí 39.850.000 đồng sang theo biên lai thu số
0011749 ngày 07/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang nay Phòng Thi hành án n sự Khu vực 12-An Giang. Sau khi khấu trừ
hoàn lại 18.558.320 đồng cho bà Phạm Thị Trúc P.
Ông Ngô Văn S phải chịu án phí chia tài sản 21.312.540 đồng, được khấu
trừ từ số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng sang theo biên lai thu số 0011819
ngày 12/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
nay Phòng Thi hành án n sKhu vực 12-An Giang. Sau khi khấu trừ, ông S
còn phải nộp tiền án phí là 18.812.540 đồng.
10.2. Án phí phúc thẩm: Hoàn trả cho ông Ngô Văn S 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông S đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004239 ngày 14/10/ 2025 của Chi cục thi hành
án Dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nay Phòng Thi hành án Dân sự Khu
vực 12-An Giang
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- Tòa Dân sự;
- VKSND tỉnh AG;
- Phòng GĐKT,TT&THA;
- TAND Khu vực 12-An Giang;
- Phòng THADS Khu vực 12-An Giang;
- Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM;
- Văn phòng;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trịnh Ngọc Thúy
17
18
Nơi nhận:
- TAND cấp cao;
- VKSND tỉnh An Giang;
- TAND huyện Châu Phú;
- Chi cục THA-DS huyện Châu Phú;
- Phòng TTKT & THA;
- Tòa Dân sự;
- Văn phòng;
- Đương sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trịnh Ngọc Thúy
19
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 33/2026/HNGĐ-PT Bản án số 33/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 33/2026/HNGĐ-PT Bản án số 33/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất