Bản án số 22/2026/DS-ST ngày 30/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 22/2026/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 22/2026/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 22/2026/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 22/2026/DS-ST ngày 30/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị |
| Số hiệu: | 22/2026/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | BA DS tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Saccombank - Nguyễn Hữu D |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 1 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 22/2026/DS-ST
Ngày 30 - 3 -2026
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phú Quảng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Thu
2. Bà Trương Thị Thúy Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
1, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị tham gia
phiên tòa: Không.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng
Trị xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 222/2025/TLST - DS ngày 09
tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 60/2026/QĐXXST - DS ngày 24 tháng 02 năm 2026, Quyết định
hoãn phiên tòa số: 54/2026/QĐST – DS ngày 11 tháng 3 năm 2026, giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S. Địa chỉ: Số 266-268 N, phường 8, quận 3,
Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Xuân
Hoà, TP Hồ Chí Minh).
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Kim T – Chức vụ: Trưởng PGD B. Người được
ủy quyền lại: Bà Trần Quỳnh L. Địa chỉ: Số 52 đường L, phường Đ, tỉnh Quảng Trị.
Bà Lương có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu D, sinh ngày: 25/4/1998. Địa chỉ thường trú: Số
46 Nguyễn Văn C, phường Đ, tỉnh Quảng Trị. Ông D vắng mặt lần thứ hai không
có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 226/11/8/2025 và lời khai trong quá trình tố
tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S trình bày:
Ngày 22/09/2022, ông Nguyễn Hữu D có ký với Ngân hàng TMCP S – PGD B
(sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 3717126563 (bao
gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Điều khoản và điều kiện phát
hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng TMCP S– các tài liệu này được

2
gọi chung là Hợp đồng tín dụng). Căn cứ vào thu nhập của ông D, Ngân hàng đã
đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá
nhân. Đến hạn trả nợ hàng tháng nhưng ông D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tại
Ngân hàng, nên đã vi phạm Hợp đồng (Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện
phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), vì vậy Ngân hàng đã chấm dứt
quyền sử dụng thẻ của ông D và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn
Nhóm 4 (Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
của Ngân hàng). Tính đến ngày 26/11/2025, ông D còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là
35.346.740 đồng (Trong đó, nợ gốc là 30.000.000 đồng, lãi trong hạn là 3.564.493
đồng, lãi quá hạn là 1.782.247 đồng). Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông D có trách
nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông D vẫn chưa thanh toán khoản nợ quá hạn cho Ngân
hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải để các bên
đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng bị đơn là ông
Nguyễn Hữu D không có mặt nên các bên đương sự không tự thỏa thuận được. Vì
vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn trình bày giữ nguyên
yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Ngân hàng TMCP S khởi kiện và tại phiên tòa, Ngân hàng
yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị giải quyết:
Buộc ông Nguyễn Hữu D phải thanh toán cho ngân hàng TMCP S số tiền nợ
tính đến ngày 30/3/2026 là 40.832.795 đồng (trong đó, nợ gốc là 30.000.000 đồng,
lãi trong hạn là 7.221.863 đồng, lãi quá hạn là 3.610.932 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (31/3/2026), ông Nguyễn Hữu D còn
phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại các Hợp đồng tín
dụng đã ký nêu trên cho đến ngày thực tế trả hết nợ.
* Tại Bản tự khai ngày 30/10/2025, bị đơn là ông Nguyễn Hữu D trình bày:
Ông D “Thừa nhận việc ông D đã ký Hợp đồng tín dụng với ngân hàng TMCP
S như trình bày của đại diện Ngân hàng là đúng thực tế, thừa nhận dư nợ vay bao
gồm nợ gốc và nợ lãi đến thời điểm ngày 26/11/2026 đúng như nội dung đơn khởi
kiện của Ngân hàng. Tuy nhiên, vì điều kiện kinh tế khó khăn nên ông Duy đề nghị
phương án trả nợ như sau: Vào ngày 05/3/2026 ông D sẽ tất toán số lãi trong hạn.
Mỗi tháng tiếp theo vào ngày 05 ông D sẽ trả lãi và một phần số tiền gốc là
2.000.000 đồng/tháng cho đến khi trả hết nợ”.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải để các đương sự thỏa
thuận với nhau về việc giải quyết các tranh chấp trong vụ án nhưng không thành.
* Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn
đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải
quyết vụ án Tòa án đã gửi giấy triệu tập hợp lệ qua đường bưu điện; tống đạt trực
tiếp và tiến hành lập biên bản làm việc về việc không tiến hành tống đạt trực tiếp
được đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu D; tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố
tụng tại địa phương. Nhưng tại các phiên họp, các phiên hòa giải và tại phiên tòa hôm

3
nay bị đơn là ông Nguyễn Hữu D đều vắng mặt không có lý do. Bị đơn đã không
thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết tranh
chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Hữu D theo khoản nợ tại Hợp đồng sử dụng
thẻ tín dụng số 3717126563 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng,
Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng
TMCP S đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Hữu D. Đây là vụ án
tranh chấp hợp đồng tín dụng, phát sinh giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP S là Tổ
chức tín dụng có đăng ký kinh doanh và bị đơn là ông Nguyễn Hữu D không có đăng
ký kinh doanh, trong hợp đồng tín dụng thể hiện “Ông Nguyễn Hữu D cư trú tại nhà
số 46, đường Nguyễn Văn C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình”(nay là phường Đ, tỉnh
Quảng Trị). Căn cứ theo quy định của khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35,
điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là vụ án dân sự tranh chấp hợp
đồng tín dụng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – tỉnh
Quảng Trị.
[1.2] Về sự có mặt của các đương sự:
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập
các bên đương sự đến Tòa án để tiến hành các thủ tục giải quyết vụ án theo quy định
của pháp luật, nguyên đơn đã đến Tòa án làm bản tự khai, tham gia phiên họp công
khai, tiếp cận chứng cứ và hòa giải theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu D đã trực tiếp
đến Tòa án làm bản tự khai nhưng vắng mặt tại các lần Tòa án triệu tập sau đó. Để có
căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi giấy triệu tập hợp lệ qua đường bưu điện; tống
đạt trực tiếp và tiến hành lập biên bản làm việc về việc không tiến hành tống đạt trực
tiếp được đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu D và tiến hành niêm yết công khai các văn
bản tố tụng tại địa phương, nhưng ông Nguyễn Hữu D vẫn cố tình vắng mặt tại các
buổi làm việc do Tòa án triệu tập. Toà án thông báo cho các bên đương sự đến để
tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải
nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc
giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hoà giải được
theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Do đó, Tòa án ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2026/QĐXXST
- DS ngày 24 tháng 02 năm 2026 ấn định thời gian xét xử lúc 07 giờ 30 phút ngày
11/3/2026. Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm ngày 11/3/2026, tuy nhiên bị đơn ông
Nguyễn Hữu Duy vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do nên Hội đồng
xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ Luật tố tụng Dân sự ra Quyết định hoãn phiên
tòa số: 54/2026/QĐST – DS và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày

4
30/3/2026, đồng thời tiến hành thủ tục niêm yết Quyết định xét xử, Quyết định hoãn
phiên tòa tại Tổ dân phố 02 (N), phường Đ, tỉnh Quảng Trị là nơi bị đơn ông Nguyễn
Hữu D cư trú. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị
đơn ông Nguyễn Hữu Duy.
[1.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập tài
liệu, chứng cứ, tài liệu chứng cứ trên cơ sở các bên cung cấp. Tại phiên tòa hôm nay
không có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân theo quy định là phù hợp,
đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc ông Nguyễn
Hữu D trả ngay cho Ngân hàng TMCP S số tiền đến ngày xét xử sơ thẩm 30/3/2026
là 40.832.795 đồng (trong đó, nợ gốc là 30.000.000 đồng, lãi trong hạn là 7.221.863
đồng, lãi quá hạn là 3.610.932 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (31/3/2026), ông Nguyễn Hữu D còn
phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại các Hợp đồng tín
dụng đã ký nêu trên cho đến ngày thực tế trả hết nợ.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S yêu cầu phía bị đơn ông
Nguyễn Hữu D phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng, Hội đồng
xét xử thấy: Phía Ngân hàng TMCP S và bị đơn ông Nguyễn Hữu Duy có ký kết Hợp
đồng sử dụng thẻ tín dụng số 3717126563 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng
kiêm hợp đồng, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân
của ngân hàng TMCP S– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng tín dụng) đã
tuân theo đúng quy định của pháp luật. Khoản nợ Thẻ tín dụng phát sinh từ việc thực
hiện Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng được ký kết nêu trên do tổ chức
hoạt động tín dụng và người có năng lực hành vi dân sự ký kết; về hình thức, nội
dung tuân theo các quy định tại Điều 385, 386, 388, 398, 399, 400, 401, 465, 466 Bộ
luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng 2024, Hợp đồng ký kết có hiệu
lực đã được hai bên thực hiện, bị đơn ông Nguyễn Hữu D đã nhận được số tiền vay
vốn do phía Ngân hàng giải ngân. Xét hợp đồng tín dụng đã ký kết nêu trên đã tuân
thủ đúng quy định của pháp luật, nên hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của
các bên tham gia ký kết hợp đồng.
[2.3] Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và
lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên. Theo bảng kê chi tiết
lịch sử khoản vay do Ngân hàng TMCP S cung cấp thì trong quá trình thực hiện hợp
đồng bị đơn đã thanh toán nợ lãi nhiều lần và sau đó thì vi phạm về nghĩa vụ thanh
toán theo thoả thuận.
Trước khi khởi kiện, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo nợ quá hạn, thu hồi thẻ
tín dụng và trực tiếp làm việc với bị đơn, tại Bản tự khai ngày 30/10/2025, bị đơn là
ông Nguyễn Hữu D trình bày: “Thừa nhận việc ông D đã ký Hợp đồng tín dụng với
ngân hàng TMCP S như trình bày của đại diện Ngân hàng là đúng thực tế, thừa nhận
dư nợ vay bao gồm nợ gốc và nợ lãi đến thời điểm ngày 26/11/2026 đung như nội
dung đơn khởi kiện của Ngân hàng là đúng. Tuy nhiên, vì điều kiện kinh tế khó khăn

5
nên ông D đề nghị phương án trả nợ như sau: Vào ngày 05/3/2026 ông Duy sẽ tất
toán số lãi trong hạn. Mỗi tháng tiếp theo vào ngày 05 ông Duy sẽ trả lãi và một
phần số tiền gốc là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi trả hết nợ”.
Nhưng bị đơn vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà còn trốn tránh việc trả
nợ, bị đơn đã vi phạm Hợp đồng đã ký kết. Nay Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải trả số
tiền gốc và lãi tính phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng tổng số
tiền nợ tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm 30/3/2026 là 40.832.795 đồng (trong đó, nợ
gốc là 30.000.000 đồng, lãi trong hạn là 7.221.863 đồng, lãi quá hạn là 3.610.932
đồng) là phù hợp cần chấp nhận.
[2.4]. Như vậy tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nhưng căn cứ vào các nhận định
tại [2.1], [2.2] và [2.3] nêu trên có đủ cơ sở buộc bị đơn ông Nguyễn Hữu D phải trả
cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tính đến ngày 30/3/2026, là 40.832.795 đồng.
(Trong đó, nợ gốc là 30.000.000 đồng, lãi trong hạn là 7.221.863 đồng, lãi quá hạn là
3.610.932 đồng); Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (31/3/2026), ông Nguyễn
Hữu D còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại các Hợp
đồng tín dụng đã ký nêu trên cho đến ngày thực tế trả hết nợ.
[3] Về án phí:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, căn cứ Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S được chấp nhận nên bị đơn ông
Nguyễn Hữu D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 40.832.795 đồng x 5% =
2.041.639,7 đồng (làm tròn thành: 2.041.640 đồng).
Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án
phí 883.669 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002228 ngày
08/12/2025 của Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 35; Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; điểm b khoản
2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 116, 119, 385, 398, 401, 463, 465, 466, 468 Bộ luật dân
sự;
- Áp dụng các Điều 100, 103 Luật tổ chức tín dụng 2024.
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:
1.1 Buộc ông Nguyễn Hữu D phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho
Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm 30/3/2026 là
40.832.795 đồng (bằng chữ: Bốn mươi triệu, tám trăm ba mươi hai nghìn, bảy trăm

6
chín mươi lăm đồng (trong đó, nợ gốc là 30.000.000 đồng, lãi trong hạn là 7.221.863
đồng, lãi quá hạn là 3.610.932 đồng).
1.2 Buộc ông Nguyễn Hữu D tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tiền
lãi phát sinh, lãi quá hạn, các loại phí từ ngày 31/3/2026 cho đến khi thực tế trả hết
nợ.
2. Về án phí:
2.1 Bị đơn ông Nguyễn Hữu D, phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là
2.041.639,7 đồng (làm tròn thành: 2.041.640 đồng).
2.2 Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí sơ thẩm và được
trả lại số tiền tạm ứng án phí 883.669 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án
phí số 0002228 ngày 08/12/2025 của Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
3. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày
30/3/2026); bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa
phương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh QuảngTrij; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND Khu vực 1 – Quảng Trị;
- THADS KV1 – Quảng Trị;; (đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án.
Nguyễn Phú Quảng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm