Bản án số 290/2026/KDTM-PT ngày 13/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về cung ứng dịch vụ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 290/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 290/2026/KDTM-PT ngày 13/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 290/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 290/2026/KDTM-PT Bản án số 290/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 290/2026/KDTM-PT Bản án số 290/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PH H CHÍ MINH
Bn án s: 290/2026/KDTM-PT
Ngày: 13/8/2026
V/v tranh chp hợp đồng dch v
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PH H CHÍ MINH
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên toà: Bà Phùng Th Như Mai
Các Thm phán: Bà Hoàng Th Bích Tho
Bà Ngô Th Phúc Ho
- Thư phiên tòa: Phan Th Thu Hin Thư Tòa án, Tòa án nhân
dân Thành ph H Chí Minh.
- Đại din Vin kim sát nhân dân Thành ph H Chí Minh tham gia
phiên tòa: Trn Th Thơm - Kim sát viên.
Trong các ngày 06 13/8/2026, ti tr s Tòa án nhân dân Thành ph H
Chí Minh xét x phúc thm công khai v án kinh doanh thương mi th s:
178/2026/TLPT-KDTM ngày 08 tháng 6 năm 2026 về: “Tranh chp hợp đồng
dch v
Do Bn án kinh doanh thương mại thm s 07/2026/KDTM-ST ny
03/4/2026 ca Tòa án nhân dân khu vc 11, Tnh ph H Chí Minh b kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét x s 4013/2026/QĐ-PT ngày 23 tháng 6
năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa s 11218/2026/QĐ-PT ngày 23 tháng 7
năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Đ; Địa chỉ liên hệ: 26 K, đường N,
khu Công nghiệp P, phường H, Tnh phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Ông D; chức vụ: Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà T; Địa chỉ: Chung C, ngã tư 550,
phường A, tỉnh Bình Dương;
Bị đơn: Công ty TNHH N;
Địa chỉ trụ sở chính: B3/41C đường L, ấp 2, A, huyện C (nay A),
thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ chi nhánh: Đường số 01 khu Công nghiệp X, phường D, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Ngưi đi din theo pháp lut: ông M; chức v: Giám đc;
Người đại diện theo ủy quyền: ông H1, bà H2; Địa chỉ: số 51 đường D khu
nhà ở H, khu phO, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Ti đơn khi kin, lời khai trong trong quá trình gii quyết vụ án và tại
phiên tòa thm, đại diện hợp pháp của nguyên đơn T trình y:
Ngày 12/12/2019, Công ty TNHH Đ (viết tắt Công ty Đ) Công ty
TNHH N (viết tắt Công ty N) Hợp đồng dịch vụ cung ứng quản lao
động thời vụ số 01/TD-N/12/2019 đcung ứng người lao động nước ngoài làm
việc tại Nhà máy của Công ty N.
Theo Khoản 4 Điều 1 Hợp đồng số 01/TD-N/12/2019: Ngày 04-05
(Dương lịch) hàng tháng Công ty N nghĩa vụ thanh toán chi phí thuê nhân
công thời vụ cho Công ty Đ theo thông tin ghi trên hóa đơn. Trường hợp quá
hạn thanh toán, phải trả thêm lãi suất 0,1%/ngày trên khoản nợ chậm trả, tính từ
ngày quá hạn.
Công ty Đ cung ứng cho Công ty N 16 người lao động Bangladesh t
tháng 02/2020 đến tháng 5/2020. Tại thời điểm hợp đồng cung ứng 16
người lao động nước ngoài gồm: U1, R1, M1, R2, M2, U2, M3, S1, R3, I, J, S2,
Z, M4, M5, R4 thì Công ty Đ chưa có Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm, chỉ
giấy phép Hoạt động cho thuê lại lao động số 26/2020/SDB ngày 13/3/2020.
Những người lao động nước ngoài trên cũng chưa có giấy phép lao động.
Tháng 04/2020, Công ty N sdụng 16 người lao động nước ngoài trên.
Công ty Đ xuất hóa đơn số 000008 ngày 29/04/2020 với số tiền 178.778.060
đồng. Công ty N đã thanh toán đủ số tiền này.
Tháng 5/2020, ng ty N tiếp tục sử dụng 16 người lao động nước ngoài
này. Công ty Đ đã thanh toán tiền lương cho 16 người lao động và xuất hóa đơn
số 0000065 ngày 30/5/2020 với số tiền 174.903.962 đồng. Sau khi xuất hóa đơn
và yêu cầu Công ty N thanh toán, nhưng tới nay Công ty N vẫn chưa thanh toán.
Tại đơn khởi kiện ngày 06/11/2024, nguyên đơn yêu cầu:
Buộc Công ty TNHH N phải thanh toán số tiền 178.778.060 đồng.
Buộc Công ty N thanh toán tiền lãi phát sinh theo qui định hợp đồng
0,1%/ngày *1646 ngày (từ ngày 05/05/2020 đến hết ngày 06/11/2024):
178.778.060 đồng x 0,1% x 1646 ngày = 294.268.687 đồng.
Tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 06/11/2024 là: 473.046.747 đồng.
Ngày 15/05/2025, Nguyên đơn có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
Buộc Công ty N phải trả số tiền 174.903.962 đồng (Một trăm bảy mươi tư
triệu chín trăm lẻ ba nghìn chín trăm sáu mươi hai đồng) theo Hóa đơn số
0000065 ngày 30/5/2020.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định Hợp đồng dịch
vụ cung ứng quản lao động thời vụ số 01/TD-N/12/2019 hiệu yêu
cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu, buộc bị đơn phải trả cho nguyên
đơn số tiền còn nợ 174.903.962 đồng (Một trăm bảy mươi tư triệu chín trăm
lẻ ba nghìn chín trăm sáu mươi hai đồng) theo Hóa đơn số 0000065 ngày
3
30/5/2020.
Ý kiến của Bị đơn Công ty TNHH N:
Bị đơn xác nhận ngày 12/12/2019, Công ty Đ Công ty N kết Hợp
đồng dịch vụ cung ứng quản lao động thời vụ số 01/TD-N/12/2019 để
cung ứng 16 người lao động quốc tịch Bangladesh tại Nhà máy của Công ty N
như nguyên đơn trình bày. Theo đó Công ty Đ cung ứng cho Công ty N 16 lao
động người Bangladesh ttháng 02/2020 đến tháng 5/2020. Tại thời điểm
hợp đồng cung ứng 16 người lao động nước ngoài, Công ty Đ chưa Giấy
phép hoạt động dịch vụ việc làm 16 người lao động nước ngoài trên cũng
chưa giấy phép lao động. Công ty Đ không xin được Giấy phép lao động cho
những người trên và Công ty N đã phải nhờ bên thứ 03 làm thủ tục xin giấy
phép cho 16 người lao động. Mười sáu (16) người lao động trên đã người lao
động của Công ty N từ 01/04/2020 theo Giấy phép lao động mà bị đơn cung cấp
cho Tòa án tại phiên tòa.
Công ty N đã sử dụng 16 người lao động trên từ tháng 02/2020, đến hết
tháng 05/2020 vẫn sử dụng. Tháng 04/2020, Công ty N đã thanh toán cho Công
ty Đ số tiền 178.778.060 đồng theo hóa đơn số 000008. Tháng 05/2020, Công ty
N vẫn sử dụng 16 người lao động nhưng việc Công ty Đ trả lương cho 16 người
lao động như thế nào, Công ty N không xác nhận, không đối chiếu công nợ.
Công ty N không nợ Công ty Đ số tiền 174.903.962 đồng theo Hóa đơn số
0000065 ngày 30/5/2020.
Ngày 14/10/2025, Sở Nội vụ thành phố Hồ Chí Minh văn bản số 36
6738/SNV-VLATLD nội dung: “Tại thời điểm ngày 12/12/2019, Sở Lao
động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Dương (nay là Sở Nội vụ thành phố Hồ
Chí Minh) chưa cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm cho Công ty TNHH
Đ. Sau thời điểm trên, Công ty TNHH Đ đã được Sở cấp Giấy phép hoạt động
dịch vụ việc làm số 02/2022, cấp lần đầu ngày 06/07/2022, giấy phép hiệu
lực đến ngày 05/07/2027 (đính kèm Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm). Tại
thời điểm tháng 02/2020, Sở Lao động - Thương binh hội tỉnh Bình
Dương chưa cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài trong danh sách 16
(mười sáu) người quốc tịch Bangladesh làm việc tại Công ty TNHH Đ”.
Công ty N không nợ Công ty Đ khoản nợ nào, n vậy không có cơ sở đ
Công ty Đ đòi khoản nợ gốc với số tiền 174.903.962 đồng của Hóa đơn số
000065 ngà 30/5/2020 theo đơn yêu cầu thay đổi nội dung khởi kiện đã được
Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý.
Việc bị đơn báo cáo thuế đối với hóa đơn 000065 ngày 30/5/2020 là do
theo hợp đồng thì nguyên đơn xuất hóa đơn theo định kỳ bị đơn báo cáo thuế
theo định kỳ.
Tại phiên toà, đại diện hợp pháp của bị đơn không đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn không đồng ý trả tiền, không yêu cầu giải quyết
hậu quả của Hợp đồng vô hiệu.
Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 07/2026/KDTM-ST ngày
4
03/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 đã tuyên như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ về việc
tranh chấp Hợp đồng dịch vụ với Công ty TNHH N
1. Buc Công ty TNHH N phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ số tiền
130.156.159 đồng (một trăm ba mươi triệu, một trăm năm mươi sáu ngàn, một
trăm năm mươi chín đồng).
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ yêu cầu
Công ty TNHH N phải trả số tiền 44.747.803 đồng (bốn mươi bốn triệu, bảy
trăm bốn mươi bảy ngàn, tám trăm linh ba đồng).
Kể từ từ ngày tiếp theo của ngày t xử sơ thẩm cho đến khi thi nh án
xong, n phi thi hành án chm thực hin nga vụ thì ng tháng n phải thi
nh ánn phải chịu khon tin lãi ca số tin chm thi hành án theo mức lãi sut
quy định ti khon 2 Điều 468 B lut dân sự cho cho đến khi thi hành án xong.
Ngoài ra, bản án n tun về lệ phí, án phí và quyn kng o của c
đương sự.
Ngày 14/4/2026, Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh
nhận được đơn kháng cáo đngày 08/4/2026 của bị đơn Công ty TNHH N.
Công ty N kháng o toàn bộ bản án thẩm, đề nghHội đồng xét xphúc
thẩm sửa bản án thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo, giữ
nguyên án sơ thẩm.
Bị đơn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày nêu trên.
Đại din Vin kiểm sát nhân dân Thành ph Hồ Chí Minh phát biu ý kiến:
Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm
phán đã chấp hành đúng quy định vthẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án
quyết định đưa vụ án ra xét xử gửi hồ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng
thời hạn, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện
kiểm sát theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay,
phiên tòa tiến hành đúng trình tự pháp luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Kháng cáo của bị đơn không sở để chấp nhận. Đề
nghị Hội đồng xét xử y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa; nghe ý kiến của các đương sự; ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuân theo pháp luật trong qtrình
giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:
5
[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 03/4/2026, Toà án nhân dân
Khu vực 11 xét xử ban hành Bản án số 07/2026/KDTM-ST. Bị đơn mặt
tại phiên xét xử thẩm. Ngày 14/4/2026 Tòa án nhân dân Khu vực 11 nhận
được đơn kháng cáo của bđơn qua đường bưu điện. Căn cứ theo quy định tại
khoản 1 Điều 273 Bộ Luật Ttụng dân sự 2015 thì kháng cáo của bị đơn còn
trong thời hạn nên chấp nhận.
[2] Về tố tụng:
Nguyên đơn, Công ty TNHH Đ khởi kiện tranh chấp hợp đồng cung ứng
dịch vụ đối với bị đơn là Công ty TNHH N, có địa chỉ tại phường D, Thành phố
Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố
tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực
11, Thành phố Hồ Chí Minh. Do kháng cáo đối với Bản án thẩm nên căn
cứ điểm b khoản 3 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Thành ph
H C Minh có thẩm quyền gii quyết vụ án theo thủ tục phúc thm.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo:
(3.1) Công ty TNHH N kháng cáo cho rằng Hội đồng xét xử cấp thẩm
đã xét xử tuyên án vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội
đồng xét xử xét thấy như sau:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 06/7/2024, Công ty Đ khởi kiện yêu cầu Công
ty N thanh toán số tiền 473.046.747 đồng phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ cung
ứng quản lao động số 01/TĐ-N/12/2019 ngày 12/12/2019 giữa ng ty
Đ Công ty N (sau đây gọi tắt Hợp đồng số 01). Số tiền này bao gồm
178.778.060 đồng tiền dịch vụ 294.268.687 đồng tiền lãi theo thỏa thuận tại
hợp đồng do chậm thanh toán.
Tại Đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 15/5/2025, Công ty Đ thay đổi
yêu cầu khởi kiện thành đòi tài sản là số tiền 174.903.962 đồng theo Hóa đơn đã
xuất số 0000065 ngày 30/5/2020 phát sinh từ hợp đồng số 01 nêu trên.
Cả hai đơn yêu cầu khởi kiện của Công ty Đ đều xác định tranh chấp đối
với số tiền mà Công ty N còn phải thanh toán phát sinh từ Hợp đồng số 01. Chỉ
thay đổi về giá trị tiền yêu cầu thanh toán.
Bản án thẩm đã xét xử, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
ngun đơn, buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 130.156.159 đồng
theo bảng lương thực tế chi trả cho 16 người lao động. Mặc dù nguyên đơn bản
tự khai trình bày số tiền trên hóa đơn ghi nhận 174.903.962 đồng nhiều hơn số
tiền trên bảng lương của 16 lao động ký nhận là 130.156.159 đồng do Công ty Đ
là đơn vị cung ứng dịch vụ người lao động cho bên sử dụng là Công ty N. Khoản
chênh lệch y tiền chi phí cung ứng dịch vụ Công ty Đ được hưởng sau
khi trừ đi chi phí chi trả thực tế lương cho người lao động. Tuy nhiên, Hội đồng
xét xử sơ thẩm đã xác định Hợp đồng số 01 giữa Công ty Đ và Công ty N vô hiu
buộc Công ty N hoàn trả cho ng ty Đ giá trị của dịch vụ lao động đã sử
dụng tươngng số tiền lương 16 lao động thực nhận, không chấp nhận giá trị theo
6
Hóa đơn ghi nhận theo yêu cầu của ng ty Đ. Mặc đơn khởi kiện và đơn khởi
kiện bổ sung của nguyên đơn đều không yêu cầu tuyên bố hợp đồng hiệu, tuy
nhiên việc xem xét hiệu lực của hợp đồng điều kiện bắt buộc đgiải quyết
nghĩa vụ trả tiền theou cu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử sơ thẩm
đã xem xét hiệu lực của hợp đồng và tuyên hợp đồng vô hiệu ng n giải quyết
hậu quả của hợp đồng hiệu đúng quy định pháp luật, không vượt quá yêu
cầu khởi kin cũng như u cầu thay đổi u cầu khởi kiện của nguyên đơn.
(3.2) Bị đơn kháng cáo cho rằng nội dung Bản án tuyên ti pp luật, buộc
bị đơn thanh toán cho ngun đơn số tiền khi bị đơn kng thừa nhận nghĩa vụ
ngun đơn kng chng minh được. Hội đồng xét xử t thấy như sau:
Công ty Đ ký Hợp đồng số 01/- N/12/2019 về việc cung ứng và quản lý
lao động thời vụ cho Công ty N. Quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã
thực tế cung ứng 16 lao động người Bangladesh làm việc tại Nhà y của bị đơn
từ tháng 02/2020 đến tháng 05/2020. Bị đơn cũng xác nhận bị đơn đã sử dụng 16
lao động người Bangladesh như nguyên đơn trình y.
Ngày 29/04/2020, nguyên đơn xuất hóa đơn số 0000008 với số tiền dịch
vụ cung ứng lao động tháng 04/2020 là 178.778.060 đồng, bị đơn đã trả số tiền
trên và báo cáo thuế đối với hóa đơn này.
Tiếp theo, tháng 05/2020, nguyên đơn đã trả lương cho 16 lao động người
Bangladesh theo bảng thanh toán lương Công ty N tháng 05/2020 với tổng số
tiền 130.156.159 đồng. Ngày 30/5/2020, nguyên đơn đã xuất Hóa đơn Giá trị
gia tăng số 000065 với số tiền 174.903.962 đồng. Bị đơn cũng thừa nhận đã
nhận hóa đơn Giá trị gia tăng trên và thực hiện khai thuế theo quy định, điều
này thể hiện giao dịch giữa các bên là có thật đã được thực hiện trên thực tế.
Tuy nhiên, Công ty N cho rằng kể từ ngày 01/4/2020, 16 người lao động
này đã được cấp phép lao động trực tiếp cho Công ty N. Giữa nguyên đơn bị
đơn không tài liệu chứng cứ nào chứng minh hai bên chốt công nợ hay Công
ty N thừa nhận số tiền lương Công ty Đ thanh toán cho 16 lao động
130.156.159 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã yêu cầu đại
diện Công ty N cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh Công ty N tự thanh toán
tiền lương cho 16 lao động trong tháng 5/2020 và tạo điều kiện cho Công ty N
thời gian để thực hiện nghĩa vụ cung cấp tài liệu chứng cứ bổ sung. Nhưng hết
thời hạn ấn định, Công ty N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào. Căn cứ
tập quán thương mại giữa hai bên, phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng thực
tế Công ty N thừa nhận sử dụng lao động. Không chỉ xác nhận việc sử dụng
lao động trong tháng 5/2020, bđơn còn xác nhận đã sử dụng hóa đơn Công
ty Đ đã xuất. Bị đơn trình bày việc bị đơn báo cáo thuế đối với hóa đơn 000065
ngày 30/5/2020 theo thỏa thuận tại hợp đồng thì nguyên đơn xuất hóa đơn
theo định kỳ và bị đơn báo cáo thuế theo định kỳ. Như vậy, bị đơn vừa phủ nhận
Công ty Đ nhưng vẫn sử dụng hóa đơn đã xuất của Công ty Đ để báo cáo thuế
với lập luận các bên thỏa thuận trong hợp đồng về trách nhiệm xuất hóa đơn.
Tuy nhiên, việc xuất hóa đơn phải xuất phát từ giao dịch của các bên. Theo đó,
Công ty Đ trách nhiệm cung cấp dịch vụ người lao động trả lương cho
7
người lao động, Công ty N bên nhận dịch vụ, sử dụng trực tiếp người lao
động thanh toán lại chi phí dịch vụ cho Công ty Đ. Đây sở để các bên
xuất hóa đơn, khai thuế. Hóa đơn thể hiện số tiền Công ty Đ đã trả lương
cho nhân viên và phí dịch vụ của Công ty Đ thực hiện thay cho Công ty N trong
hợp đồng. Do đó, căn cứ để xác định bị đơn không thừa nhận, không
công nvới nguyên đơn nhưng sđể xác định Công ty Đ đơn vị trực
tiếp chi trả số tiền lương cho 16 lao động cung cấp cho Công ty N sử dụng trong
tháng 5/2020.
vậy, cấp thẩm căn cứ bảng lương chi trả thực tế cho 16 lao động
tương ứng với gtrị Công ty N đã sử dụng dịch vụ do Công ty Đ cung cấp
để buộc các bên hoàn trả cho nhau những đã nhận khi giải quyết hậu quả của
hợp đồng hiệu theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự đúng quy định
pháp luật.
Từ những phân tích trên, kháng o của bị đơn không sở để
chấp nhận. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội
đồng xét xử. Bản án thẩm đã giải quyết căn cứ, đúng quy định pháp luật
nên y án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 1 Điều 147, Điều 271 khoản 1 Điều 273 của Bluật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, g khoản 1 Điều 40, khoản 2
Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123, 131 Bộ luật
Dân sự, Điều 76 Luật Thương mại; Điều 3 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 về án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Bác toàn bộ kháng cáo của bị đơn, Công ty TNHH N. Giữ nguyên Bản án
kinh doanh thương mại sơ thẩm s07/2026/KDTM-ST ngày 03/4/2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ vviệc tranh
chấp Hợp đồng dịch vụ với Công ty TNHH N.
1. Buc Công ty TNHH N phi thanh toán cho Công ty TNHH Đ số
130.156.159 đồng (mt trăm ba ơi triệu, một trăm năm mươi u ngàn, một
trăm năm mươi cn đồng).
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ yêu cầu Công
ty TNHH N phải trả số tiền 44.747.803 đồng (bốn mươi bốn triệu, bảy trăm bốn
mươi bảy ngàn, tám trăm linh ba đồng).
Kể từ từ ngày tiếp theo ca ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hánh án xong,
n phải thi nh án chậm thc hiện nghĩa vụ thì hàng tháng n phải thi nh án
8
n phải chịu khon tiền lãi của s tin chậm thi nh án theo mức lãi sut quy định
tại khon 2 Điều 468 Bluật n s cho cho đến khi thi hành án xong.
3. Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Bị đơn Công ty TNHH N phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 6.507.808 đồng.
Nguyên đơn Công ty TNHH Đ phải chịu tiền án phí thẩm 3.000.000
đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 11.400.000 đồng
nguyên đơn đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004789 ngày 11/12/2024 của Chi
cục thi hành án dân sự Thành phố Vũng Tàu (nay là Phòng thi hành án dân sự số
11, Thành phố Hồ Chí Minh). Trả lại Công ty TNHH Đ số tiền 8.400.000 đồng
(tám triệu bốn trăm ngàn đồng).
4. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Công ty TNHH N phải chịu án phí phúc thẩm 2.000.000 (hai triệu) đồng
nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng số
0026923 ngày 29/4/2026 của quan Thi hành án dân sự Thành phồ Hồ Chí
Minh. Công ty TNHH N đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền tho thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại c điều 6,
7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND Tối cao;
- VKSND TP.HCM;
- TAND khu vc 11, TP.HCM;
- Phòng THADS khu vực 11, TP.HCM;
- THADS TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phùng Thị Như Mai
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 290/2026/KDTM-PT Bản án số 290/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 290/2026/KDTM-PT Bản án số 290/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất