Bản án số 479/2026/DS-PT ngày 07/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 479/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 479/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 479/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 479/2026/DS-PT ngày 07/04/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 479/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bản án Trần Thị Thu D - Cty Lương U |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Thuý Lành
Các Thẩm phán:
Bà Võ Thị Hồng Mai
Ông Nguyễn Phước Thanh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Bùi Quốc Việt, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1133/2025/TLPT-DS ngày
24 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 335/2025/DS-ST ngày 24 - 9 -2025 Tòa án
nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 245/2026/QĐ-PT ngày
03 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu D, sinh năm 1959.
Địa chỉ: số nhà G, khu phố L, phường L, tỉnh Tây Ninh, (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Vương Sơn H
- Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T,(có mặt).
Bị đơn: Công ty TNHH T1.
Địa chỉ: Số B đường P, khu phố C, phường L, tỉnh Tây Ninh (Mã số doanh
nghiệp: 3901316597, đăng ký lần đầu ngày 18/6/2021).
Chủ sở hữu: Ông Lê Hồng L, sinh năm 1975.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 479/2026/DS-PT
Ngày: 07-4- 2026
Về việc “Tranh chấp hợp đồng
xây dựng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Địa chỉ: số B đường P, khu phố C, phường L, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T1: Ông Lê Hồng L, sinh
năm 1975 – Chức vụ: Giám đốc, (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH T1: Bà Phùng
Thị Cẩm K – Luật sư Công ty L2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H1, sinh năm 1953.
Địa chỉ: số nhà G, khu phố L, phường L, tỉnh Tây Ninh, (có mặt).
Người kháng cáo: Công ty TNHH T1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 13/9/2024 và lời khai trong quá trình
tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – bà Trần Thị Thu D trnh bày:
Bà Trần Thị Thu D ký hợp đồng xây dựng với công ty TNHH T1 do ông Lê
Hồng L làm chủ sở hữu, cũng là giám đốc công ty, cụ thể như sau:
Hợp đồng số 01/HĐTC_LU/2024 ngày 06/01/2024, nội dung xây nhà ở 5m x
40 x 23 m 150 với số tiền 3.760.000.000 đồng, thời gian thi công 150 ngày (thời
gian khởi công xây dựng ngày 19/3/2024, thời gian hoàn thành công trình ngày
19/8/2024).
Phương thức thanh toán gồm 4 giai đoạn: Tạm ứng (giá trị ban đầu, CP cọc
vật tư) 200.000.000 đồng; giai đoạn 1 (khởi công và tập kết vật tư chính)
930.000.000 đồng; giai đoạn 2 (nghiệm thu phần thô) 1.500.000.000 đồng; giai đoạn
3 (nghiệm thu 80% phần trét bột, phần tường) 900.000.000 đồng; giai đoạn 4
(nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng) 180.000.000 đồng; tạm giữ (giá trị bảo hành
12 tháng) 50.000.000 đồng.
Sau đó, 02 bên thống nhất phương thức thanh toán thay đổi từ 4 giai đoạn lên
6 giai đoạn, giá trị hợp đồng từ 3.760.000.000 đồng thành 3.730.000.000 đồng, cụ
thể:
Tạm ứng (giá trị ban đầu, CP cọc vật tư) 200.000.000 đồng; giai đoạn 1 (khởi
công và tập kết vật tư chính) số tiền: 900.000.000 đồng; giai đoạn 2 (nghiệm thu
phần sàn lầu 2) số tiền: 600.000.000 đồng; giai đoạn 3 (nghiệm thu phần thô) số tiền:
800.000.000 đồng; giai đoạn 4 (nghiệm thu 80% trát tường và ốp gạch) số tiền:
600.000.000 đồng; giai đoạn 5 (nghiệm thu 80% phần trét bột phần tường) số tiền:
500.000.000 đồng; giai đoạn 6 (nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng) số tiền:
100.000.000 đồng; tạm giữ (giá trị bảo hành 12 tháng) số tiền: 30.000.000 đồng.
Từ ngày ký hợp đồng là ngày 06/01/2024 đến ngày 01/7/2024 công ty đã tạm
ứng số tiền 2.350.000.000 đồng. Ngoài tiền tạm ứng công ty đã nhận của bà D thêm
số tiền 50.000.000 đồng để làm bờ móng hàng rào.
Trong quá trình thi công từ ngày 19/3/2024 đến ngày 01/8/2024, công ty chỉ
mới xây dựng được 35% (chưa xong phần thô) và công ty yêu cầu được tiếp tục tạm
ứng thêm số tiền: 500.000.000 đồng nữa thì mới thi công, do thấy việc thi công
3
không đúng tiến độ và thực hiện nội dung thi công không đúng thiết kế nên bà D
không đồng ý tạm ứng thêm tiền theo yêu cầu nên công ty tạm dừng thi công.
Ngày 20/8/2024, hai bên thống nhất: Bản vẽ 1, 2, 3 đối chiếu hiện trạng để
tính tiền; tất cả cột theo bản vẽ phải là 20cm x 40 cm như bản vẽ ban đầu; Tường
bao quanh dày 200, tường sau 100.
Các vi phạm của công ty đã làm sai bản vẽ và hợp đồng như sau:
1. Vi phạm thời gian thi công: Thời gian thi công là 150 ngày (khởi công xây
dựng ngày 19/3/2024, hoàn thành thi công ngày 19/8/2024) nhưng thực tế đến ngày
20/8/2024 chỉ thực hiện khối lượng khoảng 40%, vi phạm Điều 4 của Hợp đồng.
2. Xây dựng không đúng thiết kế:
2.1. Công ty vi phạm khoản 4 Điều 1 trong hợp đồng là tường xung quanh
bao che là 20cm nhưng thực tế xây có 10cm (xác nhận thực tế giữa 02 bên ngày
20/8/2024).
2.2. Trong hồ sơ thiết kế xây dựng với hợp đồng, cột 20cm x 40cm, thực tế
xây 20cm x 20cm (xác nhận thực tế giữa 02 bên ngày 20/8/2024).
2.3. Công ty phải xây tường bao móng nhà ở là 5m40 x 23m150 nhưng công
ty không xây, mà lợi dụng móng hàng rào của nhà bà D để đổ cát nền nhà, dùng xe
cơ giới san lấp nên xảy ra sạt lở, nghiêng đỗ, bà D yêu cầu đập xây lại nhưng công
ty không thực hiện mà khắc phục bằng cách dùng xe Kobe và dây cáp kéo lại buộc
vào cột của công trình nhà ở, gây ảnh hưởng đến kết cấu công trình chính.
2.4. Hợp đồng xây ngang 5m 40 x dài 23 m 150 nhưng công ty xây lấn qua
nhà bên cạnh 5m50 x 23 m 150, bà D yêu cầu làm lại đúng diện tích nhưng công ty
không thực hiện, bỏ qua. Hơn nữa, bờ móng do quá trình đổ cát dùng xe cơ giới san
lấp nên xảy ra nứt, tét, phù. Việc làm của công ty quá cẩu thả và vô trách nhiệm.
Công ty đã tạm ứng số tiền 2.350.000.000 đồng và 50.000.000 đồng để làm
bờ móng hàng rào, tổng tiền đã nhận: 2.400.000.000 đồng.
Căn cứ công văn số 53/TNPCGĐTNXD ngày 05/12/2024 và kết quả giám
định vụ việc số: 09/TTQHGĐCLXD-PTN ngày 25/11/2024 về khối lượng giá trị
xây dựng của của Trung tâm quy hoạch và giám định chất lượng xây dựng cho thấy:
Giá trị khối lượng xây dựng đã thực hiện: 1.519.798.084 đồng (40,42% của giá trị
hợp đồng xây dựng).
Bà D không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH T1 vì
giữa bà D và công ty B thỏa thuận tạm ứng 04 đợt, sau đó thỏa thuận thành 06 đợt –
đây là thỏa thuận về tạm ứng chứ không phải thanh toán vì các lần nhận tiền không
có nghiệm thu, quá trình thi công không đúng tiến độ, thi công không đúng thiết kế,
rút ruột công trình; vi phạm nghiêm trọng hợp đồng và việc thanh toán phải trên cơ
sở giá trị khối lượng công trình đã thực hiện. Do vậy, yêu cầu của công ty là xác
định các giai đoạn thanh toán là không hợp lý và cũng không có ý nghĩa trong việc
giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
4
Nay bà D khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH T1 trả lại số tiền đã nhận vượt
quá khối lượng hiện tại công ty đã thực hiện 2.350.000.000 đồng - 1.519.798.084
đồng = 830.201.916 đồng và yêu cầu ông L trả lại 50.000.000 đồng tiền làm bờ
móng và hàng rào, yêu cầu công ty TNHH T1 trả lại cho bà D các chi phí tố tụng mà
bà D tạm ứng khi khởi kiện.
Bị đơn – Công ty TNHH T1 - người đại diện theo pháp luật: ông Lê Hồng L
trình bày:
Công ty T1 và chủ đầu từ là bà D có ký hợp đồng số: 01/HĐTC_LU/2024
ngày 06/01/2024, hình thức hợp đồng “Chìa khóa trao tay” xây dựng nhà ở, trị giá
hợp đồng là 3.730.000.000 đồng, hợp đồng, thanh toán 06 giai đoạn thi công.
Trong suốt quá trình thi công xây dựng từ khi khởi công đến ngày 30/7/2024
hai bên là bà D và công ty không xảy ra sai phạm, không tranh chấp. Công ty thực
hiện đúng hợp đồng đã ký kết, không vi phạm về thời gian thi công, đúng thiết kế
cũng như không rút ruột công trình, do đó công ty không đồng ý với toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của bà D.
Bà D chấm dứt hợp đồng thi công với công ty trái quy định pháp luật, cụ thể:
Thông báo tạm ngưng thi công công trình ngày 02/8/2024 vi phạm khoản 3 Điều 40
Nghị định số 37/2015/NĐ-CP và Thông báo chấm dứt hợp đồng xây dựng ngày
10/8/2024 vi phạm khoản 3 Điều 41 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP.
Công ty TNHH T1 đã thực hiện xong giai đoạn 3 của hợp đồng (giai đoạn
thực hiện phần thô theo hợp đồng), giai đoạn 3 bà D đã thanh toán nhưng còn nợ
công ty số tiền: 150.000.000 đồng, công ty đang hoàn thành giai đoạn 4 được 35%
khối lượng hiện trạng thực tế, số tiền bà D còn phải thanh toán giai đoạn 4 là
210.000.000 đồng và số tiền: 45.366.000 đồng phần chi phí phát sinh mà công ty
thực hiện theo yêu cầu thay đổi thiết kế của bà D (thay đổi khu vệ sinh, sửa chữa
phòng ngủ, cửa số hành lang…).
Do bà D đơn phương chấm dứt hợp đồng không đúng quy định pháp luật nên
yêu cầu bà D thanh toán cho công ty số tiền bà D còn phải thanh toán: 150.000.000
đồng + 210.000.000 đồng + 31.632.000 đồng = 391.632.000 (Ba trăm chín mươi
mốt triệu sáu trăm ba mươi hai ngàn đồng.)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông H1 trình bày: Ông là chồng bà
D, vợ chồng ông có ký kết hợp đồng xây dựng với Công ty TNHH T1 do ông L làm
giám đốc, xây dựng nhà ở tại số nhà G, ấp L, xã L, thị xã H (nay là khu phố L,
phường L), tỉnh Tây Ninh nhưng tất cả ký tên trong hợp đồng đều do bà D ký tên.
Ông đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của vợ ông là bà D, ông không có ý kiến
khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bà D rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không tranh chấp về chi phí xây bờ
móng, tường hàng rào với số tiền: 50.000.000 đồng với ông L; yêu cầu Công ty
TNHH T1 trả số tiền tạm ứng vượt quá khối lượng xây dựng hoàn thành tại thời
điểm tạm ngưng thi công: 830.201.916 đồng (cụ thể: 2.350.000.000 đồng -
5
1.519.798.084 đồng) và chi phí giám định 69.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Ông H1 thống nhất ý kiến bà D, không có ý kiến khác.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà D – ông H trình bày:
Công ty TNHH T1 vi phạm thời gian thi công, vi phạm quy định tại Điều 4;
xây dựng không đúng thiết kế, vi phạm khoản 4 Điều 1 của Hợp đồng; việc công ty
nhận tiền là tạm ứng vì không có nghiệm thu công trình theo từng giai đoạn trong
hợp đồng. Bà D chấm dứt hợp đồng không vi phạm thời hạn trong hợp đồng và đúng
theo quy định pháp luật, căn cứ công văn số: 53/TNPCGĐTNXD ngày 05/12/2024
và kết luận giám định, yêu cầu khởi kiện của bà D là có căn cứ.
Đại diện theo pháp luật Công ty TNHH T1 – ông L trình bày: Tại đơn khởi
kiện, công ty yêu cầu chi phí phát sinh do bà D thay đổi thiết kế số tiền: 45.366.000
đồng, nay yêu cầu lại số tiền này là 31.632.000 đồng. Yêu cầu bà D thanh toán cho
công ty T2 tiền còn lại 391.632.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Tại Bản án sơ thẩm 335/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 Tòa án nhân
dân Khu vực 10- Tây Ninh quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 244, 157, 161, 217 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Căn cứ Điều 117 Bộ luật Dân sự, các Điều 138, 139, 140, 144, 145 Luật xây
dựng năm 2014.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu D đối với Công ty TNHH
T1 về “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”.
Buộc Công ty TNHH T1 có trách nhiệm trả lại cho bà Trần Thị Thu D số tiền:
830.202.000 (tám trăm ba mươi triệu, hai trăm lẻ hai nghìn) đồng.
Kể từ ngày bà Trần Thị Thu D có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi
hành án xong, Công ty TNHH T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự
2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu D đối với ông Lê Hồng L
về thỏa thuận xây bờ móng tường rào số tiền: 50.000.000 đồng. Bà Trần Thị Thu D
được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại yêu cầu này theo quy định của
pháp luật.
3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T1 đối với
bà Trần Thị Thu D về yêu cầu trả số tiền: 391.632.000 đồng.
4. Về chi phí tố tụng:
6
Buộc Công ty TNHH T1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Trần Thị Thu D số tiền:
69.000.000 (sáu mươi chín triệu) đồng là chi phí giám định trong vụ án.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc Công ty TNHH T1 phải chịu 36.906.000 đồng phí dân sự sơ thẩm do
yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu D được chấp nhận và 19.581.000 đồng do
yêu cầu của Công ty TNHH T1 không được chấp nhận, khấu trừ vào số tiền tạm ứng
án phí dân sự sơ thẩm Công ty TNHH T1 đã nộp 10.107.500 đồng theo biên lai thu
số 0011658 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh
Tây Ninh, Công ty TNHH T1 còn phải tiếp tục nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm
46.379.500 (bốn mươi sáu triệu, ba trăm bảy mươi chín nghìn, năm trăm) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/10/2025, Công ty TNHH T1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm: Sửa Bản án dân sự 335/2025/DS – ST, ngày 24 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu chấp nhận phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn xác định Công ty T1 đã vi phạm nhiều nội dung của hợp
đồng: Thời hạn thi công, thiết kế thi công…Công ty T1 đã nhận Công văn số
53/TNPCGĐCLXD-PTN ngày 25/11/2024 về khối lượng giá trị xây dựng thực tế
Công ty T1 đã thi công nhưng không có khiếu nại nên đề nghị giữ nguyên án sơ
thẩm.
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Luật sư bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
của bị đơn cho rằng Hợp đồng số: 01/HĐTC_LU/2024 ngày 06/01/2024 giữa Công
ty T1 và bà D là hợp đồng trọn gói nên không thể giám định giá trị công trình để
buộc Công ty T1 trả lại cho bà D số tiền 830.201.916 đồng. Công ty T1 không vi
phạm nội dung nào trong hợp đồng như bà D viện dẫn. Ngược lại, bà D là người vi
phạm thời hạn thanh toán. Tính đến thời điểm ngưng thi công, Công ty T1 đã thực
hiện được 35% khối lượng của giai đoạn 4 nên yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên
tòa:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
7
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa; ý kiến Tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của Công ty T1 nộp trong thời hạn luật định, về hình thức và
nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của Công ty T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Nguyên đơn là Trần Thị Thu D, bị đơn Công ty TNHH T1 (sau đây gọi
tắt là Công ty T1), do ông Lê Hồng L là người đại diện theo pháp luật và cũng là
giám đốc công ty và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn H1 có
nhiều lần ký kết hợp đồng xây dựng nhưng Hợp đồng xây dựng được các bên thống
nhất, chính thức thực hiện sử dụng là Hợp đồng số: 01/HĐTC_LU/2024 ngày
06/01/2024, chủ đầu tư: Bà Trần Thị Thu D, thi công xây lắp: Công ty TNHH T1,
hình thức hợp đồng trọn gói “Chìa khóa trao tay”, công trình là nhà ở, xây trên thửa
đất 332, tờ bản đồ số 5, địa chỉ số G, đường Q, ấp L, xã L, thị xã H (nay là khu phố
L, phường H) tỉnh Tây Ninh giá trị xây dựng là 3.730.000.000 đồng, phương thức
thanh toán gồm 06 giai đoạn, tạm ứng (giá trị ban đầu, CP cọc vật tư) 200.000.000
đồng; giai đoạn 1 (khởi công và tập kết vật tư chính) số tiền: 900.000.000 đồng; giai
đoạn 2 (nghiệm thu phần sàn lầu 2) số tiền: 600.000.000 đồng; giai đoạn 3 (nghiệm
thu phần thô) số tiền: 800.000.000 đồng; giai đoạn 4 (nghiệm thu 80% trát tường và
ốp gạch) số tiền: 600.000.000 đồng; giai đoạn 5 (nghiệm thu 80% phần trét bột phần
tường) số tiền: 500.000.000 đồng; giai đoạn 6 (nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng)
số tiền: 100.000.000 đồng; tạm giữ (giá trị bảo hành 12 tháng) số tiền: 30.000.000
đồng, thời gian thi công là 150 ngày (khởi công ngày 19/03/2024; hoàn thành ngày
19/01/2024).
Ngoài ra ông L và bà D còn thỏa thuận bằng lời nói về việc xây bờ móng,
tường hàng rào trọn gói với giá: 50.000.000 đồng.
Việc thực hiện theo hợp đồng đến ngày 01/8/2024 thì các bên không tiếp tục
thực hiện, Công ty T1 không tiếp tục thi công do bà D không giao tiền. Bà D xác
định Công ty T1 đã tạm ứng số tiền 2.350.000.000 đồng, vượt quá giá trị khối lượng
xây dựng hoàn thành nhưng Công ty không nghiệm thu công trình mà yêu cầu tiếp
tục được tạm ứng tiếp số tiền 500.000.000 đồng. Bà D không đồng ý, yêu cầu Công
ty tiếp tục thi công nhưng Công ty T1 không đồng ý và đã ngừng thi công. Đồng
thời, ngày 2/8/2024 bà D cũng thông báo bằng văn bản yêu cầu Công ty T1 tạm
ngừng thi công từ ngày 02/8/2024 đến khi có kết quả giám định chất lượng và khối
8
lượng thực tế của công trình. Việc các bên có tranh chấp và tạm dừng hợp đồng có
vi phạm về thời gian thông báo tạm dừng theo khoản 3, Điều 40 Nghị định số
37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2025 quy định chi tiết về Hợp đồng xây dựng. Tuy nhiên,
cả chủ đầu tư và bên nhận thầu đều thông báo tạm dừng nên không xem xét đến trách
nhiệm bồi thường do không thông báo trước 28 ngày cho bên kia theo quy định.
Đến ngày 10/8/2024 bà D thông báo bằng văn bản, đơn phương chấm dứt
hợp đồng với Công ty T1. Trong khi các bên đang tạm dừng hợp đồng để giải quyết
các vi phạm hợp đồng nhưng chưa giải quyết bà D lại thông báo đơn phương chấm
dứt hợp đồng là không phù hợp với hợp đồng mà các bên đã ký kết (Hợp đồng số:
01/HĐTC_LU/2024 ngày 06/01/2024 không thoả thuận về việc chấm dứt hợp đồng),
đồng thời không phù hợp với Thông báo ngày 02/8/2024 của bà D đối với Công ty
T1 (dừng đến khi có kết quả giám định chất lượng và khối lượng thực tế của công
trình) .Như vậy, việc bà D đơn phương chấm dứt hợp đồng với Công ty T1 là không
phù hợp với quy định tại Điều 43 Nghị định.
Bà D xác định Công ty T1 đã tự ý ngừng thi công và vi phạm thời hạn thi
công, thi công không đúng thiết kế đã ký kết, công trình lấn sang ranh đất liền kề,
Công ty T1 đã vi phạm hợp đồng và ngoài ra bờ móng hàng rào khi sử dụng bị đứt
gãy nên bà D có đơn khởi kiện yêu cầu Công ty T1 trả lại số tiền đã nhận vượt quá
giá trị khối lượng thi công là 830.201.916 đồng và 50.000.000 đồng ông L nhận xây
bờ móng, tường hàng rào nhưng không đảm bảo chất lượng. Bà D căn cứ Kết quả
giám định của Trung tâm quy hoạch và giám định chất lượng xây dựng, giám định
chi phí hoàn thành của Công trình do Công ty T1 thực hiện là 1.519.798.084 đồng
để xác định số tiền bà D đã trả cho Công ty L3 830.202.000 (tám trăm ba mươi triệu,
hai trăm lẻ hai nghìn) đồng. Buộc Công ty T1 trả cho bà D số tiền 830.202.000 (tám
trăm ba mươi triệu, hai trăm lẻ hai nghìn) đồng. Ông L xác định Công ty T1 tuân thủ
đúng phương thức thanh toán trong hợp đồng, mỗi giai đoạn đều nghiệm thu và nhận
đúng số tiền của giai đoạn đó, có ký tên khi nhận tiền, từ khi thi công đến nay đã
nhận của bà D số tiền: 2.350.000.000 đồng, Công ty T1 đã thực hiện xong giai đoạn
3 (nghiệm thu phần thô) và bà D còn nợ lại số tiền giai đoạn 3 là 150.000.000 đồng
và đang thực hiện giai đoạn 4 được 35% khối lượng hiện trạng thực tế trong giai
đoạn 4, thành tiền: 35% x 600.000.000 đồng = 210.000.000 đồng. Ngoài ra, trong
quá trình thi công, Công ty T1 thi công theo ý kiến thay đổi thiết kế của bà D với số
tiền là 31,632.000 đồng, việc xây hàng rào ông L đã thực hiện xong, xác định có gãy
nứt nhưng đã khắc phục xong, hiện nay bà D đang sử dụng, bà D đã vi phạm hợp
đồng xây dựng, cụ thể vi phạm khoản 3 Điều 40 và khoản 3 Điều 41 Nghị định số:
37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 nên không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của bà D và yêu cầu bà D hoàn trả tổng số tiền: 150.000.000 + 210.000.000 +
31,632.000 đồng là 391.632.000 đồng.
Xét thấy: Nguyên đơn và bị đơn ký kết hợp đồng xây dựng với hình thức Hợp
đồng trọn gói, chìa khoá trao tay. Đây là loại hợp đồng có giá cố định không thay
đổi trong suốt quá trình thực hiện đối với toàn bộ phạm vi công việc, yêu cầu kỹ
thuật và tiến độ đã thỏa thuận. Nhà thầu cam kết hoàn thành toàn bộ dự án theo mức
chi phí chốt ban đầu, bất kể biến động giá cả vật tư hay chi phí phát sinh thực tế, trừ
9
trường hợp bất khả kháng hoặc chủ đầu tư thay đổi phạm vi công việc. Nhà thầu có
trách nhiệm thực hiện toàn bộ công việc từ thiết kế, mua sắm, thi công đến hoàn
thiện. Việc thanh toán được thực hiện một lần hoặc nhiều lần dựa trên khối lượng
công việc hoàn thành thực tế so với hợp đồng. Hợp đồng các bên đã ký và thừa nhận
cũng thể hiện việc thanh toán được xác định dựa trên khối lượng công việc hoàn
thành, không phụ thuộc vào giá trị của hợp đồng theo từng giai đoạn. Tại Kết quả
giám định vụ việc số 09/TTQHGĐCLXD-PTN ngày 25/11/2024, tổng hợp kết quả
đo đạc kiểm tra khối lượng xây dựng của công trình, thể hiện: Nội dung chưa hoàn
thành gồm - Tô trát tường bên trong, trát tường ngoài, kẻ ron tường 2,5cm, ốp gạch
tường. Như vậy, phần thô của công trình đã cơ bản hoàn thành. Như đã phân tích về
hợp đồng trọn gói, việc thanh toán theo từng giai đoạn chỉ mang tính tạm ứng, khi
thanh toán không đòi hỏi có xác nhận khối lượng hoàn thành chi tiết. (Khoản 5, Điều
19 Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015). Cấp sơ thẩm căn cứ bảng giá trị vật
tư của Công trình do Công ty đã thực hiện tại thời điểm giám định để buộc Công ty
T1 trả cho bà D 830.202.000 là không phù hợp với thoả thuận giữa các bên và quy
định của pháp luật.
Đối với các nội dung vi phạm hợp đồng như bà D trình bày: Công ty T1 không
thống nhất với các nội dung bà D đưa ra. Các bên cũng chưa có biên bản làm việc
thống nhất về các nội dung vi phạm hợp đồng. Trong trường hợp nếu có các vi phạm
nội dung hợp đồng thì các bên có nghĩa vụ thống nhất vi phạm để xác định trách
nhiệm bồi thường. Nếu không thống nhất thì có quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt
hại căn cứ vào điều khoản của hợp đồng và Điều 43 Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày
22/4/2015. Trong vụ án này, các đương sự không có yêu cầu bồi thường thiệt hại
hợp đồng nên không có cơ sở xem xét.
[2.2] Đối với yêu cầu của Công ty T1 về việc yêu cầu bà D thanh toán tiếp số
tiền 150.000.000 đồng + 210.000.000 đồng + 31.632.000 đồng = 391.632.000 (Ba
trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi hai ngàn đồng.) Trong đó 150.000.000
đồng là số tiền cần thanh toán của giai đoạn 3; 210.000.000 đồng là khối lượng thực
tế của giai đoạn 4; 31.632.000 đồng là chi phí phát sinh do bà D yêu cầu thay đổi
thiết kế. Xét thấy, việc thay đổi thiết kế không được các bên lập thành văn bản, bà
D không thừa nhận nội dung này nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Công
ty T1. Đối với số tiền còn lại, như đã phân tích ở trên, việc thanh toán theo giai đoạn
của các bên mang tính tạm ứng. Do công trình chưa được nghiệm thu hoàn công nên
không có căn cứ xác định giá trị thực tế. Các bên không khởi kiện yêu cầu bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng nên không có cơ sở xác định thiệt hại. Cấp sơ thẩm
không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty T1 là có căn cứ.
[3] Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản án sơ thẩm chưa
đánh giá đúng bản chất vụ án, áp dụng pháp luật chưa phù hợp. Công ty T1 kháng
cáo có cơ sở chấp nhận một phần. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản
án sơ thẩm là chưa phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án và quy định của
pháp luật nên không chấp nhận.
10
[4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu cảu bà D không được chấp nhận nên bà Trần
Thị Thu D phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng.
[5] Về án phí sơ thẩm dân sự: Bà Trần Thị Thu D được miễn án phí do thuộc
trường hợp người cao tuổi có đơn xin miễn án phí. Công ty T1 phải chịu án phí đối
với yêu cầu không được chấp nhận.
[6] Án phí phúc thẩm dân sự: Do kháng cáo của Công ty T1 được chấp nhận
một phần nên Công ty T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định
tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH T1. Sửa Bản án
dân sự sơ thẩm số 335/2025/DS-ST ngày 24-9-2025 của Tòa án nhân dân Khu vực
10 - Tây Ninh.
Căn cứ Điều 117 Bộ luật Dân sự, các Điều 138, 139, 140, 144, 145 Luật xây
dựng năm 2014.
Căn cứ các Điều 19, 40, 41 Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 Quy
định chi tiết về hợp đồng xây dựng.
Căn cứ khoản 2, Điều 12, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu D đối với Công
ty TNHH T1 về “Tranh chấp hợp đồng xây dựng” buộc Công ty TNHH T1 có trách
nhiệm trả lại cho bà Trần Thị Thu D số tiền 830.202.000 (tám trăm ba mươi triệu,
hai trăm lẻ hai nghìn) đồng.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu D đối với Công ty TNHH
T1 về thỏa thuận xây bờ móng tường rào số tiền 50.000.000 đồng. Bà Trần Thị Thu
D được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại yêu cầu này theo quy định của
pháp luật.
3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của Công ty TNHH T1 đối với
bà Trần Thị Thu D về yêu cầu trả số tiền 391.632.000 đồng.
4. Về chi phí tố tụng:
Bà Trần Thị Thu D phải chịu số tiền: 69.000.000 (sáu mươi chín triệu) đồng
là chi phí giám định trong vụ án. Bà D đã nộp xong.
11
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị Thu D phải chịu 36.906.000 đồng phí dân sự sơ thẩm nhưng được
miễn nộp do thuộc trường hợp người cao tuổi có đề nghị miễn án phí. Công ty TNHH
T1 phải chịu 19.581.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm
Công ty TNHH T1 đã nộp 10.107.500 đồng theo biên lai thu số 0011658 ngày
21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (nay
là Phòng Thi hành án Khu vực 10 – Tây Ninh), Công ty TNHH T1 còn phải tiếp tục
nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm 9.473.500 (Chín triệu bốn trăm bảy mươi ba nghìn
năm trăm) đồng.
6. Án phí dân sự phúc thẩm:
Công ty TNHH T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho
Công ty TNHH T1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo lai thu số 0005683 ngày
06 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật Thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tối cao tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND Khu vực 10 - Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Đương sự;
- Phòng HCTP-TAND tỉnh TN;
- Phòng GĐ, TT, KT&THA.TANDTTN;
- Lưu. hồ sơ, lưu trữ, tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Thị Thuý Lành
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng