Bản án số 289/2026/KDTM-PT ngày 11/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về cung ứng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 289/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 289/2026/KDTM-PT ngày 11/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 289/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/08/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 289/2026/KDTM-PT Bản án số 289/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 289/2026/KDTM-PT Bản án số 289/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG A HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 289/2026/KDTM-PT
Ngày 11-8-2026
V/v:“Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Trí Thức
Ông Trần Minh Bắc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ số
224/2025/TLPT-DS ngày 04-8-2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch v”.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 15/2025/DSST ngày 25-4-
2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực
11 Thành phố Hồ Chí Minh) bị nguyên đơn, bđơn kháng cáo Viện trưởng
Viện kiểm t nhân dân thành phố Vũng Tàu (nay Viện kiểm sát khu vực 11
Thành phố Hồ Chí Minh) kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2496/2026/QĐ-PT ngày
23-4-2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 6211/2026/QĐ-PT ngày 05-5-2026,
Thông báo hoãn phiên tòa số 8115/2026/TB-TA ngày 21/5/2025, Thông báo mở
lại phiên tòa số 10559/2026/TB-TA ngày 13-7-2026, Thông báo thay đổi thời gian
mở phiên tòa số 11964/TB-TA ngày 30/7/2026, giữa:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần D.
Địa chỉ: A Bis T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Lê Thanh H Tổng Giám đốc
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1971; địa chỉ: C M,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Bị đơn: Công ty TNHH A - T.
Địa chỉ: A P, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Ngọc T1 Tổng Giám đốc
2
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Uyên U, địa chỉ: 1 Cc T, khu ph
F, T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Ông Nguyễn Văn P; địa chỉ: D H, phường
R, Thành phố Hồ Chí Minh. (ông P, bà U có mặt)
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Bùi Ngọc T1, sinh năm 1960; địa chỉ: A N, phường V, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Thị Uyên U, địa chỉ: 1 Cc T, khu ph
F, T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Ông Quang V, địa chỉ: khu phố E,
phường B thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; Ông Nguyễn Văn P; địa chỉ: D H, phường R,
Thành phố Hồ Chí Minh. (ông P, bà U mặt; ông V vắng mặt)
3.2 Ông Trần Lê Thanh H.
Địa chỉ: A Bis T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1971; địa chỉ: C M,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn Công ty Cổ phần D và ông Trần Lê Thanh
H; Bị đơn Công ty TNHH A - T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện quá trình tham gia tố tụng tại Tòa, nguyên đơn
và đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Công ty Cổ phần D (sau đây gọi tắt Công ty D) Công ty TNHH A (sau
đây gọi tắt Công ty D) đã ký kết Hợp đồng dịch vụ phân phối số
05/2022/HĐDVPP ngày 24/05/2022 (sau đây gọi tắt “Hợp đồng”) các Phụ
lục Hợp đồng về việc phân phối các sản phẩm Căn hộ du lịch thuộc Dự án Khu D
(tên thương mại “The Maris”) tại Phường A, Phường A, thành phố V, tỉnh
Rịa - Vũng Tàu với các nội dung thỏa thuận:
Công ty D có nghĩa vụ và quyền lợi:
+ Đóng tiền ký quỹ: theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng.
+ Công ty D thực hiện dịch vụ phân phối sản phẩm theo quy định Hợp đồng
với thời gian trong vòng 04 tháng kể từ ngày công bố giá chính thức, tức từ ngày
05/10/2022 đến ngày 05/02/2023 (căn cứ trên thời gian phát hành bảng giá của
Công ty D).
+ Khi hoàn tất công việc, Công ty D được Công ty D hoàn trả tiền quỹ
và thanh toán phí dịch vụ theo tiến độ như sau:
- Lần 1: Công ty D thanh toán 70% phí phân phối khi Khách hàng hoàn tất
ký Hợp đồng đặt cọc và thanh toán đủ đợt 1 theo Hợp đồng đặt cọc.
- Lần 2: Công ty D thanh toán 30% phí phân phối khi Khách hàng hoàn tất
thanh toán đủ đợt 2 theo Hợp đồng đặt cọc.
a) Công ty D có quyền và nghĩa vụ:
3
- Được Công ty D làm đại diện phân phối sản phẩm theo quy định Hợp
đồng.
- Công ty D có trách nhiệm hoàn trả tiền quỹ và thanh toán đúng, đủ phí
phân phối cho Công ty D trong thời hạn 05-07 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được hồ sơ thanh toán hợp lệ của Công ty D.
1/Thực hiện Hợp đồng, Công ty D đã chuyển cho Công ty D số tiền quỹ
(theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng) để đảm bảo cho việc phân phối
8.000.000.000 đồng (tám tỷ đồng) Công ty D đã xác nhận nhận đủ theo phiếu
thu ngày 24/05/2022.
Sau khi thực hiện quỹ theo quy định Hợp đồng, đến thời hạn kết thúc
công việc theo Hợp đồng, Công ty D đã thực hiện hoàn tất công việc dịch vụ phân
phối và được Công ty D xác nhận tổng phí phân phối được thanh toán trong thời
gian thực hiện Hợp đồng 24.407.114.250 đồng (Hai mươi bốn tỷ bốn trăm lẻ
bảy triệu một trăm mười bốn ngàn hai trăm năm mươi đồng) và hoàn trả toàn bộ
tiền ký quỹ 8.000.000.000đồng (Tám tỷ đồng).
Theo quy định Hợp đồng, Công ty D nghĩa vụ thanh toán toàn btổng
phí phân phối hoàn trả tiền ký quỹ cho Công ty D sau khi hai bên xác nhận
công nợ.
Mặc đã xác nhận công nợ nhưng Công ty D không thực hiện đúng
theo các nội dung đã thỏa thuận trong Hợp đồng. Đến tháng 11/2023, Công ty D
chưa thanh toán toàn bộ phí phân phối còn nợ Công ty D với số tiền
6.017.297.098 đồng (sáu tỷ không trăm mười bảy triệu hai trăm chín mươi bảy
ngàn không trăm chín mươi tám đồng) cũng như chưa hoàn trả toàn bộ số tiền ký
quỹ 8.000.000.000 đồng (Tám tỷ đồng).
Nhận thấy, Công ty D không thực hiện đúng nội dung Hợp đồng, Công ty
D đã nhiều lần gửi văn bản yêu cầu thanh toán phí phân phối tiền quỹ nhưng
Công ty D không thực hiện đúng nội dung Hợp đồng, chưa thực hiện thanh toán
đúng quy định và nhiều lần cam kết thực hiện thanh toán qua các văn bản:
-Văn bản số 25/CV-AVTTDTD ngày 20/02/2023;
-Văn bản số 37/CV-AVTTDTD ngày 17/03/2023 (Đối với khoản tiền
quỹ 8.000.000.000 đồng (tám tỷ đồng) của Công ty D, Công ty D xác nhận:
“Tiền quỹ sẽ được Chủ đầu hoàn lại cho DKRV sau 5 tháng sau khi phát
hành công văn này (tức ngày 17/08/2023)
-Văn bản số 84/CV-AVTTDTD ngày 14/07/2023.
Sau nhiều lần Công ty D gửi văn bản yêu cầu thực hiện đúng quy định Hợp
đồng và thỏa thuận đã cam kết, ngày 07/11/2023 Công ty D và Công ty D đã làm
việc xác nhận Biên bản đối chiếu công nợ số 01/BBĐCCN/AVTTDTD-
DKRV với tổng số tiền nợ (bao gồm nợ gốc, phí chưa đối chiếu và lãi chậm thanh
toán) Công ty D nghĩa vphải thanh toán 14.240.536.429 đồng (mười bốn
4
tỷ hai trăm bốn mươi triệu năm trăm ba mươi sáu ngàn bốn trăm hai mươi chín
đồng).
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, Công ty D chỉ thanh toán 5.705.640.053
đồng (năm tỷ bảy trăm lẻ năm triệu sáu trăm bốn mươi ngàn không trăm năm
mươi ba đồng) vào ngày 08/12/2023, ngày 15/12/2023 và ngày 29/12/2023. Công
ty D vẫn chưa được Công ty D thanh toán số tiền nợ còn lại theo quy định Hợp
đồng và Biên bản đối chiếu công nợ với tổng giá trị (bao gồm nợ gốc và phí chưa
đối chiếu) là: 8.534.896.376 đồng (tám tỷ năm trăm ba mươi bốn triệu tám trăm
chín mươi sáu ngàn ba trăm bảy mươi sáu đồng). Công ty D đã văn bản số
03/2024/CV-DKRV ngày 05/01/2024 đề nghị thanh toán toàn bộ công nợ nhưng
Công ty D không bất kỳ thông tin hay thông báo phản hồi về việc sẽ thanh toán
số tiền còn nợ cho Công ty D.
Công ty D không thực hiện thanh toán nợ theo quy định Hợp đồng và thỏa
thuận cam kết là đã vi phạm Hợp đồng, vi phạm pháp luật giao dịch dân sự, xâm
hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty D.
Do đó, Công ty Cổ phần D khởi kiện, yêu cầu:
- Buộc Công ty TNHH A thực hiện đúng nội dung Hợp đồng dịch vụ phân
phối số 05/2022/HĐDVPP, thanh toán ngay đầy đủ cho Công ty Cổ phần D
toàn bộ các khoản nợ là: 8.000.000.000 đồng (tám tỷ đồng).
- Buộc Công ty TNHH A phải thanh toán cho Công ty Cổ phần D khoản tiền
lãi chậm thanh toán 163.812.274 đồng (một trăm sáu mươi ba triệu tám trăm
mười hai ngàn hai trăm bảy mươi đồng) theo lãi suất 08%/năm.
- Buộc Công ty TNHH A có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ án phí của vụ kiện
này.
Công ty D ông Trần Thanh H ý kiến đối với yêu cầu phản tố của
Công ty D như sau:
1. Về đơn tố cáo Công ty D:
- Căn cứ: Bộ Luật Hình sự năm 2015 Luật sửa đổi bổ sung Bộ Luật Hình
sự năm 2017; Luật Tố cáo s25/2018/QH14 các Điều 2, Điều 9 Luật Tố cáo
quy định về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo.
Công ty D đã vi phạm cam kết, không thanh toán tiền nợ (Công ty D đã
trình bày vi phạm của Công ty D trong bản t khai ngày 16/4/2024 ngày
22/5/2024).
Công ty D đã rất nhiều lần gửi văn bản cũng như liên hệ trực tiếp/gián tiếp
nhằm tạo điều kiện cho Công ty D khắc phục vi phạm đồng thời cảnh báo sẽ
áp dụng các biện pháp tài phán cũng như hệ qukhi áp dụng biện pháp tài phán
theo quy định pháp luật.
Công ty D không phản hồi, không hợp tác, cố tình trốn tránh và không liên
lạc để giải quyết việc vi phạm đã nhận được rất nhiều văn bản đề nghị của
5
Công ty D, có dấu hiệu phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của Công
ty D.
Nhận thấy Công ty D do ông Bùi Ngọc T1 đại diện pháp luật dấu hiệu
vi phạm pháp luật hình s đã xâm hại đến tài sản của Công ty D, ngày
01/11/2023 Công ty D đã làm đơn tố cáo ông Bùi Ngọc T1 đại diện pháp luật
Công ty D hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” với số tiền
15.813.896.418 đồng đã được Phòng C1 - Công an tỉnh C1 tiếp nhận thụ
ngày 01/11/2023.
Như vậy, việc Công ty D gửi đơn tố cáo và Phòng C1 - Công an tỉnh B tiếp
nhận thụ giải quyết cho thấy việc gửi đơn tố cáo của Công ty D hoàn toàn
căn cứ và đúng với quy định pháp luật.
Mặt khác, trong các biên bản làm việc giữa các bên tại quan công an
(Công ty D đã đề nghị Tòa thu thập chứng cứ trong Bản tự khai ngày 22/5/2024)
trong Phiếu hướng dẫn ngày 18/12/2023 của Phòng C1 - ng an tỉnh B đã thể
hiện:
quan công an giải quyết vviệc trên sở các tài liệu, chứng cứ liên
quan bao gồm cả tài liệu của Công ty D cung cấp.
Công ty D đã có hành vi vi phạm pháp luật và để tránh bị xử lý hình sự sau
khi bcơ quan công an mời làm việc thì ông Bùi Ngọc T1 - Công ty D mới thực
hiện thủ tục xác nhận nợ, chịu thanh toán một phần nợ (ngày 07/12/2023 thanh
toán 2.000.000.000 đồng/15.813.896.418 đồng) cam kết trong tháng 12/2023
sẽ thanh toán toàn bộ số tiền nợ còn lại cho Công ty D.
Phiếu hướng dẫn ngày 18/12/2023 được lập sau quá trình các bên làm việc
tại quan công an chỉ sau khi ông Bùi Ngọc T1 - Công ty D đã thanh toán
một phần nợ đồng thời có cam kết trong tháng 12/2023 sẽ thanh toán toàn bộ tiền
nợ cho Công ty D.
quan công an không xác định việc tố cáo của Công ty D là tcáo không
có chứng cứ, là tố cáo vu khống, là vi phạm pháp luật hay bị xử lý vi phạm hành
chính về tố cáo. Cơ quan công an có xác định Công ty D phải thực hiện nghĩa vụ
thanh toán toàn bộ số tiền nợ như đơn tố cáo cho Công ty D.
Như vậy, qua các tài liệu chứng cứ liên quan, Công ty D thực hiện tố cáo
ông Bùi Ngọc T1 Công ty D hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản” với số tiền 15.813.896.418 đồng căn cứ và hoàn toàn phù hợp với
quy định pháp luật. Để bào chữa và trốn tránh nghĩa vụ thanh toán, Công ty D đã
cố ý lập luận đánh tráo khái niệm, diễn giải sự việc không đúng thực trạng, không
đúng với tài liệu chứng cứ đã cam kết khi làm việc với quan công an, không
tuân thủ quy định pháp luật nhằm quy kết Công ty D tố cáo không căn cứ cũng
như vi phạm quy định bảo mật đã cung cấp thông tin.
6
nội dung phản tố quy kết Công ty D hành vi tố cáo chưa đúng quy
định pháp luật, không có chứng cứ chứng minh, vi phạm quy định bảo mật cung
cấp thông tin, của Công ty D hoàn toàn không căn cứ pháp luật, không
đúng với các tài liệu, chứng cứ liên quan nên Công ty D đề nghị Tòa án không
chấp nhận toàn bộ nội dung phản tố này.
2. Về yêu cầu mở thủ tục phá sản Công ty D:
- Căn cứ: Bộ Luật Ttụng n sự năm 2015; Luật Doanh nghiệp năm 2014;
Luật Phá sản năm 2014.
Công ty D đã vi phạm cam kết, không thanh toán tiền nợ quá thời hạn 03
tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn. (Công ty D đã trình bày vi phạm của ng ty
D trong bản tự khai ngày 16/4/2024 và ngày 22/5/2024).
Công ty D đã rất nhiều lần gửi văn bản cũng như liên hệ trực tiếp/gián tiếp
nhằm tạo điều kiện cho Công ty D khắc phục vi phạm đồng thời cảnh báo sẽ
áp dụng các biện pháp tài phán theo quy định pháp luật cũng như Công ty D phải
chịu những hệ quả phát sinh từ việc bị áp dụng các biện pháp tài phán.
Công ty D không phản hồi, không hợp tác, không liên lạc để giải quyết việc
vi phạm dù đã nhận được rất nhiều văn bản đề nghị của Công ty D. Điều này cho
thấy Công ty D đã biết sbị áp dụng biện pháp tài phán nhưng vẫn không thực
hiện yêu cầu của Công ty D, có dấu hiệu mất khả năng thanh toán khoản nợ theo
quy định tại Điều 5 Luật Phá sản năm 2014.
Nhận thấy Công ty D dấu hiệu mất khả năng thanh toán nợ, xâm hại đến
tài sản của Công ty D cần được quan Nhà nước thẩm quyền bảo vquyền
lợi ích hợp pháp, Công ty D đã làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với
Công ty D đã được Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu thụ theo thông báo
số 04/2023/TB-TLTTPS ngày 06/12/2023.
Như vậy, Công ty D yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với Công ty D đã
được Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu thụ giải quyết cho thấy việc yêu
cầu mở thủ tục phá sản của Công ty D căn cứ và hoàn toàn phù hợp với quy
định pháp luật.
Tháng 01/2024, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu ra quyết định số
01/2024/QĐST-PS V/v đình chỉ giải quyết yêu cầu mở thtục phá sản, theo đó lý
do đình chỉ không phải yêu cầu mở thủ tục phá sản không có căn cứ hoặc không
đúng quy định pháp luật, mà là do Công ty D rút đơn yêu cầu.
Căn cứ vào Thông báo thụ lý, Quyết định đình chỉ yêu cầu mở thủ tục phá
sản đối với Công ty D đối chiếu với nội dung phản tố của Công ty D thể
thấy ng ty D đã cung cấp thông tin không đúng sự thật, cố ý lập luận đánh tráo
khái niệm, diễn giải sự việc không đúng thực trạng, không đúng với tài liệu chứng
cứ liên quan để quy kết Công ty D mở thủ tục phá sản không pháp , gây thiệt
7
hại, nhằm mục đích lấp liếm, che dấu vi phạm, trốn tránh nghĩa vụ phải
thanh toán.
Do nội dung phản tố quy kết Công ty D không có căn cứ khi thực hiện mở
thủ tục phá sản của Công ty D là hoàn toàn không căn cứ pháp luật, không
đúng với các tài liệu, chứng cứ liên quan nên Công ty D đề nghị Tòa án không
chấp nhận toàn bộ nội dung này.
3-Về quy định bảo mật thông tin:
Căn cứ nội dung điểm c Khoản 2 Điều 11 “Nghĩa vụ bảo mật” của Hợp
đồng dịch vụ phân phối số 05/2022/HĐDVPP: “Được yêu cầu tiết lộ bởi cơ quan
thẩm quyền hoặc bất kỳ tòa án có thẩm quyền xét xử thích hợp nào đối với Bên
tiết lộ”
Căn cứ quy định về nghĩa vụ của người tố cáo tại điểm b Khoản 2 Điều 9
Luật Tố cáo: “Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài
liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được”
Căn cứ quy định về nghĩa vụ của người quyền yêu cầu mở thủ tục phá
sản tại Khoản 1 Điều 5: “Chủ nợ không bảo đảm, chủ nợ bảo đảm một phần
quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày
khoản nợ đến hạn doanh nghiệp, hợp tác không thực hiện nghĩa vụ thanh
toán” quy định về tài liệu đính kèm đơn mở thủ tục phá sản tại khoản 2 Điều
26 Luật Phá sản năm 2014: “Kèm theo đơn phải chứng cứ để chứng minh
khoản nợ đến hạn”
Công ty D cung cấp cho quan công an (thụ đơn tcáo), Tòa án (thụ
yêu cầu mở thủ tục phá sản) các tài liệu liên quan đến giao dịch giữa Công ty
D với Công ty D là hoàn toàn đúng quy định pháp luật và đúng với quy định bảo
mật Hợp đồng vì:
Công ty D đang thực hiện các quyền (tố cáo, yêu cầu mở thủ tục phá sản,
khởi kiện) để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định pháp luật
đối với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm Hợp đồng của Công ty D.
Công ty D cung cấp các tài liệu giao dịch theo yêu cầu của quy định pháp
luật khi làm các thủ tục tố tụng tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Do đó, Công ty D cung cấp thông tin, tài liệu giao dịch cho quan công an,
tòa án việc làm tuân thủ quy định pháp luật việc này tương tự như Công ty
D đã cung cấp thông tin, tài liệu giao dịch đính kèm Bản tự khai, Đơn yêu cầu
phản tố.
Việc Công ty D cho rằng Công ty D cung cấp tài liệu, thông tin giao dịch
cho các quan tố tụng vi phạm thỏa thuận bảo mật đã cho thấy Công ty D
không hiểu hoặc có chủ trương không tuân thủ quy định pháp luật hoặc cố ý viện
dẫn, diễn giải việc thực hiện nghĩa vụ không đúng quy định Hợp đồng nhằm cung
8
cấp thông tin không trung thực đến các quan tố tụng để bào chữa che dấu
việc vi phạm pháp luật của mình.
4. Về nội dung zalo trao đổi giữa cá nhân người Công ty D và Công ty D:
Căn cứ nội dung Vi bằng số 45/2024/VB-TPLBRVT ngày 20/5/2024
Căn cứ xác nhận những nhân trao đổi zalo trong Đơn yêu cầu phản tố
của Công ty D
Căn cứ quy định về trao đổi, thay đổi nội dung giao dịch tại Khoản 3 Điều
12 “Quy định khác” của Hợp đồng dịch vụ phân phối số 05/2022/HĐDVPP
Công ty D nhận thấy:
Việc trao đổi thông tin qua zalo giữa nhân người của Công ty D với
nhân người của Công ty D không phải phương thức trao đổi thông tin giữa Công
ty D và Công ty D đã thỏa thuận quy định trong Hợp đồng.
nhân người Công ty D trao đổi thông tin qua zalo không phải người
thẩm quyền quyết định giải quyết theo quy định Hợp đồng nên nội dung trao
đổi zalo không phải quan điểm chính thức của Công ty D Công ty D không
chịu trách nhiệm bất kỳ vấn đề gì liên quan đến nội dung trao đổi qua zalo này.
5. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại:
Như Công ty D đã trình bày tại mục 1, 2, 3 4 nêu trên về toàn bộ nội
dung phản tố của Công ty D hoàn toàn không có căn cứ pháp lý, không đúng với
thực trạng tài liệu, chứng cứ liên quan nên yêu cầu bồi thường thiệt hại của
Công ty D là hoàn toàn không có cơ sở và không đúng quy định pháp luật.
Công ty D đnghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của
Công ty D trong Đơn yêu cầu phản tố ngày 26/6/2024 và tuyên buộc Công ty D
thực hiện các yêu cầu khởi kiện của Công ty D theo Đơn khởi kiện ngày
22/01/2024.
Bị đơn Công ty TNHH A và ông Bùi Ngọc T1 trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Công ty TNHH A (sau đây gọi
tắt là Công ty D) không đồng ý với các lí do như sau:
1. Hai bên chưa ký Phụ lục Hợp đồng sửa đổi Khoản 5.5 Điều 5 Hợp đồng
số 05 nhưng Công ty D khởi kiện yêu cầu thanh toán công nợ đối với
8.000.000.000 đồng tiền quỹ là sai quy định trong Hợp đồng và quy định của
pháp luật, nên bị đơn không chấp nhận, thể hiện bởi:
Công ty D Chủ đầu Dự án Khu D (Tên thương mại: The Maris) tọa
lạc tại Đường C Phường A, 11, TP ., tỉnh Rịa - Vũng Tàu (Dự án). Ngày
24/5/2022, Công ty D Hợp đồng dịch vụ phân phối số: 05/2022/HĐDVPP &
các Phụ lục về việc phân phối các Sản phẩm Căn hộ du lịch thuộc Dán (Hợp
đồng số 05). Theo Hợp đồng, Công ty D cho Công ty D số tiền: 8.000.000.000
đồng (tám tỷ đồng) để đảm bảo cho việc phân phối độc quyền: 534 Căn hộ du lịch
thuộc Dự án; Thời hạn Hợp đồng 4 tháng kể từ ngày 05/10/2022 đến ngày
9
06/02/2023. Theo quy định tại Khoản 5.5 Điều 5 Hợp đồng số 05: “Trong trường
hợp tổng số lượng Căn hộ Bên B phân phối chỉ đạt dưới 50% tổng số lượng Căn
hộ du lịch được giao theo Phụ lục số 01 Hợp đồng này thì số tiền ký quỹ của Bên
B sẽ được sử dụng vào việc mua lại các Sản phẩm Căn hộ của Bên A theo giá đã
được ban hành,…”. Như vậy, để được nhận lại toàn bộ số tiền quỹ, thì trong
thời hạn 4 tháng kể từ ngày 05/10/2022 đến ngày 06/02/2023, Công ty D phải bán
ít nhất 267 Căn hộ. Nhưng hết thời hạn này, Công ty D chỉ bán được: 121 Căn hộ,
chiếm tỷ lệ: 22,66%, nên chưa đủ điều kiện nhận lại tiền ký quỹ, phải sdụng
số tiền này vào việc mua lại các Sản phẩm Căn hộ The Maris theo giá đã được
Công ty D phát hành ngày 05/10/2022.
Theo quy định tại Điều 12.3 Hợp đồng số 05: “Mọi thỏa thuận sửa đổi, bổ
sung Hợp đồng này đều phải được lập thành Phụ lục chữ của đại diện
hợp pháp giữa hai bên. Mọi thỏa thuận hoặc ghi nhớ bằng lời nói hoặc bằng văn
bản giữa hai bên có nội dung liên quan đến Hợp đồng này sẽ không còn giá tr…”.
Nên trường hợp gần hết thời hạn hoặc sau khi hết thời hạn Hợp đồng Hợp
đồng chưa chấm dứt theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, Công
ty D bán không đạt 50% tổng số lượng Căn hộ du lịch được giao, nhưng không
muốn sử dụng số tiền ký quỹ để mua các Sản phầm The Mariss, muốn nhận
lại tiền thì Công ty D phải thương lượng ký kết Phụ lục Hợp đồng với Công ty D
để sửa đổi, bổ sung Khoản 5.5 Điều 5 Hợp đồng số 05, ngoài hình thức Phụ lục
thì các Hình thức khác đều không giá trị pháp lý. Trên sở Phụ lục Hợp đồng
này, Công ty D mới chứng từ hợp pháp để thanh quyết toán, hoàn trả lại tiền
cho Công ty D.
- Kể từ sau khi hết thời hạn Hợp đồng (ngày 06/02/2023) & Hợp đồng chưa
chấm dứt, giữa Công ty D thực hiện nhiều hành vi pháp qua lại với nhau. Bề
mặt Công văn, chứng tthể hiện những hành vi pháp này nhắc nợ, đòi nợ,
đối chiếu công nợ qua lại. Nhưng khi xét từng hành vi, từng Công văn thì thấy:
Công ty D có đề nghị giao kết Phụ lục Hợp đồng với Công ty D cũng có đề nghị
giao kết Phụ lục Hợp đồng với Công ty D nhằm sửa đổi Khoản 5.5 Điều 5 Hợp
đồng số 05 theo hướng hoàn trả lại toàn bộ tiền ký quỹ cho Công ty D1”. Nhưng
hai bên không thương lượng được, nên không được Phụ lục Hợp đồng. Cụ th
như sau:
+ Ngày 17/3/2023, ng ty D Công văn 37 gửi Công ty D (Công văn
37), trong đó nội dung: Vtiền quỹ, theo quy định tại Khoản 5.5 Điều 5
của Hợp đồng dịch v phân phối số 05/2022/HĐDVPP, trong trường hợp tổng số
lượng Căn hộ DKRV phân phối chỉ đạt dưới 50% tổng số lượng Căn hộ du lịch
được giao thì số tiền ký quỹ 8.000.000.000 đồng của DKRV sẽ được sử dụng vào
việc mua c sản phẩm của Chủ đầu theo giá được ban hành. Kết quả bán hàng
sau khi kết thúc đợt bán hàng DKRV đạt được dưới 50% tổng số lượng Căn hộ
10
du lịch được giao. Tuy nhiên, Chủ đầu tư quyết định không áp dụng phạt tiền
quỹ của DKRV theo điều khoản này. Tiền quỹ sẽ được Chủ đầu hoàn lại cho
DKRV sau 5 tháng sau khi phát hành văn bản này”. Theo Điều 6 Bộ luật Dân sự
quy định về “Áp dụng tương tự pháp luật& Điều 386 Bộ luật Dân sự quy định
về đề nghị giao kết Hợp đồng: 1. Đề nghị giao kết hợp đồng việc thể hiện rõ
ý định giao kết hợp đồng chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đnghị đối
với bên đã được xác định (sau đây gọi chung bên được đề nghị)”, Điều 12.3
Hợp đồng số 05, thì việc Công ty D đồng ý trả lại tiền ký quỹ cho Công ty D sau
5 tháng sau khi phát hành Công văn 37 Đề nghị giao kết Phụ lục hợp đồng
với Công ty D để sửa đổi Khoản 5.5 Điều 5 Hợp đồng số 05.
Sau khi nhận được Công văn 37, nếu Công ty D chấp nhận nhận lại tiền
quỹ sau 5 tháng sau khi Công ty D phát hành Công văn 37” thì Công ty D phải
căn cứ Điều 393, 394 Bộ luật Dân sự trả lời bằng Văn bản cho Công ty D về việc
chấp nhận nội dung Công văn 37, đồng thời phối hợp thương lượng với Công ty
D kết Phụ lục Hợp đồng để cùng nhau thực hiện. Tuy nhiên, Công ty D không
đồng ý thời hạn trả tiền Công ty D đưa ra, nên ngày 11/5/2023 Công ty D phát
hành Công văn số: 16/2023/CV-DKRV về việc thanh toán công nợ cho Hợp đồng
số 05/2022/HĐDVPP (lần 4) trong đó nội dung: Khoản tiền quỹ: Hợp đồng
phân phối giữa Chủ đầu tư và DKRV đã kết thúc từ ngày 06/02/2023, đến nay đã
hơn 3 tháng DKRV vẫn chưa được hoàn tiền ký quỹ cho Hợp đồng này. DKRV
đề nghị Chủ đầu hoàn trả tiền quỹ cho Hợp đồng 8.000.000.000đồng
trước ngày 30/6/2023”; Đây là Công văn chính thức do Người đại diện theo pháp
luật của Công ty D ký gửi đến Công ty D, nên có giá trị pháp lý, được xem là trả
lời đề nghị giao kết Phụ lục Hợp đồng với Công ty D. Theo nội dung Công văn
thể hiện: Công ty D không chấp nhận đnghị giao kết Phụ lục Hợp đồng với Công
ty D: Công ty D đề nghị thanh toán tiền quỹ sau 5 tháng sau ngày 17/3/2023,
nhưng Công ty D buộc Công ty D phải trả trước ngày 30/6/2023. Nên khi nhận
được trả lời của Công ty D thì Công ty D không chấp nhận, vậy 2 bên không
tiến đến ký kết Phụ lục Hợp đồng sửa đổi Khoản 5.5 Điều 5; do đó Công ty D xác
định việc thương lượng kết Phụ lục hợp đồng với Công ty D không thành,
Công văn 37 không còn giá trị theo Điều 391 Bộ luật Dân sự.
- Công ty D đề nghị giao kết Phụ lục Hợp đồng để sửa đổi Khoản 5.5 Điều
5 Hợp đồng số 05, nhưng Công ty D không chấp nhận, thể hiện tại hoặc bởi:
+ Ngày 17/7/2023, Công ty D phát nh Công văn số: 23/2023/CV-DKRV,
trong đó nội dung: Tiền quỹ Hợp đồng 8.000.000.000 đồng…đề nghị
quý Công ty thanh toán khoản nợ nêu trên trước ngày 30/7/2023”. Theo Điều 6
Bộ luật Dân squy định về “Áp dụng tương tự pháp luật& Điều 386 Bộ luật
Dân sự như nêu trên thì nội dung này của Công ty D Đề nghị giao kết Phụ lục
Hợp đồng” mới gửi đến Công ty D. Theo quy định của pháp luật về dân sự, như
11
nêu trên thì trong khoảng thời gian từ ngày 17/7/2023 30/7/2023 Công ty D phải
trả lời bằng văn bản cho Công ty D biết có đồng ý ký kết Phụ lục Hợp đồng như
đề nghị của ng ty D hay không. Nếu hết thời hạn này, mà Công ty D không có
văn bản chính thức trlời thì theo quy định tại Khoản 2 Điều 393 Bộ luật Dân sự:
2. Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi chấp nhận đề nghị giao
kết hợp đồng...”, thực tế sau khi nhận được Công văn này, Công ty D không
văn bản trả lời, nên theo quy định của pháp luật Công ty D không đồng ýkết
Phụ lục Hợp đồng để sửa đổi Khoản 5.5 Điều 5 Hợp đồng số 05. Nên nội dung đề
nghị giao kết Phụ lục Hợp đồng trong Công văn số 23 không còn giá trị theo Điều
391 Bộ luật Dân sự.
+ Ngày 20/7/2023, Công ty D phát nh Công văn số: 25/2023/CV-DKRV,
trong đó nội dung: “Đối với khoản tiền quỹ cho Hợp đồng, theo Công văn
số 37/2023/AVTTDTD ngày 17/3/2023, DKRV đề nghị Chủ đầu hoàn trả khoản
tiền quỹ 8.000.000.000 đồng vào ngày 17/8/2023. Sau thời gian nêu trên,
DKRV sẽ tính lãi phạt chậm thanh toán bổ sung là 8%/năm.” Nnêu trên, Công
văn 37 đã hết hiệu lực theo Công văn số: 16/2023/CV-DKRV ngày 11/5/2023 của
Công ty D kể từ ngày 30/6/2023 & theo Điều 391 Bộ luật Dân sự. Do đó, việc
Công ty D viện dẫn Công văn 37 trong Công văn 25 không giá trị pháp lý;
đối với nội dung: “…Chủ đầu hoàn trả khoản tiền quỹ 8.000.000.000
đồng vào ngày 17/8/2023. Sau thời gian nêu trên, DKRV stính lãi phạt chậm
thanh toán bổ sung 8%/năm” một đề nghị giao kết Phụ lục Hợp đồng mới
của Công ty D gửi đến Công ty D; trong khoảng thời gian từ ngày 20/7/2023 đến
ngày 17/8/2023, Công ty D phải có văn bản trả lời đồng ý thì hai bên tiến hành
Phụ lục Hợp đồng, nếu Công ty D im lặng hoặc văn bản trả lời không đồng ý
thì xem như Công ty D không đồng ý giao kết Phụ lục Hợp đồng theo nội dung
đề nghị của Công ty D. Thực tế trong khoảng thời gian này Công ty D không có
văn bản trả lời, hoàn toàn im lặng nên không phụ lục Hợp đồng nào được
kết, để sửa đổi Khoản 5.5 Điều 5 Hợp đồng số 05; Nên đề nghị giao kết Phụ lục
Hợp đồng trong Công văn 25 không còn giá trị theo Điều 391 Bộ luật Dân sự.
+ Ngày 18/8/2023, Công ty D phát hành Công văn số 26/2023/CV-DKRV
về việc hoàn trả tiền quỹ Hợp đồng số 05/2022/HĐDVPP trong đó nội dung:
DKRV yêu cầu Chủ đầu hoàn trả tiền quỹ nêu trên trước ngày 31/8/2023
như đã cam kết theo Công văn số 37/2023/AVTTD của Chủ đầu tư”. Trong khi
Công văn 37 xác định thời hạn trả tiền ký quỹ là sau 5 tháng sau ngày phát hành
Công văn 37, không phải trước ngày 31/8/2023, hơn nữa Công văn 37 đã chấm
dứt theo Điều 391 Bộ luật Dân sự như nêu trên.
Từ những tình tiết khách quan nêu trên, có thể kết luận rằng: Công văn 37
của Công ty D phát hành không còn gtrị pháp lý, trong khi hai bên chưa Phụ
lục Hợp đồng sửa đổi Khoản 5.5 Điều 5 Hợp đồng số 05. Nên số tiền quỹ phải
12
được giải quyết theo Khoản 5.5 Điều 5 Hợp đồng số 05, không được giải quyết
theo Công văn số 37.
2. Hai bên chưa ký Phụ lục Hợp đồng sửa đổi Khoản 5.5 Điều 5 Hợp đồng
số 05, nhưng ký Biên bản đối chiếu Công nợ ngày 07/11/2023, trong đó xác định
số tiền quỹ 8.000.000.000 đồng công nợ là vi phạm Hợp đồng & vi phạm
pháp luật nên nội dung này không có gía trị pháp lý, thể hiện:
- Ngày 07/11/2023, hai bên Biên bản đối chiếu công nợ, trong đó tại
Phần 3 hai bên đã xác định & thừa nhận: “Công ty TNHH A còn phải thanh toán
cho Công ty Cổ phần D số tiền quỹ là: 8.000.000.000 đồng…”. Hai bên
Biên bản này trong bối cảnh Công văn 37, các Công văn qua lại trước đó giữa hai
bên không còn giá trị pháp nphân tích Phần 1. Việc hai bên chuyển tiền
quỹ 8.000.000.000 đồng thành công nợ, khi chưa kết Phlục Hợp đồng sửa
đổi Khoản 5.5 Điều 5 Hợp đồng số 05 vi phạm Điều 12.3 Hợp đồng số 05: Mọi
thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng này đều phải được lập thành Phụ lục
chcủa đại diện hợp pháp giữa hai bên. Mọi thỏa thuận hoặc ghi nhớ bằng
lời nói hoặc bằng văn bản giữa hai bên có nội dung liên quan đến Hợp đồng này
sẽ không còn giá tr…”. Nên nội dung này trong Biên bản đối chiếu công nngày
07/11/2023 là không có giá trị. Bị đơn không chấp nhận.
3. Đối với ông Trần Huy C trong các Công văn gửi đến Công ty D,
ông C lấy danh hiệu là Phó Tổng giám đốc, nhưng trong quá trình thực hiện Hợp
đồng số 05, Công ty D chỉ nhận được giấy tờ về cách hợp pháp của ông Trần
Thanh H1 người đại diện theo pháp luật, kiêm Tổng giám đốc Công ty; ng
ty D không nhận được bất cứ giấy tờ hợp pháp nào, như Giấy ủy quyền của người
đại diện theo pháp luật của Công ty D về việc ủy quyền cho ông C tham gia quá
trình thực hiện Hợp đồng số 05, đại diện trao đổi, đề nghị, thương lượng với Công
ty D các vấn đề liên quan đến Hợp đồng số 05 & Giấy ủy quyền này phải được
gửi hợp pháp cho Công ty D. Do đó mọi văn bản, giấy tờ do ông C gửi qua
Công ty D đều không có giá trị pháp lý.
Mặt khác, thứ nhất: tại Hợp đồng số 05/2022/HĐDVPP ngày 24/5/2022
nội dung: Trong trường hợp tổng số lượng Căn hộ Bên B phân phối chỉ đạt
dưới 50% tổng số lượng Căn hộ du lịch được giao theo Phụ lục số 01 Hợp đồng
này thì số tiền ký quỹ của Bên B sẽ được sử dụng vào việc mua lại các Sản phẩm
Căn hộ của Bên A theo giá đã được ban hành,…” (Khoản 5.5 Điều 5 Hợp đồng
số 05), tCông ty D đã thực hiện đúng Hợp đồng thể hiện tại Công văn số:
01/2024/AVTTD ngày 02/01/2024: “Đnghị DKRV lựa chọn Sản phẩm Căn hộ
du lịch của Công ty A1 quy đổi tiền quỹ ra sản phẩm theo giá AVTTD ban
hành”, nhưng đến nay Công ty D không phối hợp thực hiện, mà khởi kiện ra Tòa
án.
13
Thứ hai, tại Công văn s26/2023/CV-DKRV ngày 18/8/2023 và Công văn
số 30/2023/CV-DKRV ngày 11/9/2023 của Công ty D, đã xác định số tiền:
8.000.000.000 đồng là tiền ký quỹ; Tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày
07/11/2023 giữa hai bên đã tách bạch một cách rạch ròi giữa “Công nợ” & “Tiền
quỹ”, trong Biên bản ghi rõ: mục 1 “số tiền chi tiết công nợ”, mục 2 “số tiền
bên B quỹ”: 8.000.000.000 đồng; Tại Công văn số 23/2023/AVTTD ngày
17/3/2023, Công ty D vẫn khẳng định 8.000.000.000 đồng là tiền ký quỹ, thay
Công ty D phải sử dụng số tiền này mua Sản phẩm Căn hộ du lịch của Công ty D
do tỷ lệ bán hàng thấp hơn 50%- thì Công ty D ý kiến sẽ hỗ trợ trả lại cho Công
ty D. Nhưng Công ty D không ghi nhận thiện chí này, từ tháng 11/2023 đến
tháng 01/2024, Công ty D thực hiện nhiều hành động pháp làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của Công ty D người đại diện của Công ty,
khiến Công ty K kinh doanh được. Nên Công ty D quyết định không tiếp tục hỗ
trợ Công ty D theo tinh thần Công văn số 23/2023/AVTTD ngày 17/3/2023, mà
đề nghị Công ty D Sản phẩm Căn hộ du lịch của Công ty D quy đổi tiền quỹ
ra sản phẩm theo giá Công ty D ban hành.
Do đó, Công ty D không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty
D. Đồng thời đề nghị ng ty D liên hệ với Công ty D để thực hiện Khoản 5.5
Điều 5 Hợp đồng số 05 lựa chọn sản phẩm Căn hộ du lịch của AVTTD quy
đổi tiền ký quỹ ra sản phẩm theo giá AVTTD ban hành”.
2. Công ty D và ông Bùi Ngọc T1 có yêu cầu phản tố với các nội dung:
- Buộc Công ty D bồi thường thiệt hại cho Công ty D số tiền: 1.692.233.000
đồng.
- Buộc Công ty D và ông Trần Lê Thanh H cải chính công khai trên B trong
03 số liên tiếp, đối với hai (2) hành vi:
(i).Hành vi thứ nhất: Nộp “Đơn yêu cầu tuyên bố phá sản” đối với ng ty
D tại TAND thành phố Vũng Tàu nhưng không chứng minh được Công ty D
Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật
Phá sản năm 2014 (TAND thành phố Vũng Tàu đã ban hành Quyết định đình chỉ
giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản số: 01/2024/QĐST-PS ngày 29/01/2024);
(ii).Hành vi thứ hai: Nộp Đơn tố cáo ông Bùi Ngọc T1 người đại diện theo
pháp luật - Tổng giám đốc Công ty D ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh
C1, vì cho rằng ông T1 lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Công ty D thông qua việc
Hợp đồng dịch vụ phân phối số: 05/2022/HĐDVPP ngày 24/5/2022, nhưng
sau đó quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C1 kết luận không sự việc phạm
tội (Phiếu hướng dẫn s152/HD-CSKT-Đ1 ngày 18/12/2023 của Phòng Cảnh sát
kinh tế Công an tỉnh C1).
Việc Công ty D thực hiện 2 hành vi nêu trên đã làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến danh dự, uy tín của Công ty D, của người đại diện theo pháp luật - Tổng
14
giám đốc Công ty, gây thiệt hại nghiêm trọng đến kết quả kinh doanh của Công
ty, thể hiện:
- Giai đoạn Công ty D thực hiện 2 hành vi nêu trên, tCông ty D đã chi
cho quảng cáo: 1.692.233.000 đồng. Khi so sánh kết quả phân phối căn hộ du lịch
Dự án The Maris thời điểm bị tố cáo, bị yêu cầu mở thủ tục phá sản với những
tháng sau đó, thấy:
+ Tháng 11/2023, Công ty D tố cáo đến Công an Tỉnh, Công ty D không
phân phối được Căn hộ Condotel thuộc Dự án The Maris, kết quả bán hàng Tháng
11/2023: 0 đồng;
+ Tháng 12/2023, sau khi kết luận không sự việc phạm tội như nội
dung Đơn tố cáo, Công ty D bắt đầu tổ chức các sự kiện để phân phối sản phẩm,
người đại diện Công ty có thể tự tin trao đổi với khách hàng về Dự án, về sự phát
triển của Dự án cam kết với khách hàng, nên kết quả bán hàng đạt:
29,028,652,647 đồng;
+ Sau khi quan Điều tra xác định không sự việc phạm tội, Công ty D
nộp Đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản đối với Công ty D (là Chủ đầu tư Dự
án T), khiến Công ty D không thể phân phối được Căn hộ tại Dán T, kết quả
phân phối Căn hộ bắt đầu giảm, từ 29,028,652,647 đồng trong Tháng 12/2023, thì
Tháng 01/2024 giảm còn: 16,075,570,634 đồng, Tháng 2/2024 tiếp tục giảm, chỉ
còn: 7,748,211,738 đồng.
+ Sau khi TAND TP Vũng Tàu quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu mở
thủ tục phá sản của, thì Công ty D bắt đầu có kế hoạch, chương trình phân phối,
kết quả bán hàng đã khởi sắc, tăng dần, điển hình Tháng 3 đạt: 22,098,842,498
đồng, Tháng 4/2024 đạt: 28,672,888,175 đồng.
-Căn cứ vào Khoản 11.3 Điều 11 Hợp đồng số 05: Các bên đồng ý rằng
bất cứ vi phạm nào đối với nghĩa vụ bảo mật thông tin này thgây ra những
tổn hại không thể khôi phục được đối với bên còn lại, theo đó bên n lại quyền
tìm kiếm các biện pháp đgiảm nhẹ thiệt hại buộc bên vi phạm bồi thường
toàn bộ thiệt hại một khoản tiền không thấp hơn giá trị hợp đồng này”, nên
Công ty D có quyền yêu cầu Công ty D bồi thường thiệt hại.
Từ nội dung như trình bày trên, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận toàn
bộ yêu cầu phản tố của Công ty D.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 15/2025/KDTM-ST ngày
25/4/2025 của a án nhân dân Thành phố Vũng Tàu (nay Tòa án nhân dân
Khu vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh) đã tuyên xử:
- Căn cứ Điều 11, Điều 357, Khoản 2 Điều 468, Điều 584, Điều 592 Bộ
Luật dân sự; Khoản 1 Điều 5 Luật Phá sản 2018;
- Căn cứ Khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều
39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
15
- Căn cứ các khoản 2,4,5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Công ty Cổ phần D đối với Công ty
TNHH A về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
Buộc Công ty TNHH A hoàn trả cho Công ty Cổ phần D số tiền ký quỹ
8.000.000.000(tám tỷ)đồng và tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là
756.800.000(bảy trăm năm mươi sáu triệu tám trăm nghìn)đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH A chấp nhận
yêu cầu độc lập của ông Bùi Ngọc T1 đối với nhân ông Trần Lê Thanh H và
Công ty Cổ phần D.
+ Buộc ông Trần Thanh H Công ty Cổ phần D cải chính công khai
trên B 03 số liên tiếp đối với hành vi yêu cầu tuyên bố phá sản đối với Công ty
A2 hành vi tố cáo sai sthật đối với nhân ông Bùi Ngọc T1 -Tổng Giám
đốc Công ty TNHH A - T.
+ Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của Công ty TNHH A đối
với Công ty Cổ phần D về khoản tiền 1.692.233.000 (một tỷ sáu trăm chín mươi
hai triệu hai trăm ba mươi ba nghìn)đồng.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, án phí theo luật
định.
Ngày 09/5/2025, bị đơn Công ty TNHH A kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu
cầu sửa bản án thẩm theo hướng: không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị đơn đối với nguyên
đơn là 1.692.233.000đồng.
Ngày 09/5/2025 nguyên đơn Công ty Cổ phần D người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan ông Trần Lê Thanh H kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm
theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại Quyết định kháng nghị số 03/KN-VKS-KDTM ngày 09/5/2025 của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu (nay là VKSND khu
vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh) đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản
án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ngày 22/7/2026, VKSND khu vực 11 ban hành Quyết định số 303/QĐ-
VKS-KDTM rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/KN-VKS-
KDTM ngày 09/5/2025.
Tại phiên tòa phúc thẩm: nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
16
Về tố tụng: kháng cáo của nguyên đơn; bị đơn; người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đúng trình tự, thủ tục thời hạn nên chấp nhận xem xét theo trình
tự phúc thẩm.
Kháng ngh ca Viện trưởng Vin kim sát nhân dân khu vc 11 Thành ph
H Chí Minh: Ngày 22/7/2026, VKSND khu vực 11 ban hành Quyết định số
303/QĐ-VKS-KDTM rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/KN-
VKS-KDTM ngày 09/5/2025 phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 284 Bộ
luật Tố tụng dân snăm 2015, do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 289
Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét x phúc thm đối vi phn kháng ngh ca
Vin kim sát nhân dân Khu vực 11.
Về nội dung:
Kháng cáo của nguyên đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan bị
đơn không căn cứ, tại phiên toà các đương snêu trên cũng không cung cấp
được tài liệu, chứng cứ nào mới nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và bị đơn.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 289, khoản 1 Điều 308 Bộ luật
Tố tụng dân sự, tuyên:
+ Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty D người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Lê Thanh H.
+ Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH A - T.
- Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
và bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng
xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn; bđơn; người quyền lợi, nghĩa vụ
liên trong hạn luật định đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội
đồng xét xphúc thẩm chấp nhận xem xét lại Bản án kinh doanh thương mại
thẩm số 15/2025/KDTM-ST ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân n thành phố Vũng
Tàu (nay Tòa án nhân dân Khu vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh) theo trình tự
phúc thẩm.
Về Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 Thành
phố Hồ Chí Minh:
Tại Quyết định kháng nghị số 03/KN-VKS-KDTM ngày 09/5/2025 của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu (nay Viện kiểm sát nhân
17
dân khu vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh) đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một
phần bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ngày 22/7/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 ban hành
Quyết định số 303/QĐ-VKS-KDTM rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc
thẩm số 03/KN-VKS-KDTM ngày 09/5/2025.
Xét thấy việc rút toàn bộ Quyết định kháng nghtrên phù hợp với quy định
tại khoản 3 Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó căn cứ Điều 289
Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét x phúc thm đối vi kháng ngh ca Vin
kim sát nhân dân khu vc 11 Thành ph H Chí Minh.
Tại phiên toà, nguyên đơn Công ty Cổ phần D bổ sung kháng cáo yêu cầu
tính tiền lãi từ ngày 22/4/2025 đến ngày 23/6/2026 683.200.000đồng; tuy nhiên
yêu cầu trên vượt quá yêu cầu kháng cáo ban đầu nên Hội đồng xét xử không xem
xét.
[2] Sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã tống
đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử giấy triệu tập hợp lệ đã đơn xin xét xử
vắng mặt, giấy ủy quyền; theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 296 Bộ luật Tố
tụng dân sự thì sự vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng tới việc xét xử vụ
án.
[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu
tranh chấp hợp đồng dịch vụ. Căn cứ Điều 30, Điều 35 và Điều 40 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân Khu
vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh) giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm
là đúng thẩm quyền.
[4] Xét nội dung đơn kháng cáo của bị đơn: bị đơn Công ty TNHH A kháng
cáo bản án thẩm, yêu cầu sửa bản án thẩm theo hướng: không chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt
hại của bị đơn đối với nguyên đơn là 1.692.233.000đồng.
[4.1]. Theo xác nhận của nguyên đơn và bđơn: Công ty Cổ phần D (gọi
tắt là Công ty D) và Công ty TNHH A (gọi tắt là Công ty D) đã ký kết Hợp đồng
dịch vụ phân phối số 05/2022/HĐDVPP ngày 24/05/2022 các Phụ lục Hợp
đồng vviệc phân phối các sản phẩm Căn hộ du lịch thuộc Dự án Khu D (tên
thương mại là “The Maris”) tại Phường A, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu.
[4.2]. Thực hiện Hợp đồng, Công ty D đã chuyển cho Công ty D số tiền
quỹ (theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng) để đảm bảo cho việc phân phối
8.000.000.000 (tám tỷ) đồng Công ty D đã xác nhận nhận đủ theo phiếu thu
ngày 24/05/2022 là có thật, được các bên thừa nhận.
[4.3]. Sau khi thực hiện ký quỹ đến khi chấm dứt công việc theo Hợp đồng,
Công ty D đã thực hiện một phần công việc dịch vụ phân phối được Công ty
18
D xác nhận tổng phí phân phối được thanh toán trong thời gian thực hiện Hợp
đồng là 24.407.114.250 đồng.
Do Công ty D không hoàn trả tiền ký quỹ nên Công ty D khởi kiện yêu cầu
Công ty D trả 08 (tám) tỷ đồng tiền nợ ký quỹ và tiền lãi phát sinh do chậm trả.
Công ty D nêu lý do không trả tiền ký quỹ là:
Theo quy định tại Khoản 5.5 Điều 5 Hợp đồng số 05: Trong trường hợp
tổng số lượng Căn hộ Bên B phân phối chỉ đạt dưới 50% tổng slượng Căn hộ
du lịch được giao theo Phụ lục số 01 Hợp đồng này thì số tiền ký quỹ của Bên B
sẽ được sử dụng vào việc mua lại các Sản phẩm Căn hộ của Bên A theo giá đã
được ban hành,…”. Như vậy, để được nhận lại toàn bộ số tiền quỹ, thì trong
thời hạn 4 tháng kể từ ngày 05/10/2022 đến ngày 06/02/2023, Công ty D phải bán
ít nhất 267 Căn hộ. Nhưng hết thời hạn này, Công ty D chỉ bán được 121 Căn hộ,
chiếm tỷ lệ 22,66%, nên chưa đủ điều kiện nhận lại tiền ký quỹ, mà phải sử dụng
số tiền này vào việc mua lại các sản phẩm Căn hộ The Maris theo giá đã được
Công ty D phát hành ngày 05/10/2022.
Tuy nhiên tại Văn bản số 37/2023/AVTTD ngày 17 tháng 3 năm 2023,
Công ty D xác nhận tại mục 3:
“3. Vphần tiền quỹ, theo Khoản 5.5 Điều 5 của Hợp đồng Dịch vụ
phân phối số 05/2022/HĐPP. Trong trường hợp số lượng căn hDKRV phân
phối chỉ đạt dưới 50% tổng số lượng căn hộ du lịch được giao thì stiền ký quỹ
của DKRV sẽ được sử dụng vào việc mua lại các sản phẩm căn hộ của Chủ đầu
theo giá được ban hành. Kết quả bán ng sau khi kết thúc đợt bán hàng DKRV
đạt dưới 50% tổng số lượng căn hộ du lịch được giao. Tuy nhiên, chủ đầu tư quyết
định không áp dụng phạt tiền ký quỹ của DKRV theo điều khoản này. Tiền ký quỹ
sẽ được chủ đầu tư hoàn lại cho DKRV sau 05 tháng phát hành công văn này”.
Theo cam kết, đến hết ngày 17/8/2023 thì Công ty D phải hoàn trả tiền ký
quỹ cho Công ty D nhưng đến nay chưa hoản trả là vi phạm cam kết.
Mặt khác Văn bản số 37/2023/AVTTD ngày 17 tháng 3 năm 2023 ca Công
ty D phợp với Biên bản đối chiếu công nợ số 01/BBĐCCN/AVTTD-DKRV
ngày 07/11/2023 giữa hai bên thể hiện tại mục 3:
3. Công ty TNHH A - T còn phải thanh toán cho Công ty Cổ phần D là: Số
tiền ký quỹ: 8.000.000.000 (Bằng chữ: Tám tỷ đồng chẵn).
Như vậy có căn cứ xác định Công ty D đã vi phạm nghĩa vụ cam kết trả nợ
quỹ 8.000.000.000đồng cho Công ty D; từ việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán
nên phải chịu lãi suất theo quy định 756.800.000đồng. Toà án cấp thẩm chấp
yêu cầu này của Công ty D là có căn cứ.
[4.4]. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại: Công ty D yêu cầu bồi thường
1.692.233.000 đồng là thiệt hại, cụ thể là chi phí cho các hợp đồng quảng cáo với
08 khoản chi; trong đó Hợp đồng dịch vụ quảng cáo với Công ty TNHH M
19
ngày 01/11/2023 Hợp đồng với Công ty TNHH T3 ngày 06/11/2023 thể hiện
Công ty D kết hợp đồng quảng cáo khi chưa bị tác động tiêu cực từ hành vi
pháp xâm phạm quyền dân sự của Công ty D; số tiền chi cho các hợp đồng
quảng cáo trên chi phí chi theo kế hoạch của hợp đồng không phải thiệt hại
thực tế do tác động tiêu cực thành vi pháp xâm phạm quyền dân sự của Công
ty D; ng ty D không chứng minh và không đưa ra được thiệt hại. Việc yêu cầu
bồi thường trên của Công ty D là chưa căn cứ, Toà án cấp sơ thẩm không chấp
nhận là có căn cứ.
Như vậy kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ nên không chấp nhận.
[5] Xét kháng cáo của nguyên đơn Công ty D và người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan ông Trần Lê Thanh H cùng yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
- Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại: như đã
phân tích tại mục [4.4] thì yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị đơn không căn
cứ chấp nhận.
- Đối vi yêu cu phn t ca ông Bùi Ngc T1 và Công ty D v vic buc
Công ty D và ông Trn Lê Thanh H ci chính công khai, xét thấy:
Đối với việc Công ty D nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với Công
ty D, tài liệutrong hồ thể hiện việc yêu cầu này xuất phát từ tranh chấp về
nghĩa vụ thanh toán tiền phí phân phối, tiền ký quỹ và lãi phạt theo Hợp đồng số
05. Trên cơ sở cho rằng Công ty D không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán,
Công ty D đã thực hiện quyền của chủ nợ nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá
sản theo quy định của Luật Phá sản.
Tuy nhiên, ngày 29/01/2024, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu ban
hành Quyết định số 01/2024/QĐST-PS đình chỉ việc giải quyết yêu cầu mở thủ
tục phá sản, xác định Công ty D không lâm vào tình trạng phá sản. Thực tế, Công
ty D không thuộc trường hợp bị mở thủ tục phá sản. Việc doanh nghiệp bị yêu cầu
mở thủ tục phá sản, vẫn thể tác động tiêu cực đến hình ảnh, uy tín, khả năng
giao dịch với đối tác, khách hàng cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp.
Đối với việc ông Trần Thanh H tố giác ông Bùi Ngọc T1 vhành vi lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nội dung tố giác cũng phát sinh từ tranh chấp
trong quá trình thực hiện Hợp đồng số 05 giữa hai công ty. Tuy nhiên, tại Phiếu
hướng dẫn số 1452/HD-CSKT.D1 ngày 18/12/2023, quan Cảnh sát điều tra
Công an tỉnh C1 xác định vụ việc quan hệ dân sphát sinh từ việc thực hiện
hợp đồng, không thuộc trường hợp xử lý hình sự và hướng dẫn các bên khởi kiện
tại Tòa án để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
20
Như vậy, bản chất vụ việc chỉ là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh
từ Hợp đồng dịch vụ phân phối số 05/2022/HĐDVPP ngày 24/5/2022 giữa Công
ty D và Công ty D.
Tại mục 12.4 Điều 12 của Hợp đồng dịch vụ phân phối số
05/2022/HĐDVPP ngày 24/5/2022 giữa Công ty D Công ty D ghi Trong
thời hạn của Hợp đồng các bên hợp tác hỗ trợ nhau để hoàn thành tốt trách nhiệm
của mình, nếu vướng mắc scùng nhau thảo luận tháo gtrên tinh thần hợp
tác, tôn trọng, bình đẳng, cùng lợi, đúng pháp luật. Trường hợp hai bên không
tự thương lượng giải quyết thì tranh chấp, theo lựa chọn của bên khởi kiện đầu
tiên, sẽ được đưa ra giải quyết tại một Trung tâm Trọng tài có địa chỉ tại Thành
phố Hồ Chí Minh theo quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài này, địa điểm giải
quyết tại Thành phố Hồ Chí Minh hoặc khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật. Trường hợp khởi kiện tại Trọng tài thì Toà án thẩm
quyền giải quyết đối với tất cả các hoạt động trọng tài Toà án nhân dân tỉnh
Rịa Vũng Tàu tại Công văn số 32/2023 ngày 05/10/2023 của Công ty D
gửi Công ty D xác định số công n tính đến thời điểm ngày 05/10/2023
15.813.896.418đồng, trong đó công nợ phí tháng 8/2023 đang đối chiếu
113.641.582đồng, phí chưa đối chiếu 2.607.701.985đồng. Công ty D đề nghị
Công ty D thanh toán trước ngày 31/10/2023, đến hết ngày 31/10/2023 mà chưa
thanh toán thì Công Danh Khôi V1 sẽ thực hiện các biện pháp tài phán cũng như
đề nghị các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy
các bên đã xác định được là khi xảy ra tranh chấp Hợp đồng trên thì sẽ đưa ra giải
quyết tại Trung tâm Trọng tài Thành phố H hoặc Toà án nhân dân tỉnh Rịa
Vũng Tàu.
Tuy nhiên khi phát sinh tranh chấp thì ngày 01/11/2023 ông Trần Thanh
H Tổng giám đốc Công ty D có đơn tố cáo ông Bùi Ngọc T1 Tổng giám đốc
Công ty D về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Công an tỉnh B;
đồng thời cùng ngày Công ty D nộp đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân thành phố
Vũng Tàu yêu cầu tuyên bố phá sản đối với Công ty D. Việc này đã vi phạm thoả
thuận tại mục 12.4 Điều 12 của Hợp đồng dịch vụ phân phối s05/2022/HĐDVPP
ngày 24/5/2022 nêu trên. Kết quả đơn tố cáo đã được Công an tỉnh B ban hành
phiếu hướng dẫn số 1452/HD-CSKT.D1 ngày 18/12/2023 xác định vụ việc ông
H tố cáo quan hệ dân sự, liên quan việc thực hiện các thoả thuận theo hợp
đồng, đề nghị ông H liên hệ Toà án nhân dân để được hướng dẫn giải quyết theo
quy định. Kết quả đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố phá sản thì được Toà án nhân
dân thành phVũng Tàu ban hành quyết định đình chỉ vụ án s01/2024/QĐST/PS
với lý do là Công ty D rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Việc vi phạm của ông Trần Thanh H Tổng giám đốc Công ty D đã làm
phát sinh những thông tin bất lợi đối với nhân ông Bùi Ngọc T1, ảnh hưởng
21
đến uy tín, danh dự của ông T1 trong hoạt động kinh doanh cũng như trong các
quan hệ xã hội.
Việc yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với Công ty D tố giác người đại
diện theo pháp luật của Công ty về hành vi phạm tội đều những thông tin
tính chất nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến uy tín, hình ảnh và hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp cũng như danh dự, uy tín của cá nhân ông Bùi Ngọc T1.
Do đó, đủ sở xác định quyền, lợi ích hợp pháp về danh dự, nhân phẩm, uy
tín của ông Bùi Ngọc T1 và uy tín, hình ảnh của Công ty D đã bị ảnh hưởng.
vậy, Tòa án cấp thẩm căn cứ khoản 3 Điều 11 Bộ luật Dân schấp
nhận yêu cầu của ông Bùi Ngọc T1 và Công ty D, buộc ông Trần Lê Thanh H
Công ty D cải chính công khai trên B 03 số liên tiếp đối với hành vi yêu cầu tuyên
bố phá sản đối với Công ty D hành vi tố cáo sai sự thật đối với nhân ông
Bùi Ngọc T1 -Tổng Giám đốc Công ty D là có căn cứ, phù hợp với quy định của
pháp luật.
Xét thấy kháng cáo của Công ty Cổ phần D ông Trần Thanh H không
có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng
cáo của nguyên đơn Công ty Cổ phần D, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
ông Trần Lê Thanh Hbị đơn Công ty TNHH A - T.
Các vấn đề khác: để phù hợp với tình hình thực tế sau sáp nhập tỉnh, B đã
sáp nhập về B1. Do đó cần điều chỉnh phần tuyên của bản án thẩm buộc cải
chính công khai trên B (nay là B1) cho phù hợp.
[6] Về án phí:
Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp
nhận nên nguyên đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bị đơn đều phải chịu
án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 289; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh, đối với Bản án kinh doanh thương mại
thẩm số 15/2025/KDTM-ST ngày 25/4/2025 của a án nhân dân thành phVũng
Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ
Chí Minh).
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty Cổ phần D người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh H đối với Bản án kinh doanh
thương mại sơ thẩm số 15/2025/KDTM-ST ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân
thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11,
Thành phố Hồ Chí Minh).
22
- Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH A đối với
Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 15/2025/KDTM-ST ngày 25/4/2025
của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Rịa Vũng Tàu (nay là Tòa án
nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 11; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 584; Điều 592 Bộ Luật
dân sự.
Căn cứ Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần D đối với
Công ty TNHH A về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
Buộc Công ty TNHH A hoàn trả cho Công ty Cổ phần D số tiền ký quỹ
8.000.000.000 (tám tỷ) đồng tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền
756.800.000 (bảy trăm năm mươi sáu triệu tám trăm nghìn) đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty TNHH A chấp nhận
yêu cầu độc lập của ông Bùi Ngọc T1 đối với nhân ông Trần Lê Thanh H và
Công ty Cổ phần D.
+ Buộc ông Trần Thanh H Công ty Cổ phần D cải chính công khai
trên B (nay B1) 03 số liên tiếp đối với hành vi yêu cầu tuyên bố phá sản đối với
Công ty A - V - T và hành vi tố cáo sai sự thật đối với cá nhân ông Bùi Ngọc T1
-Tổng Giám đốc Công ty TNHH A - T.
+ Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của Công ty TNHH A đối
với Công ty Cổ phần D về khoản tiền 1.692.233.000 (một tỷ sáu trăm chín mươi
hai triệu hai trăm ba mươi ba nghìn) đồng.
3. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
3.1 Công ty Cổ phần D phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu
trừ 58.000.000 (năm mươi tám triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số 0000324 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Vũng Tàu (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11). Công ty C
phần D được hoàn lại số tiền 57.700.000 (năm mươi bảy triệu bảy trăm nghìn)
đồng.
3.2 Ông Trần Lê Thanh H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
3.3 Công ty TNHH A phải nộp 179.523.790 (một trăm bảy mươi chín triệu
năm trăm hai mươi ba nghìn bảy trăm chín mươi mươi chìn) đồng, được khấu trừ
31.380.000 (ba mươi mốt triệu ba trăm tám mươi nghìn) đồng theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000285 ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Chi cục
Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu (nay Phòng Thi hành án dân sKhu
23
vực 11) nên Công ty TNHH A phải nộp thêm 148.143.790 (một trăm bốn mươi
tám triệu một trăm bốn mươi ba nghìn bảy trăm chín mươi) đồng.
3.4 H2 lại cho ông Bùi Ngọc T1 số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000117 ngày 14
tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu (nay
Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả
các khoản tiền, nếu bên phải thi hành án chậm thi hành nghĩa vụ phải thực hiện
thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của stiền gốc chậm thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm
2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quyền thỏa thuận thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành
án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
4.1 Công ty Cổ phần D phải nộp số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng nhưng
được khấu trừ vào số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003004 ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Vũng Tàu (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực
11 Thành phố Hồ Chí Minh). Công ty Cổ phần D đã nộp xong.
4.2 Ông Trần Thanh H phải nộp stiền 2.000.000 (hai triệu) đồng nhưng
được khấu trừ vào số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003003 ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Vũng Tàu (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực
11 Thành phố Hồ Chí Minh). Ông Trần Lê Thanh H đã nộp xong.
4.3 Công ty TNHH A phải nộp 2.000.000 (hai triệu) đồng nhưng được khấu
trừ vào số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ pTòa án số 0003010 ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố Vũng Tàu (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 Thành phố
Hồ Chí Minh). Công ty TNHH A - T đã nộp xong.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hồ Chí Minh;
- Tòa án nhân dân Khu vực 11;
- Phòng THADS Khu vực 11;
- VKSND Khu vực 11;
- Các đương sự;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
24
- Lưu hồ sơ,Tòa DS. (59)
Nguyễn Thành Hiếu
25
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 289/2026/KDTM-PT Bản án số 289/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 289/2026/KDTM-PT Bản án số 289/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất