Bản án số 145/2026/KDTM-PT ngày 18/08/2026 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 145/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 145/2026/KDTM-PT ngày 18/08/2026 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 145/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/08/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa SHB - Bảo Bình
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 145/2026/KDTM-PT Bản án số 145/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 145/2026/KDTM-PT Bản án số 145/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 145/2026/KDTM-PT
Ngày 18 tháng 8 năm 2026
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai
Các Thẩm phán: Bà Lê Thúy Linh và ông Hoàng Chí Nguyện
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n thành phố Nội
tham gia phiên tòa:
Đinh Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên
Trong các ngày 20/7/2026 18/8/2026, tại trsở Tòa án nhân dân thành phố
Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ số
264/2025/KDTM-TLPT ngày 15/12/2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
Do bản án kinh doanh thương mại thẩm s54/2025/KDTM-ST ngày 13/9/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử phúc thẩm số 471/2026/QĐ-PT ngày 08/6/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa
giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ trụ sở: Số G T, phường C, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị Thu H - Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy T - Phó Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngọc T1 - Chuyên viên tố tụng; Địa chỉ:
Tầng B, tòa nhà V, số A L, phường H, thành phố Hà Nội (có mặt).
Bị đơn: Công ty cổ phần Thương mại và Kỹ thuật Bảo Bình
Địa chỉ trụ sở: Số B T, phường T, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Dương Thị Thu T2 - Chủ tịch Hội đồng quản
trị kiêm Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Xuân L, CCCD số ************ cấp ngày 10/7/2021; Địa chỉ: Tổ A,
phường Y thành phố Hà Nội (có mặt ngày 20/7/2026, vắng mặt ngày 18/8/2026);
- Ông Hoàng Huy H1, CCCD số ************ cấp ngày 08/5/2026; Địa chỉ: Tổ
dân phố số C M, phường T, thành phố Nội (có mặt ngày 20/7/2026, vắng mặt
ngày 18/8/2026).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty cổ phần D
2
Địa chỉ trụ sở: Số A N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thái A - Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Thanh T3; Địa chỉ: Tầng B, tòa nhà S, số
C L, phường T, thành phố Hà Nội (có mặt)
2. Hộ kinh doanh Nhà hàng C2
Địa chỉ trụ sở: Số F N, phường T, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Đức A1 - Chủ hộ kinh doanh (vắng mặt)
3. Công ty cổ phần Đ
Địa chỉ trụ sở: Số E ngõ A T, tổ C phường Y, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Hà Thu H2 - Giám đốc (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên
đơn Ngân hàng TMCP S trình bày:
Ngày 16/11/2021, Công ty cổ phần T5 (sau đây gọi tắt Công ty T5) Ngân
hàng TMCP S (sau đây gọi tắt Ngân hàng S1) kết Hợp đồng tín dụng số
479/2021/HĐTDTDH-PN/SHB.111600 ngày 16/11/2021 với nội dung:
- Số tiền vay: 29.000.000.000 đồng.
- Mục đích vay: Vay bù đắp đầu tư 993,6m2 sàn thương mại tầng 1 thuộc tòa nhà
D số B T, M, T theo thỏa thuận nguyên tắc số 02/ĐB ký ngày 01/11/2021 với Công ty
cổ phần Đ1 và hợp đồng mua bán văn phòng làm việc, dịch vụ thương mại số công
chứng: 6348.2021/HĐMB; Quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/11/2021 tại
Văn phòng C3, thành phố Hà Nội.
- Thời hạn vay: 300 tháng (từ 17/11/2021 đến 17/11/2046)
- Trả nợ gốc và trả lãi: Theo từng khế ước nhận nợ.
- Lãi suất vay trong hạn: Theo từng khế ước nhận nợ.
- Lãi suất chậm trả lãi: Trường hợp bên B không thanh toán lãi đúng hạn thì bên
B phải trả lãi chậm trả lãi cho bên A theo lãi suất chậm trả lãi vay bằng 50% lãi suất
cho vay trong hạn nhưng không quá 10%/ năm được tính trên số lãi chậm trả
tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi.
- Lãi suất cho vay quá hạn: Trường hợp khoản vay bị chuyển nợ quá hạn thì bên
B phải trả lãi trên nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời
điểm chuyển nợ quá hạn và được tính trên nợ gốc bị quá hạn tương ứng với số
ngày thực tế chậm trả gốc.
- Tài sản bảo đảm cho khoản vay là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất đối với 993,5m2 văn phòng làm việc, dịch vụ thương mại
tầng 1 (khối 1+2+3+4) tại Tổ hợp căn hộ cao cấp văn phòng làm việc Dolphin
Plaza tại địa chỉ số B phố T, phường M, quận N, thành phố Nội theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DC
639698. Số vào sổ cấp GCN: CT-DA 03235 do UBND thành phố H cấp ngày
15/11/2021 cho Công ty T5. Tài sản bảo đảm này được đảm bảo cho khoản vay trên
3
theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 047/2023/HĐTC-PN/SHB.111600, số công chứng
0194, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/02/2023 tại Văn phòng C4,
thành phố Hà Nội và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng S1 đã giải ngân 29.000.000.000 đồng
cho Công ty T5 theo đúng Khế ước nhận nợ số 01-479/2021/HDTDTDH-
PN/SHB.111600 ngày 16/11/2021. Mục đích vay: Vay bù đắp đầu tư 993,6m2 sàn
thương mại tầng 1 thuộc tòa nhà D số B T, M, T theo thỏa thuận nguyên tắc số 02/ĐB
ngày 01/11/2021 với Công ty cổ phần Đ1 và hợp đồng mua bán văn phòng làm
việc, dịch vụ thương mại số công chứng: 6348.2021/HĐMB; Quyển số 04 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 05/11/2021 tại Văn phòng C3, thành phố Nội. Thời hạn vay:
300 tháng. Phương thức thanh toán:
+ Trả nợ gốc: Gốc trả 3 tháng/ lần vào ngày 23. Kỳ trả gốc đầu tiên: 23/02/2022.
Từ kỳ 23/02/2022 đến kỳ 23/11/2026 số tiền trả gốc mỗi kỳ 100.000.000đồng. Từ
kỳ 23/02/2027 đến kỳ 23/08/2046 số tiền trả gốc mỗi kỳ là 337.500.000đồng.
+ Trả lãi: vào ngày 23 hàng tháng. Kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 23/11/2021.
+ Lãi suất vay: Lãi suất cho vay trong hạn kỳ đầu tiên là 12%/ năm. Lãi suất cho
vay được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần ktừ thời điểm giải ngân. Mức lãi suất áp
dụng cho kỳ điều chỉnh tiếp theo bằng lãi suất sVNĐ tương ứng kỳ hạn vay 300
tháng của S1 hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,6%/ năm. Trong đó
lãi suất cơ sở VNĐ được xác định tại quyết định lãi suất cơ sở của Ngân hàng S1 ban
hành từng thời kỳ.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty T5 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ
gốc, lãi cho Ngân hàng S1 nên toàn bộ khoản vay trên bị chuyển nợ quá hạn. Tạm
tính đến ngày 12/05/2025, Công ty T5 đã thanh toán được 1.070.009.549 đồng gồm
401.004.057 đồng tiền gốc, 653.076.499 đồng tiền lãi, 15.928.993 đồng tiền lãi phạt).
Sau khi phát sinh nợ quá hạn, Ngân ng S1 đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện cho
công ty T5 thực hiện nghĩa vụ trả nợ đồng thời đề nghị phối hợp xử lý tài sản bảo đảm
để S1 thu hồi nợ nhưng công ty không thực hiện, trốn tránh không làm việc.
Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Buộc Công ty T5 phải trả cho Ngân hàng S1 số tiền tạm tính đến ngày
13/09/2025 44.952.391.747 đồng. Cụ thể, nợ gốc 28.398.995.943 đồng, nợ lãi
trong hạn 14.601.240.734 đồng, nợ lãi quá hạn 152.061.392 đồng, phạt chậm trả
1.800.093.678 đồng. Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi phạt theo hợp đồng tín
dụng theo quy định của pháp luật cho đến ngày Công ty T5 thanh toán toàn bộ
khoản vay.
Trường hợp Công ty T5 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ trả nợ nêu trên, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng S1 được yêu cầu cơ quan thi hành
án có thẩm quyền kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm cho khoản vay để thu hồi
nợ cho ngân hàng. Cụ thể là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất đối với 993,6m2 văn phòng làm việc, dịch vụ thương mại tầng 1 (khối
4
1+2+3+4) tại Tổ hợp căn hcao cấp văn phòng làm việc Dolphin Plaza tại địa chỉ
số B phố T, phường M, quận N, thành phố Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu ntài sản khác gắn liền với đất số DC 639698. Số vào
sổ cấp GCN: CT-DA 03235 do UBND thành phố H cấp ngày 15/11/2021 cho Công ty
T5.
Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại các tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ
trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên Công ty T5 phải nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng
S1.
Bị đơn Công ty T5 trình bày:
Công ty T5 thừa nhận việc ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng S1. Công ty
T5 i sản là thửa đất tại tầng 1, tòa nhà D, số F N, phường M, quận N, thành phố
Hà Nội bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất sDC 639698. Hiện tài sản đang được Công ty T5 thế chấp tại Ngân
hàng S1 để đảm bảo cho khoản vay tại Hợp đồng tín dụng số 479/2021/HDTDTDH-
PN/SHB.111600 ngày 16/11/2021 được giải ngân với số tiền là 29.000.000.000 đồng.
Về người liên quan: Công ty C5 và Công ty T5 có ký hợp đồng thuê mặt bằng, C
đóng tiền thuê đầy đủ còn Công ty D từ tháng 3/2025 đến nay chưa đóng tiền thuê
mặt bằng, đề nghị Công ty D tiếp tục thực hiện nghĩa vụ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty cổ phần D (sau đây gọi tắt là “ng ty D”) trình bày:
Công ty D thực hiện hợp đồng thuê với Công ty cổ phần Đ, thời hạn thuê từ
15/08/2023 đến 30/09/2028 sử dụng ổn định mặt bằng tầng 1 cho đến nay. Trường
hợp phát mại tài sản hoặc có thay đổi chủ sở hữu mặt bằng tCông ty D vẫn đề nghị
chủ sở hữu mới kế thừa và tiếp tục thực hiện theo đúng hợp đồng thuê mà Công ty D
đã với công ty Đ. Khi hợp đồng thuê thực hiện hợp đồng mặt bằng, công ty
D không biết việc thế chấp này.
2. Công ty cổ phần Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không mặt gửi
văn bản ý kiến.
Tại Bản án kinh doanh thương mại thẩm s 54/2025/KDTM-ST ngày
13/09/2025 ca Tòa án nhân dân khu vc 4 - Hà Ni quyết đnh:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S. Buộc Công ty T5 phải
thanh toán cho Ngân hàng S1 tính đến ngày xét xử 13/09/2025 theo Hợp đồng tín
dụng số 479/2021/HDTDTDH-PN/SHB.111600 ngày 16/11/2021 tổng số tiền
43.152.298.069 đồng gồm nợ gốc 28.398.995.943đồng, nlãi 14.753.302.126
đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử thẩm, Công ty T5 còn phải tiếp tục chịu
khoản tiền lãi, phí phát sinh theo lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng
khế ước nhận nợ đã ký kết.
Trường hợp công ty T5 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên lãi
phát sinh theo bản án của Tòa án thì SHB quyền yêu cầu quan thi hành án tiến
5
hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất đối với 993,6m2 văn phòng làm việc, dịch vụ thương mại
tầng 1 (khối 1+2+3+4) tại Tổ hợp căn hộ cao cấp văn phòng làm việc Dolphin
Plaza tại địa chỉ số B phố T, phường M, quận N, thành phố Nội theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DC
639698, số vào sổ cấp GCN: CT-DA 03235 do UBND thành phố H cấp ngày
15/11/2021 cho Công ty T5.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý vi bản án sơ thẩm:
Ngày 15/9/2025, Công ty T5 kháng cáo toàn bộ bản án. Lý do: Công ty T5 gồm
03 thành viên góp vốn Dương Thị Thu T2 chiếm 1% cổ phần, Thị Phương
L1 chiếm 98% cổ phần, ông Việt C1 chiếm 1% cổ phần. Qtrình biên bản
họp Đại hội đồng cổ đông ngày 2/2/2023 về nội dung thế chấp tài sản cho Ngân hàng
thời điểm này bà L1 bị Cơ quan Công an bắt giữ liên quan đến vụ án hình sự. Đề nghị
Tòa án xác minh L1 biết về việc họp này không. Hiện nay toàn bộ tài sản thế
chấp đã bàn giao cho Ngân hàng S1 quản lý.
Ngày 20/10/2025, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần D
kháng cáo đối với một phần bản án thẩm số 54/2025/KDTM-ST ngày 13/09/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Nội đề nghị sửa một phần bản án theo đó xóa bỏ
phần nội dung sau khỏi Điều 4 của phần quyết định của bản án: Trong tờng hợp xử
tài sản thế chấp nêu trên, những người quản tài sản thế chấp, những người sinh
sống trú trên tài sản thế chấp phải có trách nhiệm bàn giao tài sản bảo đảm cho
quan thi hành án thẩm quyền để thi hành án theo quy định của pháp luật. Công ty
cổ phần D cho rằng Tòa án đã giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện trong
đơn khởi kiện ngày 18/11/2024 của Ngân hàng TMCP S làm ảnh hưởng trực tiếp đến
việc tiếp tục quản lý, sử dụng mặt bằng tầng 1 Tòa nhà Dolphin của công ty theo hợp
đồng thuê mặt bằng số 310723/HC-Dolphin ngày 31/07/2023 đã ký.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xxem
xét, quyết định theo quy định của pháp luật.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần D giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc Công ty T5 phải bồi thường
thiệt hại cho Công ty D đối với chi phí đã bỏ ra cải tạo đầu cho hoạt động kinh
doanh và thời gian bị mất thu nhập khi chưa hết hợp đồng thuê trong trường hợp phải
xử lý tài sản bảo đảm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Tòa án nhân dân thành ph Ni
th lý v án đúng quy định.
6
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán: Từ khi thụ đơn trong
quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán được phân công đã chấp hành đúng qui định của
pháp luật TTDS. Về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đảm bảo theo qui định tại
Điều 286 BLTTDS. Tòa án đã chuyển hồ quyết định xét xử cho Viện kiểm sát
đúng thời hạn theo qui định tại Điều 292 BLTTDS.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng
đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đề xuất quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự:
- Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần D.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần T5.
- Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại thẩm số 54/2025/KDTMST ngày
13/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Nội.
- Về án phí giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do các bên đương sự cung cấp Tòa án thu
thập được trong quá trình tiến hành tố tụng, sau khi đã được thẩm tra công khai tại
phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét
xử nhận thấy:
V t tng:
Đơn kháng cáo của B đơn, ngưi quyn lợi nghĩa vụ liên quan gi trong hn lut
định, ni dung hình thc phù hp, người kháng o đã nộp tin tm ng án phí
phúc thm nên kháng cáo là hp l.
V thm quyn: Tòa án nhân dân khu vc 4 - Ni th gii quyết v án
đúng thẩm quyn.
V ni dung:
[1]. Xét Hợp đồng tín dng số 479/2021/HĐTDTDH-PN/SHB.111600 ngày
16/11/2021
Hợp đồng tín dng số 479/2021/HĐTDTDH-PN/SHB.111600 ngày 16/11/2021
được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức phù hợp với quy định
của pháp luật. Tại thời điểm kết hợp đồng, các bên đều có đủ năng lực về hành vi
dân sự, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm không trái đạo đức hội.
Do đó, xác định đây các hợp đồng hợp pháp hiệu lực thi hành đối với các
bên, phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng Điều 116, 117, 118, 119,
120 Bộ luật dân sự năm 2015.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã thực hiện việc giải ngân
theo đúng quy định. Tuy nhiên, ng ty T5 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do vậy, việc
Ngân hàng khởi kiện buộc Công ty T5 phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ là có căn cứ.
Xét thy, vic tha thun lãi trong hn, lãi quá hn mc lãi sut trong hp
đồng tín dụng là đúng pháp luật và phù hp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Lut
các t chc tín dng Ngh quyết s 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hi
đồng Thm phán Tòa án nhân dân tối cao. Các đương sự không kháng cáo đối vi
7
nội dung này, do đó, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên buc Công ty T5 phi thanh
toán cho Ngân hàng S1 tm tính đến ngày xét xử 13/09/2025 tổng số tiền
43.152.298.069 đồng, trong đó: Nợ gốc 28.398.995.943 đồng, nợ lãi
14.753.302.126 đồng là có căn cứ.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng S1 Công ty T5 đã Hợp đồng
thế chấp tài sản số 047/2023/HĐTC-PN/SHB.111600, số công chứng 0194, quyển số
01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/02/2023 tại Văn phòng C4, thành phố
Nội. Theo đó, Công ty T5 đã thế chấp cho S1 tài sản sau: Quyền sdụng đất, quyền
sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất đối với 993,6m2 văn phòng làm việc,
dịch vụ thương mại tầng 1 (khối 1+2+3+4) tại Tổ hợp căn hộ cao cấp văn phòng
làm việc Dolphin Plaza tại địa chỉ số B phố T, phường M, quận N, thành phố Nội
được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền ngày 15/11/2021 cho Công ty T5, đã được đăng giao
dịch bảo đảm.
[2]. Xét kháng cáo của Công ty T5:
Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty T5 đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
Xét thấy, việc rút kháng cáo của Công ty T5 hoàn toàn tự nguyện phù hợp với
quy định của pháp luật, do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu
cầu kháng cáo của Công ty T5.
[3]. Xét kháng cáo của Công ty cổ phần D:
Công ty cphần D kháng cáo một phần bản án thẩm, công ty không biết tài
sản thuê thế chấp cho Ngân hàng đề nghị hủy bỏ quy định buộc "những người quản
lý, sử dụng/cư trú phải bàn giao TScho quan THA". do: Tòa án giải quyết
vượt quá phạm vi khởi kiện của S1, làm ảnh hưởng đến Hợp đồng thuê mặt bằng của
Cao N (thời hạn từ năm 2023 đến năm 2028).
Nhận thấy: Công ty cổ phần D bên thuê mặt bằng hợp pháp (thông qua hợp
đồng với Công ty Đ tngày 31/07/2023 đến 30/09/2028). Hiện Công ty D bên
đang trực tiếp quản lý, sử dụng, khai thác mặt bằng. Ngay sau khi hợp đồng thuê
Công ty D đã nhận bàn giao mặt bằng ngày 14/08/2023 đầu tư, thi công, cải tạo, sửa
chữa thành cửa hàng H3 để hoạt động kinh doanh. Công ty D hoàn toàn không biết
việc thế chấp giữa Công ty T5 với Ngân hàng S1. Theo quy định Điều 321 Bộ luật
dân sự năm 2015 việc cho thuê tài sản đang thế chấp hoặc đã bị xử lý phải có sự đồng
ý của Bên nhận thế chấp (Ngân hàng S1). Do Công ty cổ phần D trình bày "không
biết việc thế chấp", hợp đồng thuê này không làm chấm dứt hay cản trở quyền xử
tài sản bảo đảm của Ngân hàng S1.
Tại Đơn khởi kiện ngày 18/11/2024 và biên bản phiên tòa sơ thẩm, Ngân hàng S1
chỉ yêu cầu Tòa án buộc Công ty T5 thực hiện nghĩa vụ trả nợ và tuyên Ngân hàng có
quyền yêu cầu quan thi hành án biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 299, 301 Bộ luật dân sự năm 2015, khi Ngân hàng
yêu cầu biên, phát mại tài sản bảo đảm, nhng người đang quản hoặc sinh
8
sống, cư trú trên đất phải nghĩa vụ phải bàn giao tài sản nếu việc thế chấp và xử
đã tuân thủ đúng quy định pháp luật. Do đó, Tòa án cấp thẩm tuyên buộc những
người đang quản lý tài sản thế chấp phải có trách nhiệm bàn giao tài sản bảo đảm cho
cơ quan thi hành án là không vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại cấp phúc thẩm, Công ty cổ phần D đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc
Công ty T5 phải bồi thường thiệt hại đối với cơ sở vật chất Công ty cổ phần D đã
bỏ ra để sửa chữa, xây dựng trong trường hợp phải phát mại tài sản bảo đảm.
Nhận thấy, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Công ty cổ phần D không
có yêu cầu độc lập về việc bồi thường thiệt hại. Bên cạnh đó, đơn kháng cáo của Công
ty D cũng không đề cập đến nội dung này. Do đó, Hội đồng xét xử giành quyền khởi
kiện cho Công ty cổ phần D đối với Công ty T5 về việc bồi thường thiệt hại trong vụ
án theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy không có căn cứ chấp nhận
kháng cáo của Công ty cổ phần D, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng
cáo của Công ty cổ phần T5.
[4]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Công ty
cổ phần D phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Bị đơn rút kháng cáo
tại phiên tòa nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 30, 148, 296, 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm;
Nghị định 11/CP/2012 ngày 22/2/2011 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định
163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm;
Căn cứ Điều 27, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội;
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần D.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần T5.
1. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại thẩm số 54/2025/KDTMST ngày
13/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Nội.
2. Về án pphúc thẩm: Công ty cổ phần D phải chịu 2.000.000 đồng án phí
kinh doanh thương mại phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 2.000.000
đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, l phí Tòa án s 0015132 ngày
05/11/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Công ty cổ phần T5 phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại
phúc thẩm, được trừ vào stiền tạm ứng án phí 2.000.000 đồng đã nộp theo Biên lai
9
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009824 ngày 01/10/2025 của Thi hành án dân
sự thành phố Hà Nội.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 Điều 9 Luật Thi nh án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 18/8/2026).
Nơi nhận:
- VKSND TP. Hà Nội;
- TAND khu vực 4 - Hà Nội;
- THADS TP. Hà Nội;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 145/2026/KDTM-PT Bản án số 145/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 145/2026/KDTM-PT Bản án số 145/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất