Bản án số 50/2026/KDTM-PT ngày 11/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về cung ứng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 50/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 50/2026/KDTM-PT ngày 11/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 50/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/08/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: - Không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị L.- Không chấp nhận kháng cáo của bà Lâm Thị Tuyết N.- Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 12/2026/KDTM-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 50/2026/KDTM-PT Bản án số 50/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 50/2026/KDTM-PT Bản án số 50/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN T Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 50/2026/KDTM-PT
Ngày: 11.8.2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng dịch vu,
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Thanh
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang
Bà Mạc Thị Chiên
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Thuý Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Nguyễn
Thanh Bảo Trân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ số 34/2026/TLPT-KDTM ngày 03 tháng 7 năm
2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 12/2026/KDTM-ST ngày
31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1216/2026/QĐ-PT
ngày 06 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Công ty CP T5. Địa chỉ: số F - F đường P, phường P, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện theo ủy quyền đối với tranh chấp hợp đồng dịch vụ:
Ông Lê Văn D (có mặt)
Đào Thị Thu T (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: số E Â, Khu phố A, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo uỷ quyền đối với tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất: Ông Lê Nhật A, sinh năm: 1998 (vắng mặt).
Địa chỉ: số A, đường M, phường C, thành phố Cần Thơ.
2. Bà Bùi Thị L, sinh năm: 1982
Địa chỉ: số A đường C, phường T, thành phố Cần Thơ (có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho L: Luật Huỳnh Chí T1
2
Công ty L1, Đoàn Luật sư thành phố C (có mặt)
- Bị đơn:
1. Công ty TNHH Một thành viên D1: số C đường M, phường C, thành phố
Cần Thơ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mộng X Chức vụ: Giám đốc
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam K1 - Bộ C - Địa chỉ: H, thành phố
Cần Thơ (xin giải quyết vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Mộng X, sinh năm: 1984 (xin giải quyết vắng mặt)
ĐKTT: ấp V, V, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ: số G, đường B, Khu dân
cư I, phường T, thành phố Cần Thơ.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam K1 - Bộ C - Địa chỉ: H, thành phố
Cần Thơ.
3. Bà Hồ Thị H, sinh năm: 1982 (xin giải quyết vắng mặt)
ĐKTT: số G, đường B, Khu dân cư I, phường T, thành phố Cần T.
Địa chỉ liên hệ: số A, đường N, khu V, phường A, thành phố Cần T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lâm Thị Tuyết N, sinh năm 1982. Địa chỉ: số B, đường M, phường N,
thành phố Cần Thơ.
Đại diện hợp pháp cho bà N: Ông Lê Tuấn K, ông Trần Vũ Thanh T2 và ông
Trần Văn Á. Cùng địa chỉ: số A T, phường T, thành phố Cần Thơ (chỉ ông Á
mặt)
2. Văn phòng C1 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp M, phường A, thành phố Cần T.
Địa chỉ: số A H, phường N, thành phố Cần Thơ.
3. Văn phòng C1 (xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: số C N, phường C, thành phố Cần Thơ.
4. Văn phòng C1 (vắng mặt)
Địa chỉ: số E đường L, phường N, thành phố Cần T.
5. Văn phòng T6 (xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ mới: số A, N, phường N, thành phố Cần Thơ.
6. Bà Đỗ Thị H1 Công chứng viên Văn phòng C1 (nay là Công chứng viên
Văn phòng C1) (xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: số B, N, phường T, thành phố Cần Thơ.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1980 (có mặt)
Địa chỉ: số D, T, Tổ G, khu vực 3, phường T, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Bùi Thị L người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Tuyết N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn Công ty cổ phần T5 (gọi tắt công ty T5) trình bày nội dung
3
yêu cầu khởi kiện như sau: ngày 27/10/2017, Công ty T5 Công ty TNHH
Một thành viên D2 (gọi tắt là công ty D2) đã ký kết Hợp đồng dịch vụ xin hộ dự án,
đã được công chứng, chứng thực tại Văn phòng C1. Theo Điều 1 của Hợp đồng,
Công ty D2 thực hiện dịch vụ xin hộ dự án cho Công ty T5 với nội dung và kết quả
như sau: “1. Nội dung chính của dự án: Số lượng: 01 trạm dừng nghỉ bờ Bắc. Thời
gian 50 năm. Vtrí 01 tại trạm dừng nghỉ bờ Bắc tại km 2066+300 bên phải
tuyến, đường dẫn cầu C thuộc ấp M, TX. B, tỉnh Vĩnh Long. Kết quả thực hiện đến
thời điểm chuyển giao giấy phép: Tất cả các thủ tục về hồ xin phép xây dựng,
bao gồm: Giấy phép thi công đã được Bộ G và các Ban ngành liên quan chấp thuận
cấp phép; Giấy phép chấp thuận hồ thiết kế kỹ thuật phương án tổ chức thi
công của Cục Q; Bản vẽ thiết kế đã được thẩm tra; Thực hiện bàn giao mặt bằng và
một số giấy tờ liên quan kèm theo để xin quy hoạch xây dựng cửa hàng kinh doanh
xăng dầu, trạm dừng nghỉ tại vị trí dự án trên”. Trong quá trình thực hiện hợp đồng,
Công ty T5 đã thực hiện đúng đầy đủ nghĩa vụ tại Hợp đồng. Tại Điều III Hợp
đồng, Công ty T5 nghĩa vtạm ứng cho Công ty D2 50% giá trị hợp đồng
7.200.000.000 đồng (Bảy tỷ, hai trăm triệu đồng) ngay sau khi hai bên kết hợp
đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng giữa Công ty T5 và Công ty D2 như sau:
- Ngày 27/10/2017, vào ngày kết Hợp đồng, đại diện của Công ty T5
ông Trần Ngọc V theo Giấy ủy quyền số 41/UQ-DKCL ngày 26/10/2017 đã giao
số tiền là 7.200.000.000 đồng (Bảy tỷ, hai trăm triệu đồng) cho người đại diện theo
pháp luật của Công ty D2 ông Nguyễn Mộng X, theo Biên nhận tiền Giấy tờ
liên quan ngày 27/10/2017.
- Ngày 06/12/2017, đại diện của Công ty T5 là ông Trần Ngọc V đã giao tiền
lần 2 cho người đại diện theo pháp luật của Công ty D2 là ông Nguyễn Mộng X, số
tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) theo Biên nhận tiền giấy tờ liên quan
ngày 06/12/2017. Thời gian sau, theo văn bản Báo cáo quá trình thực hiện dự án do
Công ty D2 gửi cho Công ty T5, Công ty D2 cam kết đến hết Quý II năm 2018 sẽ
bàn giao mặt bằng, hoàn tất công việc tại Hợp đồng cho Công ty T5. Công ty D2
cũng đnghị Công ty T5 ứng tiền lần 3 với số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ
đồng).
- Vào ngày 20/6/2018, đại diện của Công ty T5 ông Trần Ngọc V đã giao
tiền lần 3 cho người đại diện theo pháp luật của Công ty D2 ông Nguyễn Mộng
X, số tiền là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), theo Biên nhận tiền và Giấy tờ liên
quan ngày 20/6/2018. Tại thời điểm này, mặc Công ty D2 vẫn chưa hoàn tất
công việc tại Hợp đồng cho ng ty T5 nhưng Công ty T5 vẫn tin tưởng tiếp tục
tạm ứng tiền lần 3 cho Công ty D2.
- Vào ngày 23/7/2019, đại diện Công ty T5 đại diện Công ty D2 đã
buổi làm việc về việc thực hiện Hợp đồng. Công ty D2 vẫn chưa hoàn tất công việc
trong Hợp đồng. Do đó, Công ty T5 yêu cầu Công ty D2 hoàn trả lại số tiền
Công ty T5 đã tạm ứng 9.200.000.000 đồng trong vòng 10 ngày kể từ ngày
Biên bản làm việc ngày 23/7/2019. Đại diện Công ty D2 ông Nguyễn Mộng X
4
cam kết chậm nhất đến ngày 30/9/2019 sẽ giao mặt bằng thanh Hợp đồng đã
ký với Công ty T5 (Theo Biên bản làm việc ngày 23/7/2019).
Vào ngày 31/10/2019, đại diện Công ty T5 đại diện Công ty D2 đã tiếp
tục buổi làm việc về việc thực hiện hợp đồng. Công ty D2 vẫn chưa hoàn tất
công việc trong Hợp đồng như cam kết cũng chưa hoàn trả lại tiền đã nhận
9.200.000.000 đồng cho Công ty T5. Theo Biên bản làm việc ngày 31/10/2019, hai
bên đã thống nhất những nội dung sau:
+ Gia hạn cho Công ty D2 thực hiện Hợp đồng đến hết ngày 30/6/2020
(hoàn tất các thủ tục để bàn giao mặt bằng toàn bộ hồ sơ của trạm dừng nghỉ
thuộc đường dẫn cầu C); và bàn giao Giấy phép đấu nối các cửa hàng xăng dầu cho
Công ty T5 đến ngày 31/12/2019;
+ Công ty D2 chuyển trả lại cho Công ty T5 số tiền đã ứng trước là
3.680.000.000 đồng cùng với số tiền lãi do chậm thực hiện Hợp đồng
1.403.189.041 đồng. Thời hạn chuyển trả chậm nhất đến hết ngày 31/12/2019.
+ Quá thời hạn 30/6/2020 Công ty D2 không hoàn tất công việc tại Hợp
đồng thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày 30/6/2020, Công ty D2 phải hoàn trả
cho Công ty T5 toàn bộ số tiền đã nhận để thực hiện Hợp đồng bồi thường cho
Công ty T5 khoản tiền tương đương với tiền lãi của số tiền Công ty T5 đã
chuyển cho Công ty D2 tính từ ngày Công ty T5 chuyển tiền.
Theo khoản 2 Điều 423 Bộ luật dân sự 2015, Công ty D2 đã vi phạm nghiêm
trọng Hợp đồng, khiến cho Công ty T5 không đạt được mục đích của việc giao kết
tại Điều 1 Hợp đồng. Do đó, theo điểm b, khoản 1 Điều 423 Bộ luật dân sự 2015,
Công ty T5 yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng, buộc Công ty D2 phải hoàn trả lại toàn bộ số
tiền Công ty T5 đã tạm ứng 9.200.000.000 đồng, buộc Công ty D2 bồi
thường thiệt hại cho Công ty T5 khoản tiền lãi đã thỏa thuận trong Biên bản làm
việc ngày 31/10/2019, tính từ ngày Công ty T5 chuyển tiền cho Công ty D2 đến
ngày Công ty D2 hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng đã nhận là 9.200.000.000 đồng.
Tại Biên bản làm việc ngày 31/10/2019, Công ty D2 đã đồng ý vviệc bồi
thường cho Công ty T5 khoản tiền lãi trên số tiền 9.200.000.000 đồng Công ty
T5 đã chuyển cho Công ty D2 tính từ ngày 24/3/2018 đến ngày 31/10/2019
1.403.189.041. Do đó, Công ty T5 khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
- Tuyên hủy bỏ Hợp đồng dịch vụ xin hộ dự án kết giữa Công ty T5
Công ty D2 được công chứng, chứng thực vào ngày 27/10/2017 tại Văn phòng C1.
- Buộc Công ty D2 hoàn trả cho Công ty T5 số tiền đã tạm ứng tại Hợp đồng
dịch vụ xin hộ dự án ngày 27/10/2017 là 9.200.000.000 đồng.
- Buộc Công ty D2 bồi thường thiệt hại cho Công ty T5 số tiền lãi từ ngày
24/3/2018 tạm tính đến ngày lập đơn khởi kiện này (ngày 08/4/2025) với số tiền
6.156.312.329 đồng. (mức lãi suất 9,5%/năm trên số tiền 9.200.000.000 đồng).
Tổng số tiền gốc và lãi là 15.356.312.329 đồng và lãi phát sinh.
5
Đồng thời, ngày 27/10/2017 Công ty T5 có Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Mộng X cùng vợ bà Hồ Thị H đối với diện
tích đất: 72m
2
thửa đất số 333, tờ bản đsố 47, đường B, khu dân cư I, phường A,
quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CC 946121, số vào sổ cấp GCN:
CS15986 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 26/7/2016 với số
tiền chuyển nhượng là 500.000.000 đồng đã được công chứng tại Văn phòng C1.
Sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng trên tCông ty T5 đã thanh toán đủ cho
ông X và H số tiền: 500.000.000 đồng (bằng chữ: Năm trăm triệu đồng). Tuy
nhiên, ông X H đã không bàn giao tài sản nêu trên cho phía Công ty chúng
tôi như trong nội dung hợp đồng. Mặc dù đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông X và bà
H vẫn tỏ thái độ không hợp tác. Nên Công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
các vấn đề gồm:
+ Buộc ông Nguyễn Mộng X, Hồ Thị H tiếp tục thực hiện Hợp đồng
chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ngày 27/10/2017 đối với thửa đất số 333, tờ bản
đồ số 47, diện tích 72m
2
(đất ở đô thị); tọa lạc tại địa chỉ: đường B, khu dân cư I, P.
A, Q. N, thành phố Cần Thơ. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản gắn liền với đất số CC 946121, số vào sổ cấp GCN: CS15986
do Sở T cấp ngày 26/7/2016.
+ Buộc ông X và bà H bàn giao tài sản nêu trên cho Công ty T5.
+ Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông
Nguyễn Mộng X, HThị H với Bùi Thị L ngày 27/6/2018 tại Văn phòng
công chứng 24h.
+ Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu ntài sản khác gắn liền với đất số CN 257910, số vào sổ
cấp GCN: CS19617 do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố C cấp ngày
26/6/2018 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số CP 090812, số vào sổ cấp GCN: CS20690 do Sở T cấp
ngày 28/12/2018.
* Nguyên đơn Bùi Thị L trình bày yêu cầu khởi kiện như sau: Nguyên
trước đây, bà có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án tuyên buộc ông Nguyễn Mộng X
Hồ Thị H phải thực hiện nghĩa vụ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được công chứng tại Văn phòng công chứng 24h ngày 27/6/2018, số công chứng:
4646, quyển số 04/TP/CC-SCC/HĐGD, yêu cầu H và ông X giao cho bà L toàn
bộ tài sản gồm quyền sử dụng đất diện tích 72m
2
và tài sản gắn liền với đất là nhà ở
riêng lẻ, cấp 3, diện tích sàn 226,8m
2
tại thửa đất số 333, tờ bản đồ số 47, tọa lạc tại
địa chỉ: đường B, khu dân cư I, phường A, quận N, TP ..
Sau khi hợp đồng chuyển nhượng được công chứng, phía ông X H đã
giao cho bản chính Giấy chứng nhận QSD đất số phát hành CN 257910, số vào
sổ cấp GCN: CS19617 do Sở T cấp ngày 26/6/2018. Tuy nhiên, sau đó ông X và bà
6
H lại âm thầm thực hiện thủ tục yêu cầu Sở T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở tài sản gắn liền với đất số phát hành CP 090812, số vào
sổ cấp GCN: CS20690 cấp ngày 28/12/2018 trái pháp luật, trong khi giấy chứng
nhận bản chính (CS19617) bà L đã quản lý.
Nhận thấy, quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS20690
cấp ngày 28/12/2018 của Sở T không xác minh, điều tra làm căn cứ, sở để
cấp lại đúng quy định pháp luật hay không. Đồng thời, nếu trường hợp cấp lại
thì tại mục thứ 6 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất buộc phải “Ghi chú”
cấp lại lần thứ mấy.Trong trường hợp này, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số:
CS20690 cấp ngày 28/12/2018 hoàn toàn không thể hiện. Do đó, việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên của Sở T không căn cứ, trái quy định
pháp luật.
Ngoài ra, việc kết công chứng chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất nêu trên của Văn phòng C1 ngày
28/10/2019, số công chứng: 1749 ng trái quy định pháp luật. Bởi lẽ, trước đó tài
sản đã được chuyển nhượng cho theo hợp đồng chuyển nhượng được công
chứng tại Văn phòng công chứng 24h ngày 27/6/2018, trong khi hợp đồng giữa bà
với vợ chồng ông X H hoàn toàn chưa kết thúc hoặc các bên không hợp
đồng hủy hợp đồng chuyển nhượng nêu trên. Nên hợp đồng chuyển nhượng giữa
L với vợ chồng ông X H vẫn còn giá trị pháp lý. Do đó, khởi kiện yêu
cầu Toà án giải quyết các vấn đề gồm:
+ Buộc ông Nguyễn Mộng X, Hồ Thị H tiếp tục thực hiện Hợp đồng
chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ngày 27/6/2018.
+ yêu cầu ông X, H bàn giao toàn bộ tài sản gồm quyền sử dụng đất
diện tích 72m
2
(đất ở đô thị) và tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ, cấp 3, diện
tích sàn: 226,8m
2
tại thửa đất số 333, tờ bản đồ số 47, tọa lạc tại địa chỉ: đường B,
khu dân I, P. A, Q. N, thành phố Cần Thơ. Theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất số CC 19617 do Sở T cấp
ngày 26/6/2018, Giấy đất mới mang số CS20690 cấp ngày 28/12/2018 cho ông
Nguyễn Mộng X và bà Hồ Thị H đứng tên sử dụng và sở hữu.
+ Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
gắn liền với đất số CP 090812, số vào sổ cấp GCN: CS20690 do Sở T cấp ngày
28/12/2018 cho ông Nguyễn Mộng X, Hồ Thị H. Quyền sử dụng đất diện tích
72m
2
(đất ở đô thị) và tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ, cấp 3, diện tích sàn:
226,8m
2
tại thửa đất số 333, tờ bản đồ số 47, tọa lạc tại địa chỉ: đường B, khu dân
cư I, P. A, Q. N, thành phố Cần T.
+ Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với
đất được kết giữa giữa ông Nguyễn Mộng X bà Hồ Thị H với Lâm Thị
Tuyết N, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 28/10/2019, số công
chứng 1749 đối với nhà đất tại thửa đất số 333 theo Giấy chứng nhận quyền sử
7
dụng đất nêu trên.
+ Tuyên hiệu Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất được kết
giữa ông Nguyễn Mộng X và bà Hồ Thị H với Công ty CP T5, hợp đồng được công
chứng tại n phòng C1 ngày 27/10/2017, số công chứng: 303, quyển số
03/2017/TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản chuyển nhượng đất thuộc thửa đất số 333,
tờ bản đsố 47, diện tích 72m
2
(đất ở đô thị); tọa lạc tại địa chỉ: đường B, khu dân
I, P. A, Q. N, thành phố Cần Thơ. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất số CC 946121, số vào sổ cấp GCN:
CS15986 do Sở T cấp ngày 26/7/2016.
+ Tuyên hủy Vi bằng số: 194/2020/VB-TPL do thừa phát lại của Văn phòng T6
được lập vào lúc 15 giờ 22 phút ngày 28/05/2020.
+ Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với
đất được lập ngày 27/6/2018 giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Mộng
X, Hồ Thị H với bên nhận chuyển nhượng Bùi Thị L, được công chứng
viên Đỗ Thị H1 thuộc Văn phòng công chứng 24h chứng nhận, số công chứng
4646, quyển số 04 TP/CC - SCC/HĐGD đối với phần đất diện tích 72m2 (đất đô
thị) tài sản gắn liền với đất nhà riêng lẻ, cấp 3, diện ch sàn: 226,8m2 tại
thửa đất số 333, tờ bản đồ số 47, tọa lạc tại địa chỉ: đường B, khu dân cư I, P. A, Q.
N, thành phố Cần Thơ.
+ Trong trường hợp Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của L
tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với
đất lập ngày 27/6/2018 nêu trên, yêu cầu Toà án xử hậu quả của hợp đồng
hiệu là: Tuyên buộc ông Nguyễn Mộng X, HThị H, Văn phòng C1 và Công
chứng viên Đỗ Thị H1 có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho L tổng số
tiền tạm tính đến ngày 10/11/2025: 6.311.747.867 đồng (Trong đó: Số tiền nhận
chuyển nhượng nhà đất: 3.640.000.000 đồng; số tiền lãi từ ngày 28/6/2018 đến
ngày khởi kiện bổ sung 10/11/2025, lãi suất: 0.83%/tháng: 3.640.000.000 đồng x
88 tháng 13 ngày x 0.83%/tháng = 2.671.747.867 đồng).
+ Đồng thời, yêu cầu ông X, H, Văn phòng công chứng 24h Công
chứng viên Đỗ Thị H1 phải tiếp tục thanh toán lãi chậm trả tương ứng thời gian
chậm trả
cho đến khi trả hết nợ.
* Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công ty T5, bị đơn công ty D2
có ý kiến như sau: công ty không đồng ý với tất cả các yêu cầu khởi kiện của Công
ty T5, bà L và yêu cầu độc lập của bà N. Cụ thể:
Đối với hợp đồng xin hộ dự án giữa Công ty D2 Công ty T5, ông Nguyễn
Mộng X với cách Giám đốc - đại diện theo pháp luật của Công ty D2 không
đồng ý hủy bỏ, do Công ty D2 đã thực hiện được một phần. Nên không đồng ý
hoàn lại số tiền tạm ứng 9.200.000.000 đồng và không đồng ý bồi thường theo mức
lãi suất 9,5%/năm như yêu cầu của Công ty T5 do hợp đồng chưa được thanh lý.
Công ty C2 đối với hợp đồng xin hộ dự án ngày 27/10/2017 sự chỉnh sửa lại số
8
trang con dấu giáp lai thay đổi nội dung thỏa thuận ban đầu ảnh hưởng đến
quyền lợi của ông. Do đó, ông đề nghị thu thập bản sao Hợp đồng nêu trên từ bản
chính được lưu trữ tại Văn phòng C1. Quá trình thực hiện hợp đồng do ông Trần
Ngọc V với cách đại diện theo ủy quyền của ng ty T5 trực tiếp kết thực
hiện giao dịch với ông hai bên thỏa thuận một số vấn đề liên quan đến hợp
đồng này. vậy, để làm sáng tỏ bản chất vụ việc ông đnghị Tòa án tổ chức đối
chất giữa ông và ông Trần Ngọc V tại nơi ông đang chấp hành án.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty T5 về việc chuyển nhượng nhà, đất thì
ông không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng. Ông thừa nhận
ký hợp đồng chuyển nhượng, tuy nhiên đây là hợp đồng giả tạo để thay thế cho hợp
đồng xin hộ dán thể hiện trên hợp đồng số tiền trên hợp đồng 9.500.000.000
đồng. Thực tế ông chỉ nhận 1.000.000.000 đồng tiền mặt do ông Trần Ngọc V
người đại diện của Công ty T5. Số tiền 8.500.000.000 đồng còn lại ông không
nhận, ông xin được 01 dự án cây xăng T7 tại đường dẫn cầu C. Nay ông yêu
cầu tuyên bố hiệu đối với hợp đồng chuyển nhượng với Công ty T5 đtiếp tục
thực hiện hợp đồng dự án với Công ty T5. Ông trình bày thêm, số tiền
1.000.000.000 đồng ông nhận của Công ty T5 số tiền tạm ứng để thực hiện hợp
đồng xin hộ dự án, khi giao không làm biên nhận chứ không phải tiền chuyển
nhượng. Đồng ý tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa ông, H và bà L, bà
N. Giữ nguyên gtrị Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 090812 cấp ngày
28/12/2018. Đồng ý thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 15986
CN 257910.
Đối với yêu cầu độc lập của N về việc công nhận tiếp tục thực hiện hợp
đồng chuyển nhượng đối với thửa đất 333 thì ông không đồng ý, ông yêu cầu hủy
bỏ do phí N chưa thực hiện thanh toán số tiền chuyển nhượng cho ông, ông và
vợ H chưa bàn giao tài sản chuyển nhượng cho N. Đối với hợp đồng
chuyển nhượng với N giả tạo để thế chấp vay tiền của N theo thỏa thuận
miệng, do trước đó ông cầm chiếc xe ô cho chị ruột N T3 nên T3
giới thiệu ông ký hợp đồng chuyển nhượng với bà N để vay số tiền 4.000.000.000
đồng. Trong đó, cấn trừ 1.000.000.000 đồng cho T3 để chuộc xe ô tô, còn lại số
tiền 3.000.000.000 đồng ông chưa nhận được từ bà N. Do đó, ông yêu cầu tuyên vô
hiệu hợp đồng chuyển nhượng giữa ông, H N. Đối với hợp đồng vay tiền
giữa ông với N do N chưa giao tiền nên không nghĩa vụ trả lại, việc này
hai bên thỏa thuận miệng, không làm văn bản, biên nhận gì. Nhà đất vẫn do gia
đình ông quản sử dụng, vợ chồng ông đứng n. Đề nghị giữ nguyên giá trị đối
với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới ngày 28/12/2018.
Đối với yêu cầu của L ông không đồng ý: ông chỉ vay của L
300.000.000 đồng tiền mặt, làm giấy tay vay tiền do L giữ, ông đóng lãi,
trả gốc bằng hình thức chuyển khoản tiền mặt, không làm biên nhận. Hiên
nay ông còn nợ bà L khoảng 150.000.000 đồng, ông đồng ý trả cho bà L số tiền này
9
lãi. Đồng ý tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
L. Ông không tên vào hợp đồng đặt cọc 200.000.000 đồng. Nhà đất
hiện nay vẫn do gia đình ông quản lý, sử dụng, không bàn giao cho ai khác. Giấy
đất cấp ngày 26/7/2016 của vợ chồng ông nhưng ông đã báo mất và xin cấp lại
Giấy đất mới nên đề nghị thu hồi 02 giấy đất cũ. Giấy đất mới hiện nay vẫn do vợ
chồng ông đứng tên, chưa sang tên ai khác.
* Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan lần lượt trình bày ý kiến
yêu cầu như sau:
- Bà Hồ Thị H (vợ Mộng X) trình bày: không có ý kiến và đề nghị Tòa án xem
xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Lâm Thị Tuyết N trình bày: Ông X, H chủ sở hữu căn nhà cấp 3
diện tích sàn 227,8m
2
quyền sử dụng phần phần đất diện tích 72m
2
thuộc
thửa 333; tờ bản đồ số 47. Nhà đất tọa lạc tại đường B, khu dân I, phường A,
quận N, thành phố Cần Thơ; Chiếu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CP 090812 do Sở Tài
nguyên môi trường thành phố C cấp ngày 28/12/2018. gặp vợ chồng ông
X để thỏa thuận chuyển nhượng nhà và đất, sau khi xem tài sản, xem giấy tờ, đồng
ý giá cả ngày 28/10/2019 ông X, bà H ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất nói trên
cho với giá 4 tỷ (Giá thị trường tại thời điểm giao dịch), thuế phí người
đóng. Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền
với đất ngày 28/10/2019 tại Văn phòng C1. Ngay sau khi ký kết hợp đồng, bà N đã
giao đủ số tiền mua bán nhà trị giá 4.000.000.000 đồng bằng tiền mặt nói trên cho
ông X. Sau đó, bà đã được vợ chồng ông X bàn giao nhà vào ở, sau đó mua ổ khoá
khoá cửa nhà này. Do để mua được nhà đất i trên, N phải vay mượn thêm
người thân và bạn bè nên khi thanh toán xong thì không còn tiền để đóng thuế (gần
100 triệu đồng). vậy nên mãi tới ngày 19/12/2019 khi chuẩn bị đủ tiền mới
đến bộ phận một cửa của UBND quận N để nộp thủ tục sang tên thì mới bngăn
chặn từ bà L. Nay bà có đơn yêu cầu Toà án giải quyết:
+ Công nhận cho tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất ngày 28/10/2019 tại
VPCC Hoàng Văn T4, số công chứng: 1749, quyền số 01/2019-TP/CC-
SCC/HĐGD giữa bà và ông Nguyễn Mộng X, bà Hồ Thị H.
+ Dành quyền cho được quyền liên hệ với các quan thẩm quyền để
đăng sang tên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất đối với căn nhà cấp 3, diện tích sàn 227,8m
2
và quyền sử dụng phần đất có
diện tích 72m
2
, thuộc thửa 333, tờ bản đồ số 47, toạ lạc tại đường B, KDC I, P. A,
quận N, TP . theo đúng quy định pháp luật về đăng ký chuyển quyền sử dụng đất và
sở hữu nhà ở.
- Văn phòng công chứng 24h trình bày ý kiến: Ngày 27/6/2018, Văn phòng
C1 (Công chứng viên Đỗ Thị H1) nhận được yêu cầu công chứng “Hợp đồng
10
chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất" giữa ông Nguyễn
Mộng X, vợ là bà Hồ Thị HBùi Thị L. Sau khi đối chiếu với giấy tờ tùy thân,
giấy tờ liên quan các bên cung cấp. Căn cứ theo quy định của pháp luật, Văn
phòng C1 ng chứng hợp đồng số 4646 quyển số 04/TP/CC- SCC/HĐGD. Việc
công chứng tuân thủ theo trình tự, thủ tục được quy định tại Luật Công chứng
2014. Nay Văn phòng Công chứng 24h có ý kiến đối với từng yêu cầu như sau:
- Đối với nguyên đơn Công ty CP T5, Văn phòng công chứng 24h không có
bất kỳ liên quan đến Công ty, do đó, Văn phòng C1 xác định không có bất kỳ nghĩa
vụ nào đối với yêu cầu này. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 Cần Thơ xác
định cụ thể ngay tại yêu cầu này để thụ lý vụ án đúng quy định pháp luật.
- Đối với yêu cầu của Bùi Thị L, hợp đồng số 4646 quyền số 04/TP/CC-
SCC/HĐGD được ng chứng đúng quy định của pháp luật. Do đó, việc ông
Nguyễn Mộng X, Hồ Thị HBùi Thị L thực hiện hợp đồng đó như thế nào
do năng lực, quyền nghĩa vụ của các bên. Văn phòng Công chứng không
bất kỳ quyền nghĩa vụ để bồi thường trong trường hợp “Tòa án tuyên hợp đồng
hiệu”. Do đó, đề nghị Tòa xác định việc khởi kiện này phù hợp với quy định
của pháp luật dân sự về việc yêu cầu Văn phòng C1 phải bồi thường. Việc Công ty
T5 yêu cầu tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản
gắn liền với đất nêu trên là không có căn cứ.
- Bà Đỗ Thị H1 trình bày ý kiến: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
tài sản gắn liền với đất số công chứng: 4646, Quyển số 04 TP/CC-SCC/HĐGD
được Công chứng viên Đỗ Thị H1 của Văn phòng C1, thành phố Cần Thơ chứng
nhận ngày 27/06/2018 được giao kết giữa: Bên chuyển nhượng: Hồ Thị H, Nguyễn
Mộng X, bên nhận chuyển nhượng: Bùi Thị L về trình tự thủ tục công chứng nêu
trên đúng theo quy định pháp luật về công chứng; Pháp luật về dân sự.
Về yêu cầu liên đới bồi thường thiệt hại cho Bùi Thị L: Công chứng viên
đã thực hiện đúng trách nhiệm, quyền hạn của mình nên Hợp đồng có đầy đủ giá trị
pháp lý, giá trị chứng cứ và hiệu lực thi hành đối với các bên tham gia giao kết hợp
đồng. Việc thực hiện quyền nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng
nêu trên do các bên tự thực hiện, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, ngoài sự
chứng kiến của Công chứng viên cũng như không trách nhiệm trong việc yêu
cầu các bên thực hiện quyền nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Việc không thực
hiện quyền và nghĩa vụ của các bên dẫn đến Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất tài sản gắn liền với đất nêu trên bị Tòa án nhân dân thẩm quyền
tuyên hiệu thì không yếu tố lỗi của Công chứng viên nên không trách
nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.
- Văn phòng T6 trình bày ý kiến: Vi bằng số 194/2020/VB-TPL ngày
28/5/2020 được lập theo yêu cầu của Công ty Cổ phần T5 người tham gia lập vi
bằng là bà Hồ Thị H. Vi bằng nêu trên đã được Thừa phát lại Văn phòng Thừa phát
lại T6 lập theo đúng quy định pháp luật. Đối với yêu cầu của các bên đề nghị Tòa
11
án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử thẩm công khai.
Tại bản án thẩm số 12/2026/KDTM-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T5 đối với các vấn
đề gồm:
- Hủy bỏ Hợp đồng dịch vụ xin hộ dự án kết giữa Công ty T5 Công ty
D2 được công chứng vào ngày 27/10/2017 tại Văn phòng C1.
- Buộc Công ty D2 hoàn trả cho Công ty T5 số tiền đã tạm ứng tại Hợp đồng
dịch vụ xin hộ dự án ngày 27/10/2017 9.200.000.000 đồng bồi thường thiệt
hại cho Công ty T5 số tiền lãi từ ngày 24/3/2018 tạm tính đến ngày xét xử thẩm
(30/3/2026) là 3.006.368.123 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi 16.206.367.123 đồng
(Mười sáu tỷ, hai trăm lẻ sáu triệu, ba trăm sáu mươi bảy nghìn, một trăm hai
mươi ba đồng) và lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc, mức lãi suất 9,5%/năm từ
ngày 31/3/2026 cho đến khi Công ty D2 thanh toán xong nợ cho Công ty T5.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của Công ty T5 vviệc buộc Công ty D2 phải
trả cho Công ty T5 số tiền trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa
ông Nguyễn Mộng X, bà Hồ Thị H với bà Bùi Thị L ngày 27/6/2018 tại Văn phòng
công chứng 24h.
- Kiến nghị quan thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu ntài sản khác gắn liền với đất số CN 257910, số vào sổ
cấp GCN: CS19617 do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố C cấp ngày
26/6/2018.
2. Không chấp nhận yêu cầu của Công ty T5 đối với các vấn đề khởi kiện
liên quan đến việc chuyển nhượng nhà đất.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị L đối với các vấn đề gồm:
- Tuyên hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn
liền với đất được kết giữa giữa ông Nguyễn Mộng X Hồ Thị H với
Lâm Thị Tuyết N
- Tuyên hiệu Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất được kết
giữa ông Nguyễn Mộng X và bà Hồ Thị H với Công ty CP T5
- Hủy Vi bằng số: 194/2020/VB-TPL do thừa phát lại của Văn phòng T6 được lập
vào lúc 15 giờ 22 phút ngày 28/05/2020.
- Buộc ông Nguyễn Mộng X, Hồ Thị H trả số tiền đã nhận bồi thường
thiệt hại cho bà Bùi Thị L tổng số tiền là 4.444.015.622 đồng (Bốn tỷ, bốn trăm bốn
mươi bốn triệu, không trăm mười lăm nghìn, sáu trăm hai mươi hai đồng).
3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị L đối với vấn đề gồm:
- Buộc ông Nguyễn Mộng X, Hồ Thị H tiếp tục thực hiện Hợp đồng
chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ngày 27/6/2018 yêu cầu ông X, H bàn
12
giao toàn bộ tài sản gồm quyền sử dụng đất diện tích 72m
2
(đất đô thị) tài sản
gắn liền với đất nhà riêng lẻ cấp 3, diện tích sàn: 226,8m
2
tại thửa đất số 333,
tờ bản đồ số 47.
- Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
gắn liền với đất số CP 090812, số vào sổ cấp GCN: CS20690 do Sở T cấp ngày
28/12/2018 cho ông Nguyễn Mộng X, Hồ Thị H. Quyền sử dụng đất diện tích
72m
2
(đất ở đô thị) và tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ, cấp 3, diện tích sàn:
226,8m
2
tại thửa đất số 333, tờ bản đồ số 47, tọa lạc tại địa chỉ: đường B, khu dân
cư I, P. T, thành phố Cần Thơ.
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với
đất được lập ngày 27/6/2018 giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Mộng
X, bà Hồ Thị H với bên nhận chuyển nhượng là bà Bùi Thị L.
- Buộc Văn phòng công chứng 24h Công chứng viên Đỗ Thị H1 trách nhiệm
liên đới bồi thường thiệt hại cho bà L.
5. Chấp nhận yêu cầu của N về việc: Buộc ông Nguyễn Mộng X, Hồ
Thị H trả số tiền đã nhận bồi thường cho Lâm ThTuyết N tổng số tiền
4.444.015.622 đồng.
6. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Lâm Thị Tuyết N đối với các
yêu cầu gồm:
- Công nhận và cho tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất ngày 28/10/2019 tại
VPCC Hoàng Văn T4 giữa bà Lâm Thị Tuyết N ông Nguyễn Mộng X, Hồ
Thị H.
- Dành quyền cho bà N được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để
đăng sang tên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất đối với căn nhà cấp 3, diện tích sàn 227,8m
2
và quyền sử dụng phần đất có
diện tích 72m2, thuộc thửa 333.
- Không chấp nhận yêu cầu của N về việc yêu cầu buộc Văn phòng C1
công chứng viên Nguyễn Trường Huy B trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt
hại cho bà N.
7. Kiến nghị Chi nhánh Văn phòng Đ- Văn phòng Đ1 (Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai quận N cũ) trả cho ông X, H bản chính 01 Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CP
090812, số vào sổ cấp GCN: CS20690 do Sở T cấp ngày 28/12/2018 đối với thửa
đất 333 nêu trên để thực hiện thi hành án theo quy định.
8. Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu ntài sản khác gắn liền với đất số CN 257910, số vào sổ
cấp GCN: CS19617 do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố C cấp ngày
26/6/2018 và ngày 26/7/2016 đã cấp cho ông X, bà H.
13
9. Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
10. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng
cáo của các đương sự.
* Ngày 15 tháng 4 năm 2026, nguyên đơn bà Bùi Thị L kháng cáo yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm xét xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà.
* Ngày 09 tháng 4 năm 2026, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Lâm Thị Tuyết N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử chấp nhận
công nhận hợp đồng chuyển nhượng đã với vợ chồng ông X cho đi
đăng ký nhà đất.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn Công ty T5 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị giữ
nguyên án sơ thẩm.
- Nguyên đơn L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, nếu trong trường
hợp tuyên vô hiệu thì dành cho bà quyền ưu tiên thanh lý nhà đất nêu trên.
- Bà Lâm Thị Tuyết N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Luật bảo vệ quyền lợi cho L phát biểu quan điểm: đề nghị chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà L vì bà L có ký giao tiền cọc, giao đủ tiền chuyển
nhượng cho ông X, H, hợp đồng công chứng theo quy định, về giấy đất
khi là thật, ông X đã bàn giao bản chính cho bà L giữ để làm thủ tục. Chính
ông X người khai mất giấy để được cấp giấy khác tiếp tục ký cho N
không đúng, hành vi gian dối để chiếm đoạt tiền nên ý kiến đề nghị
chuyển cơ quan điều tra xử lý hành vi của ông X theo quy định.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
+ Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm xem xét các
chứng cứ có trong hồ sơ, thấy rằng, cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đầy đủ các
chứng cứ và phán quyết đúng quy định nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Việc đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt, một số người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt các
đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Việc Luật bảo vệ quyền lợi cho L đề nghị chuyển quan điều
tra xem xét hành vi của ông X, thấy rằng trước đây, bà L đã có đơn tố cáo ông X
đến quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, nhưng quá trình điều tra thì
đã đình chỉ điều tra nên yêu cầu này là không có căn cứ chấp nhận.
14
[1.3] Đối với yêu cầu của bà L phát sinh tại phiên tòa: đề nghị cho được
ưu tiên thanh nhà đất trong trường hợp Tòa tuyên hiệu hợp đồng, xét, yêu
cầu này vượt quá so với yêu cầu khởi kiện cũng như kháng cáo nên không
căn cứ để xem xét.
[2] Xét kháng cáo của bà L:
[2.1] Về kháng cáo yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất: Qua
xem xét các chứng cứ trong hồ diễn biến tranh tụng tại phiên tòa phúc
thẩm hôm nay, sở xác định: ngày 27/6/2018 giữa ông Nguyễn Mộng X,
Hồ Thị H với Bùi Thị L đã hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với
nhau tại Văn phòng công chứng 24h đối với thửa đất số 333 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất số CC 19617 do
Sở T cấp ngày 26/6/2018, g chuyển nhượng: 300.000.000 đồng. theo biên
nhận ngày 27/6/2018 giấy nhận cọc ngày 20/6/2018 thể hiện tổng số tiền bà L
giao cho ông X 3.640.000.000 đồng. L cho rằng nhận chuyển nhượng đất
của ông X, H không có việc cho ông X vay nông X, H trình bày nhưng
ông X, bà H không thừa nhận chuyển nhượng nđất tại thửa 333 cho L
cho rằng để đảm bảo cho việc vay mượn tiền của L, hai bên đã hợp đồng
chuyển nhượng với nhau. Nhưng khi vụ việc ông X được quan điều tra mời làm
việc thì phía bà L cho rằng cho ông X mượn tiền nhiều lần (bút lục 196), L
thừa nhận (bút lục 233) nhận nhiều khoản tiền của ông X chuyển khoản nhưng
tiền thuê nhà, xét tiền thuê nhà với giá 10.000.000đ/tháng thì không thể chuyển một
lần nhiều tiền cụ thể như ngày 17/5/2019 chuyển 40.000.000đ, ngày 23/10/2019
chuyển 10.000.000đ, ngày 06/12/2019 chuyển 60.000.000đ, ngày 20/12/2019 số
tiền 100.000.000đ, do đó, căn cứ xác định đây tiền lãi ông X đóng cho L,
không phải tiền thuê nhà. Đồng thời, từ thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng đến
nay không có việc bàn giao nhà và đất cho bà L, L cũng không làm thủ tục sang
tên ngay mà đến tận năm 2019 mới đăng thì bị ngăn chặn, qua đó, cho thấy các
bên không thực hiện đúng bản chất của giao dịch chuyển nhượng. Do đó, L
kháng cáo yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng và bàn giao nhà đất tại thửa 333 cho
bà là không có căn cứ chấp nhận. Thời điểm bà L giao tiền để nhận chuyển nhượng
từ ngày 27/6/2018 cho đến nay, giá trị tài sản theo chứng thư thẩm định giá thể hiện
giá là 4.444.015.622 đồng cho thấy có sự chênh lệch giá, bà L thiệt hại trên thực
tế nên cấp thẩm buộc ông X, bà H trả lại số tiền đã nhận bồi thường thiệt hại
tổng số tiền 4.444.015.622 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về kháng cáo trách nhiệm liên đới trong trường hợp hiệu hợp đồng:
Khi ký chuyển nhượng cho công ty T5 thì ông X làm đơn cớ mất được cấp giấy
ngày 26/6/2018, sau đó dùng giấy này đi chuyển nhượng tiếp cho L, sau khi
chuyển nhượng cho L thì ông X lại làm đơn cớ mất làm giấy mới cấp ngày
28/12/2018 để đi chuyển nhượng cho N. Tại công văn số 667 ngày 09/3/2023
(BL 289) của Sở T thể hiện nội dung trên. Qua chuỗi sự việc nêu trên thấy rằng, lỗi
là do ông X đã làm đơn cớ mất Giấy đất ký hợp đồng chuyển nhượng với L, xin
cấp lại giấy đất và được cấp giấy mới. Thời điểm ông X, bà H ký Hợp đồng chuyển
nhượng với Công ty T5 là Giấy đất cũ cấp ngày 16/7/2016 nhưng Hợp đồng chuyển
nhượng giữa L ông X, H Giấy đất mới được cấp ngày 26/6/2018, lỗi
không thuộc về Văn phòng công chứng 24h công chứng viên Đỗ Thị H1 nên
không có cơ sở chấp nhận yêu cầu buộc Văn phòng công chứng 24h và công chứng
15
viên Đỗ Thị H1 trách nhiệm liên đới bồi thường cho L. Kháng cáo của L
không có căn cứ chấp nhận.
[3] Về kháng cáo của N: Phía bà N cho rằng nhận chuyển nhượng nhà
đất của ông X, H nhưng tại biên bản đối chất ngày 24/12/2020 tại trại giam
Công an tỉnh V thể hiện: ông X cho rằng không bán nhà đất cho N nên không
bàn giao nhà đất cho N. Việc ông H tên vào Hợp đồng chuyển
nhượng với N nhằm đảm bảo cho việc thế chấp tài sản với số tiền vay
4.000.000.000 đồng, hiện nhà và đất nêu trên vẫn do H quản lý, sử dụng, không
có việc giao nhà đất cho bà N, không thực hiện đúng bản chất của giao dịch chuyển
nhượng. Đồng thời, nhà đất tại thửa đất số 333 đã được chuyển nhượng cho
L trước đó nên không thể xác lập hợp đồng với chủ thể khác N, mặc
ông X đã làm đơn cớ mất giấy đất ông đã hợp đồng với L, L không
biết việc này cho thấy Hợp đồng chuyển nhượng giữa bà N và ông X, bà H vô hiệu.
Cấp thẩm xử hậu quả hợp đồng hiệu căn cứ. vậy, kháng cáo của
bà N là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Với những nhận định trên nên đề nghcủa đại diện Viện kiểm sát
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng
cứ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn công ty T5, một phần yêu
cầu của bà L, một phần yêu cầu của bà N là đúng nên giữ nguyên.
[4] Về chi phí tố tụng: giữ nguyên như án sơ thẩm.
[5] Về án phí:
[5.1] Sơ thẩm: giữ nguyên như án sơ thẩm
[5.2] Phúc thẩm: N, L phải chịu do kháng cáo không được chấp
nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
* Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị L.
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Lâm Thị Tuyết N.
- Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 12/2026/KDTM-
ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cần Thơ.
- Về án phí phúc thẩm: Bùi Thị L Lâm Thị Tuyết N mỗi người
phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các
biên lai thu số 0007187 ngày 15/4/2026 số 0006569 ngày 09/4/2026 của Thi
hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
16
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6, 7, 8,
Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT;
- TAND khu vực 1 - Cần Thơ;
- THADS khu vực 1 - Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hà Thị Phương Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 50/2026/KDTM-PT Bản án số 50/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 50/2026/KDTM-PT Bản án số 50/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất