Bản án số 258/2026/DS-PT ngày 04/09/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 258/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 258/2026/DS-PT ngày 04/09/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 258/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: DSPT
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 258/2026/DS-PT Bản án số 258/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 258/2026/DS-PT Bản án số 258/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 258/2026/DS - PT
Ngày: 04-9-2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Vương Thảo
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tân
Bà Võ Thị Minh Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 97/2026/TLPT-DS ngày 08/6/2026,
về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 267/2026/DS-ST ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 1 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2026/QĐ-PT ngày 13/7/2026;
Quyết định hoãn phiên tòa số 307/2026/QĐ-PT ngày 30/7/2026, Thông báo thay đổi
thời gian mở phiên tòa số 550/2026/TB-TA ngày 20/8/2026, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyết M – sinh năm 1964. CCCD: ************
do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 21/5/2024. Địa chỉ: C T, phường H, TP Đà
Nẵng, có mặt.
* Bị đơn: Bà Đặng Thị N – sinh năm 1964. CCCD: ************ do Cục
CSQLHC về TTXH cấp ngày 03/12/2024. Địa chỉ: Số A H, phường H, TP Đà Nẵng,
vắng mặt.
2
* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc H. Sinh năm:
1988. CCCD: ************ do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 28/6/2021. Địa
chỉ: Số F T, phường A, thành phố Đà Nẵng tham gia tố tụng theo văn bản uỷ quyền
ngày 20/4/2026, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc Đăng K - sinh
năm 1994. CCCD số: ************8. Số A H, phường H, TP Đà Nẵng, có mặt.
* Người kháng cáo: Bà Trần Thị Tuyết M là nguyên đơn và bà Đặng Thị N
là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/8/2025, bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn
bà Trần Thị Tuyết M trình bày:
Bà M và bà N là chỗ bạn bè quen biết nhau. Vào ngày 19/4/2008 âm lịch
(nhằm ngày 23/5/2008 dương lịch) bà N có mượn của bà M số tiền là 100.000.000
đồng và có viết cho bà M 01 giấy mượn tiền, hẹn bà M trong vòng 01 tháng sẽ hoàn
trả đủ với lãi suất 20%/năm. Bà N có trả dần cho bà M mỗi ngày 3.500.000 đồng, từ
ngày 20/4/2008 âm lịch (nhằm ngày 24/5/2028 dương lịch) đến ngày 01/5/2008 âm
lịch (nhằm ngày 04/6/2008) là 12 ngày x 3.500.000 đồng = 42.000.000 đồng.
Ngày 26/4/2008 âm lịch (nhằm ngày 30/5/2008 dương lịch) bà N có mượn của
bà M thêm 150.000.000 đồng có viết cho bà M 01 tờ giấy mượn tiền và hẹn bà M
trong vòng 01 tháng sẽ hoàn trả đủ với lãi suất 20%/1 năm. Bà N có trả cho bà M mỗi
ngày 5.000.000 đồng từ ngày 27/4/2008 âm lịch (nhằm ngày 31/5/2008 dương lịch)
đến ngày 01/5/2008 âm lịch (nhằm ngày 04/6/2008 dương lịch) là 05 ngày x
5.000.000 đồng = 25.000.000 đồng.
Ngày 01/5/2008 âm lịch (nhằm ngày 04/6/2008 dương lịch) bà N có mượn của
bà M thêm 100.000.000 đồng, bà N có viết cho bà M 01 giấy mượn tiền và hẹn bà M
trong vòng 01 tháng sẽ hoàn trả đủ với lãi suất 20%/1 năm.
Tuy nhiên, sau khi mượn tiền bà N chỉ trả góp cho bà M tổng cộng: 67.000.000
đồng, còn lại 283.000.000 đồng bà N không chịu trả cho bà M, nhiều lần bà M có đến
nhà bà N để đòi tiền thì chồng bà N có nói bà N bỏ nhà đi rồi cho đến nay bà M cũng
không gặp bà N. Do đó, bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đặng Thị
N phải trả cho bà M số tiền gốc là 283.000.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán tạm
tính 20%/1 năm so với số tiền gốc 283.000.000 đồng, tạm tính số tiền lãi từ ngày
04/6/2008 đến ngày 30/8/2025 là 980.900.000 đồng. Từ năm 2014 đến năm 2015, con
3
trai bà N trả dần cho bà M tiền lãi mỗi tháng 1.000.000 đồng; đến 2016 trả dần mỗi
tháng 2.000.000đ, từ năm 2027 trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng
bà N trả cho bà M 235.000.000 đồng tiền lãi. Vậy tổng cộng bà N còn thiếu của bà M
283.000.000 đồng tiền gốc và 745.900.000 đồng tiền lãi.
Tại bản tự khai ngày 11/3/2026 và tại phiên tòa bà M thay đổi yêu cầu khởi
kiện, cụ thể như sau:
Tổng số tiền bà M cho bà N mượn trong năm 2008 là 350.000.000 đồng, tất cả
các giấy mượn tiền bà N đều cam kết trong vòng 1 tháng sẽ hoàn trả đủ cho bà M.
Việc vay mượn không có thỏa thuận về lãi suất. Sau khi mượn tiền bà N có góp trả
cho bà M được 67.000.000 đồng nên bà N còn nợ tiền gốc của bà M là 283.000.000
đồng và bỏ nhà đi. Đến năm 2014, bà N có liên hệ cho bà M qua điện thoại và xin tiếp
tục góp trả nợ cho bà M. Do bà N không xuất hiện nên bà M chấp nhận con bà N là
ông Nguyễn Ngọc Đăng K trả nợ giùm cho bà N. Bà M xác nhận ông K đã nhiều lần
trả nợ cho bà M từ năm 2014 đến năm 2022 tổng số tiền là 246.000.000 đồng. Số tiền
này bà N trả lãi cho bà M để trả lãi bớt cho người ta. Bà M nhận thấy kể từ ngày bà N
vi phạm cam kết trả nợ cho bà M là ngày 16/7/2008 đến nay nên số tiền 246.000.000
đồng bà N trả cho bà M cũng không đủ tiền lãi. Do đó, bà M xác định bà N còn nợ
tiền gốc của bà M là 283.000.000 đồng.
Đối với tiền lãi bà M tính như sau là 283.000.000 đồng x 9%/năm x 17 năm 9
tháng (từ tháng 7/2008 đến tháng 4/2026) = 213 tháng x 2.122.500đ/tháng =
452.092.000 đồng. Bà N đã trả cho bà M 246.000.000 đồng tiền lãi nên bà M thay đổi
nội dung khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà N trả cho bà M số tiền gốc là
283.000.000 đồng, tiền lãi là 246.000.000 đồng, tổng cộng 489.092.000 đồng.
* Tại bản tự khai ngày 08/02/2026 bị đơn bà Đặng Thị N và người đại diện
theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Thị Ngọc H trình bày:
Năm 2008, bà N có mượn của bà Trần Thị Tuyết M số tiền là 350.000.000
đồng dưới hình thức là trả góp (100.000.000 đồng góp mỗi ngày 4.000.000 đồng). Số
tiền 350.000.000 góp ngày 16.000.000 đồng với những ngày như sau: ngày
19/04/2008 âm lịch 100 triệu góp 14 ngày x 4.000.000 đồng = 56.000.000 đồng;
ngày 26/04/2008 âm lịch 150.000.000 góp 07 ngày x 6.000.000 đồng = 42.000.000
đồng; ngày 01/05/2008 âm lịch 100.000.000 góp 02 ngày x 4.000.000 đồng =
8.000.000 đồng. Tổng cộng bà N góp trả được 106.000.000 đồng nên bà N còn nợ bà
M tiền gốc 244.000.000 đồng. Năm 2008 làm ăn khó khăn bà N bể nợ nên không tiếp
tục trả nợ cho bà M. Đến năm 2014, bà N có xin thoả thuận với bà M cho bà N trả
4
gốc, bà M đã đồng ý cho bà N trả dần 01 tháng 1.000.000đ, 2.000.000đ hoặc
3.000.000 đồng. Bắt đầu từ tháng 03 năm 2014, tháng nào bà N cũng trả tiền cho bà
M khi thì gặp bà M khi thì gặp bé N1 khi thì gặp bé C (02 con đầu của bà M) nhận
tiền có ghi vô sổ. Đến tháng 11/2022 thì bà N đã trả đủ 246.000.000 đồng. Do bà N
và bà M không thỏa thuận về lãi suất nên toàn bộ số tiền bà N đã trả cho bà M là trả
tiền gốc. Bà N đã trả xong nợ cho bà M đến nay là 03 năm nên không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của bà M. Đồng thời, việc vay mượn tiền các bên thỏa thuận thời hạn
trả nợ trong vòng một tháng nhưng kể từ tháng 7/2008 đến nay là đã gần 18 năm bà
M mới khởi kiện là không còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật
Dân sự nên đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M.
* Tại bản tự khai ngày 30/3/2026 và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn Ngọc Đăng K trình bày như sau:
Ông K xác nhận vào năm 2014, mẹ ông K làm ăn đổ bể nên có nhờ ông K đưa
tiền trả góp cho bà Trần Thị Tuyết M. Từ năm 2014 đến năm 2022, ông K đã nhiều
lần trả góp tiền cho bà M với tổng số tiền 246.000.000 đồng. Ông K xác định số tiền
246.000.000 đồng này là tiền bà N nhờ ông K trả góp cho bà M. Ông K nghe bà N nói
tiền trả góp này là tiền trả gốc cho bà M và ông K biết bà N đã trả xong cho bà M số
tiền nợ 350.000.000đ nên ông K không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Với nội dung vụ án như trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 267/2026/DS-ST
ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 478 Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Điều 157, 429, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi,
lãi suất, phạt vi phạm;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn , giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M
đối với bị đơn bà Đặng Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
5
Xử: Buộc bà Đặng Thị N phải trả cho bà Trần Thị Tuyết M số tiền:
328.620.466đ (Ba trăm hai mươi tám triệu sáu trăm hai mươi nghìn bốn trăm sáu
mươi sáu đồng), trong đó: tiền gốc 37.000.000đ, tiền lãi tính từ ngày 16/7/2008 đến
ngày 28/4/2026 là: 291.620.466đ.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết M đối với số tiền:
160.471.534đ (Một trăm sáu mươi triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm ba
mươi bốn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi
phí tố tụng, quyền kháng cáo và thi hành án dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07 tháng 5 năm 2026 bị đơn bà Đặng Thị N có
đơn kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không ghi nhận số tiền nợ gốc còn lại
mà bà N phải trả cho bà M vào ngày 15/7/2008 là 244 triệu và buộc bà N phải trả số
tiền lãi chậm trả tính đến ngày 28/4/2026 là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp
của bà N. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác định bà N đã hoàn thành nghĩa vụ hoàn
trả toàn bộ số nợ 350 triệu đồng cho nguyên đơn vào ngày 13/11/2022. Đề nghị Tòa
án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm theo hướng hủy toàn bộ bản án
dân sự sơ thẩm số: 267/2026/DS-ST ngày 28/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1
- Đà Nẵng về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 12 tháng 5 năm 2026, nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M có đơn kháng
cáo cho rằng số tiền 246 triệu mà bà Đặng Thị N đưa con trai là ông Nguyễn Ngọc
Đăng K trả cho bà M là tiền lãi, không được trừ vào tiền gốc. Yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm xử buộc bà N trả cho bà M số tiền 546.397.512 đồng, trong đó tiền gốc
283 triệu và tiền lãi 263.397.512 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo; bị đơn bà Đặng Thị N thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm
sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn vì bị đơn đã trả hết tiền cho nguyên đơn; các đương sự không thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại cấp
phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá
trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.
- Về việc giải quyết vụ án:
+ Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 13/11/2022, bà Đặng Thị N thực hiện xong một
phần nghĩa vụ đối với bà Trần Thị Tuyết M, do đó thời hiệu khởi kiện vụ án 03 năm
6
sẽ được tính lại bắt đầu tính từ thời điểm ngày 13/11/2022. Ngày 30/8/2025 bà M đã
nộp đơn khởi kiện vụ án đối với bà N yêu cầu trả nợ gốc 283.000.000 đồng và lãi
phát sinh là vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án:
++ Về thời hiệu khởi kiện: Thời điểm bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện được tính
ngày 13/11/2022. Ngày 30/8/2025 bà M đã nộp đơn khởi kiện vụ án đối với bà N yêu
cầu trả nợ gốc 283.000.000 đồng và lãi phát sinh là vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo
quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự.
++ Về xác định số nợ gốc: Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền nợ gốc còn lại
bà N phải trả cho bà M tại thời điểm năm 2008 là 350.000.000 đồng - 67.000.000
đồng = 283.000.000 đồng là có căn cứ.
++ Về số tiền lãi chậm trả: Do trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2022 phía
bị đơn có thực hiện việc thanh toán dần nợ gốc hàng tháng, nên số tiền lãi chậm trả
bắt buộc phải được tính toán dựa trên dư nợ gốc giảm dần tương ứng với từng khoảng
thời gian chậm thanh toán thực tế theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 4 Nghị quyết
số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự,
không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M và bị đơn bà Đặng
Thị N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định:
Vào năm 2008, bà Đặng Thị N có vay tiền của bà Trần Thị Tuyết M theo các Giấy
mượn tiền ngày 19/4/2008 ÂL (tức ngày 23/5/2008 DL), ngày 26/4/2008 ÂL (tức
ngày 30/5/2008) và ngày 01/5/2008 ÂL (tức ngày 04/6/2008), tổng số tiền bà N mượn
của bà M là 350.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng, không thỏa thuận lãi suất.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà M khai cho vay với lãi
suất 20%/năm, tại phiên tòa phúc thẩm thì bà M lại khai lãi suất 3%/tháng; còn bà N,
tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bà N thừa nhận vay có lãi nhưng
không xác định rõ lãi suất, do đó, cần xác định đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và có
lãi quy định tại khoản 2 Điều 478 BLDS năm 2005, và mức lãi suất được tính theo
quy định tại khoản 2 Điều 476 BLDS năm 2005.
7
[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M thì thấy: Quá trình thực hiện
các hợp đồng vay tài sản, theo bà M, bà N trả được 67.000.000 đồng tiền gốc, tiền lãi
chưa trả. Sau đó bà N bị bể nợ nên bỏ nhà đi, đến ngày 10/3/2014 con trai của bà N là
ông Nguyễn Ngọc Đăng K thực hiện trả tiền cho bà M thay bà N, và trả dần cho đến
ngày 14/11/2022 được tổng cộng là 246 triệu đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M
cho rằng số tiền 246 triệu đồng mà ông K trả thay cho bà N là tiền lãi nhưng không
đưa ra được chứng cứ chứng minh, trong khi đó, ông K xác định năm 2014 mẹ ông là
bà Đặng Thị Ngọc B nợ nên có nói ông trả dần tiền gốc cho bà M, số tiền 246 triệu
đồng ông trả dần cho bà M thay mẹ ông là tiền gốc. Điều này phù hợp với lời khai
nhận của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M tại phiên tòa phúc thẩm, là vì chỗ bạn bè
quen biết nên quá trình mượn bà đồng ý các khoản tiền bà N trả sẽ trừ vào tiền gốc
trước, nên bà M không có quyền tự ý xác định khoản tiền 246.000.000 đồng mà ông
K trả thay bà N là trả tiền lãi. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền
246.000.000 đồng do ông Nguyễn Ngọc Đăng K con trai bà N trả thay từ năm 2014
đến năm 2022 là bà N thanh toán tiền nợ gốc nhằm đối trừ dứt điểm nghĩa vụ trả nợ
đối với các hợp đồng vay tài sản nêu trên là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận ban
đầu của bà M là trả tiền gốc trước. Như vậy, số nợ gốc còn lại đến ngày xét xử sơ
thẩm là 283.000.000 đồng - 246.000.000 đồng = 37.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ
thẩm đã xử buộc bà N phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà M số tiền nợ gốc còn lại là
37.000.000 đồng là có căn cứ.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị N thì thấy:
+ Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ vào các Giấy mượn tiền ngày 23/5/2008; Giấy
mượn tiền ngày 30/5/2008; Giấy mượn tiền ngày 04/6/2008 đều thoả thuận thời hạn
trả nợ là 01 tháng. Tại điểm b khoản 1 Điều 157 BLDS năm 2015 quy định: “Bên có
nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người
khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại”. Trong vụ án này, từ ngày
10/3/2014 đến ngày 13/11/2022, bà Đặng Thị N thực hiện xong một phần nghĩa vụ
đối với bà Trần Thị Tuyết M, do đó thời hiệu khởi kiện vụ án 03 năm sẽ được tính lại
bắt đầu tính từ thời điểm ngày 13/11/2022. Ngày 30/8/2025 bà M đã nộp đơn khởi
kiện vụ án đối với bà N yêu cầu trả nợ gốc 283.000.000 đồng và lãi phát sinh là vẫn
còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự.
[2.1] Đối với số tiền 106 triệu đồng bị đơn trả cho nguyên đơn vào năm 2008:
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị
đơn cho rằng vào năm 2008 đã trả góp cho nguyên đơn được số tiền gốc 106 triệu
đồng nhưng bị đơn không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh ngoài bản kê trả
nợ góp do bị đơn tự ghi, không được nguyên đơn xác nhận.
8
Mặt khác, tại quyển sổ tay mà bị đơn ghi quá trình trả tiền cho nguyên đơn bị
đơn có ghi "Nợ chị M tổng cộng 244 triệu. bắt đầu 1 tháng 5tr" , và ngay dưới dòng
chữ này có ghi "Nga nhận 5 triệu - ngày 13/6 ÂL" có chữ ký của chị N1 là con dâu
của bà M, nên bị đơn cho rằng buộc bà M phải biết số tiền còn lại bị đơn còn nợ
nguyên đơn là 244 triệu, trong khi đó, từ năm 2014 đến năm 2022 số tiền mà bị đơn
trả cho nguyên đơn được 2 bên thống nhất là 246 triệu đồng nhiều hơn số tiền nợ 2
triệu đồng là không phù hợp với thực tế.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền gốc bị đơn đã trả cho nguyên đơn
vào năm 2008 là 67 triệu đồng như nguyên đơn thừa nhận là có cơ sở.
[2.2] Đối với số tiền lãi chậm trả: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M thừa nhận khi
cho mượn bà đồng ý cho bà N trả nợ gốc trước, sau khi trả nợ gốc xong thì mới tính
lãi bao nhiêu sẽ trả sau, quá trình vay mượn bà N trả được 67.000.000 đồng tiền gốc
sau đó không trả nữa. Lẽ ra trong trường hợp này, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày
cuối cùng của 3 khoản vay là ngày 04/6/2008 bà M phải khởi kiện bà N yêu cầu trả số
tiền gốc còn lại cộng với tiền lãi nhưng bà M không thực hiện, nên, theo quy định tại
Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện đã hết. Do đó, theo quy
định tại điểm b khoản 3 Điều 23 của Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về thời hiệu khởi kiện thì nguyên
đơn chỉ được yêu cầu bị đơn thanh toán khoản tiền gốc là 283 triệu đồng, còn tiền lãi
Tòa án không giải quyết. Tuy nhiên, đến ngày 10/3/2014 con trai của bà N là ông
Nguyễn Ngọc Đăng K thực hiện trả tiền cho bà M thay bà N nhưng không trả một lần
số tiền gốc 283 triệu đồng mà trả dần. Do vậy, căn cứ theo quy định tại điểm c khoản
1 Điều 2, khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao quy định đối với hợp đồng vay tài sản không phải là
hợp đồng tín dụng, có thỏa thuận lãi suất nhưng không xác định được lãi suất và được
xác lập trước ngày 01/01/2017, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần xác định lại thời gian
tính lãi là từ ngày 10/3/2014 và số tiền lãi chậm trả được tính toán dựa trên dư nợ gốc
giảm dần tương ứng với khoảng thời gian chậm thanh toán thực tế. Cụ thể:
+ Từ ngày 10/3/2014 đến ngày 31/12/2016: Tính lãi trên dư nợ gốc giảm dần
hàng tháng tương ứng với từng thời điểm trả nợ, mức lãi suất 9%/năm thì có số tiền
lãi là: 66.123.750 đồng
+ Từ ngày 01/01/2017 đến ngày 14/11/2022: Tính lãi trên dư nợ gốc giảm dần
hàng tháng tương ứng với từng thời điểm trả nợ, mức lãi suất 10%/năm thì có số tiền
lãi là: 78.704.695 đồng
Từ ngày 14/11/2022 đến ngày 28/4/2026 lãi được tính là: 37.000.000đ x
10%/năm x 41 tháng 14 ngày = 12.785.554 đồng
9
Tổng số tiền lãi cần buộc bà N phải trả cho bà M là 157.613.999 đồng
Tổng cả gốc và lãi bà N phải trả cho bà M là 37.000.000đồng (nợ gốc) +
157.613.999đồng (nợ lãi) = 194.613.999 đồng.
[3] Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn; chấp nhận một
phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đối với số tiền
gốc còn lại 37 triệu đồng.
[4] Về án phí:
+ Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M, bị đơn bà Đặng
Thị N là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên căn cứ quy
định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn , giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí cho nguyên đơn, bị đơn.
+ Án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên nguyên đơn
bà Trần Thị Tuyết M phải chịu nhưng được miễn; bị đơn bà Đặng Thị N không phải
chịu do được chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 308 của của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 478 Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Điều 157, 429 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất
"Những quy định chung" của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật tố tụng dân sự
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi,
lãi suất, phạt vi phạm;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn , giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
10
Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị N về phần tính lãi suất.
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 267/2026/DS-ST ngày 28/4/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng về phần lãi suất.
Xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M
đối với bị đơn bà Đặng Thị N về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
1. Buộc bà Đặng Thị N phải trả cho bà Trần Thị Tuyết M số tiền: 194.613.999
đồng (Một trăm chín mươi bốn triệu sáu trăm mười ba nghìn chín trăm chín mươi
chín đồng), trong đó: tiền gốc 37.000.000đ, tiền lãi tính từ ngày 10/3/2014 đến ngày
28/4/2026 là: 157.613.999 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết M đối với số tiền:
160.471.534đ (Một trăm sáu mươi triệu bốn trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm ba
mươi bốn đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu
thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại Điều 468, 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian
chậm thanh toán.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M, bị đơn bà
Đặng Thị N là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí được miễn
án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn , giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết M được miễn; bị
đơn bà Đặng Thị N không phải chịu.
4. Trong trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân
sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
11
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Tòa án nhân dân KV1-Đà Nẵng;
- Chi cục THADS KV1-Đà Nẵng;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Mai Vương Thảo
12
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 258/2026/DS-PT Bản án số 258/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 258/2026/DS-PT Bản án số 258/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất