Bản án số 799/2026/HS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 799/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 799/2026/HS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 799/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: BÙI VĂN T - LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 799/2026/HS-PT Bản án số 799/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: B Đon Thị Hương Giang.
Các Thẩm phán:
1/ Ông Đặng Hồng Sơn.
2/ Ông Phạm Viết Hùng.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.
Ngy 15 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thnh phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 626/2026/HSPT ngy
24/7/2026 đối với bị cáo Bùi Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án
hình sự sơ thẩm số 482/2026/HSST ngy 18/6/2026 của To án nhân dân Khu vực
7, Thnh phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Bùi Văn T, sinh năm 1996 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi thường trú: Số C ấp P, xã
Đ, tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: tự do; trình
độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt
Nam; Cha: Bùi Văn B, sinh năm 1952; Mẹ: Phan Thị B1, sinh năm: 1954; bị cáo
chưa có vợ con;
Tiền án: Ngy 20/9/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cy Nam, tỉnh Bến
Tre xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp ti sản” theo Bản án số 20/2022/HS-
ST. Bị cáo chấp hnh xong hình phạt ngy 26/4/2024.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 27/11/2025. (Có mặt tại phiên tòa)
Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan nhưng không liên quan đến kháng cáo của bị cáo nên Hội đồng xét xử
không triệu tập tham gia phiên tòa.
Bản án số: 799/2026/HS-PT
Ngày: 15-9-2026
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngy 01/10/2025, T sử dụng ti khoản Zalo tên “Tiễn Tiến
Đ” nhắn tin đến ti khoản Zalo của Thủ tên “Văn Thủ” hỏi mượn xe mô tô nhãn
hiệu Yamaha Sirius mu đen bạc, biển số 50Y1-130.09 để đi công việc thì T2
đồng ý. Sau đó, T hẹn gặp T2 tại trước Ngân hàng S, địa chỉ số C đường T, Khu
phố D, phường Đ, Thnh phố Hồ Chí Minh thì T2 đồng ý. Tiển đi bộ đến địa chỉ
trên gặp T2 rồi T2 điều khiển xe mô tô chở T ngồi phía sau đi đến trước địa chỉ
số D đường T, Khu phố A, phường Đ, Thnh phố Hồ Chí Minh rồi giao xe mô tô
trên cho T (không giao giấy đăng ký xe), sau đó T điều khiển xe mô tô bỏ đi.
Đến khoảng 15 giờ cùng ngy, do cần tiền tiêu xi nên T điều khiển xe mô
tô biển số 50Y1- 130.09 đến Cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ “Xuân Phúc”, địa
chỉ số C đường N, ấp H, xã B, Thnh phố Hồ Chí Minh gặp Đỗ Văn T1 l chủ
tiệm. Tiển cho biết l có việc gấp cần cầm cố xe mô tô do vợ của T đứng tên chủ
sở hữu, hẹn 07 (bảy) ngy sau sẽ mang đủ giấy tờ đến để lập hợp đồng thì T1
đồng ý cầm với số tiền 3.000.000 đồng v yêu cầu T phải viết Giấy cam kết có
nội dung xe trên không có tranh chấp v do vợ T đứng tên. Ông T1 đưa cho T
2.750.000 đồng tiền mặt, trừ số tiền 250.000 đồng l tiền lãi của 07 ngy cầm cố
xe. Đến ngy 07/10/2025, T2 liên lạc đòi lại xe đã cho mượn nhưng Tiển né tránh,
sau đó chặn liên lạc.
Ngày 10/10/2025, T sử dụng ti khoản Zalo tên “Tiễn Tiến Đ” liên lạc với
một người sử dụng ti khoản Zalo tên “N” để tìm người chuộc v cầm xe mô tô
biển số 50Y1- 130.09 với giá cao hơn. “N” giới thiệu cho Tiển một nam thanh
niên (không rõ lai lịch) sử dụng ti khoản Zalo tên “Bánh Bao”. Khoảng 18 giờ
cùng ngày, T v“Bánh Bao” đến tiệm cầm đồ “Xuân Phúc”, “Bánh Bao” chuộc
lại xe mô tô biển số 50Y1-130.09 với số tiền 3.250.000 đồng v cho T 200.000
đồng rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi.
Đến khoảng 21 giờ ngy 17/10/2025, tại giao lộ đường P v đường L, T2
gặp T v biết được sự việc T đang mang xe mô tô biển số 50Y1- 130.09 cầm cố
cho một người không rõ lai lịch nên đến Cơ quan Công an để trình báo sự việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bùi Văn T đã khai nhận ton bộ hnh vi
phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các ti liệu đã thu thập được (Bút
lục số 153-166; 182-186).
Tại Bản kết luận định giá ti sản số 04/KL-HĐĐGTS ngy 18/11/2025 của
Hội đồng định giá ti sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân phường Đ, Thành
phố Hồ Chí Minh: “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 50Y1-130.09,
mu đen bạc, số máy 5C63211155, số khung RLCS5C6309Y211149, dung tích
xilanh: 110cm3, năm sản xuất: 2009, đã qua sử dụng, trị giá: 7.000.000 đồng”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 482/2026/HS-ST ngy 18/6/2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực 7, Thnh phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
3
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt ti
sản”
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1
Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm
2017, năm 2025;
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính
từ ngy 27/11/2025.
Ngoi ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện
pháp tư pháp, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngy 29/6/2026, bị cáo Bùi Văn T có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ
hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đồng thời thừa nhận hnh vi phạm
tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thnh phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt
nội dung vụ án v phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hnh vi phạm tội do bị cáo
thực hiện, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Bùi Văn T về tội
“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt ti sản” theo khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình
sự l có căn cứ, đúng người, đúng tội. Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của
bị cáo, mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù m Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối
với bị cáo lphù hợp v tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình
tiết giảm nhẹ no mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề
nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tự bo chữa, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát m
chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vo các ti liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T về nội dung quyền kháng cáo v
thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo
theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an Thnh phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Thnh phố Hồ
Chí Minh, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thnh
phố Hồ Chí Minh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra
v tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hnh vi, quyết định của
4
Cơ quan tiến hnh tố tụng, người tiến hnh tố tụng. Do đó, các hnh vi, quyết định
tố tụng của Cơ quan tiến hnh tố tụng, người tiến hnh tố tụng đã thực hiện đều
hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị
cáo tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, phù hợp với Kết luận giám định, Kết luận định giá ti sản cũng
như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác
định:
Khoảng 11 giờ ngy 01/10/2025, bị cáo Bùi Văn T hỏi mượn chiếc xe mô
tô nhãn hiệu Yamaha Sirius mu đen bạc, biển số 50Y1-130.09 của anh Nguyễn
Văn T2 để đi công việc, nhưng sau khi nhận xe, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên
T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt ti sản. Tiển điều khiển chiếc xe trên đến Cơ sở
kinh doanh dịch vụ cầm đồ “Xuân Phúc”, địa chỉ số C đường N, ấp H, xã B, Thnh
phố Hồ Chí Minh để cầm cố với số tiền 2.750.000 đồng. Ngy 07/10/2025, anh T2
liên lạc đòi lại xe đã cho mượn nhưng Tiển né tránh, sau đó chặn liên lạc. Ngy
10/10/2025, T liên hệ, thỏa thuận với đối tượng “Bánh bao” đến tiệm cầm đồ “Xuân
Phúc” để chuộc lại chiếc xe trên với giá 3.250.000 đồng v“Bánh bao” cho T số tiền
200.000 đồng. Tại Bản kết luận định giá ti sản số 04/KL-HĐĐGTS ngy 18/11/2025
của Hội đồng định giá ti sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân phường Đ,
Thnh phố Hồ Chí Minh kết luận: “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 50Y1-
130.09, màu đen bạc, số máy 5C63211155, số khung RLCS5C6309Y211149, dung
tích xilanh: 110cm3, năm sản xuất: 2009, đã qua sử dụng, trị giá: 7.000.000 đồng”.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi Văn T về tội “Lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ
luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 vnăm 2025 l có căn cứ, đúng
người, đúng tội.
[3] Hnh vi phạm tội của bị cáo l nguy hiểm cho xã hội, không những xâm
phạm đến quyền sở hữu ti sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ,
m còn gây mất trật tự, trị an xã hội. Bị cáo l người trên 18 tuổi v không thuộc
trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện tội
phạm. Do đó, cần áp dụng các quy định tương ứng của Bộ luật hình sự để xử phạt
bị cáo mức hình phạt tương xứng. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử
cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự v nhân thân của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị
cáo:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án hình sự sơ thẩm
số 20/2022/HS-ST ngy 20/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cy Nam, tỉnh
Bến Tre đã xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp ti sản”. Bị cáo
chấp hnh xong hình phạt, nhưng chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới
nên lần phạm tội ny của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”. Do đó, bị cáo bị
áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều
52 của Bộ luật hình sự.
5
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra v tại
phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có thái độ thnh khẩn khai báo, ăn
năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4.3] Về nhân thân: Bị cáo l người đã có tiền án, chưa được xóa án tích
nên bị xem l người có nhân thân xấu khi quyết định hình phạt theo quy định tại
Điều 50 của Bộ luật hình sự.
[5] Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy bị cáo l người có nhân thân xấu, đã
bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cy Nam, tỉnh Bến Tre xử phạt 02 năm 06 tháng
tù về tội “Trộm cắp ti sản” nhưng không biết cải sửa bản thân, m tiếp tục phạm
tội mới để có tiền thỏa mãn nhu cầu tiêu xi cá nhân mkhông phải thông qua lao
động chân chính. Cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo
khi lượng hình v đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo. Xét, bị cáo có 01 tình tiết
tăng nặng trách nhiệm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự
v bị cáo chưa bồi thường thiệt hại cho bị hại nên mức án 01 năm 06 tháng tù m
Cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo l phù hợp, tương xứng với hnh vi
phạm tội m bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai bị tạm giữ, tạm
giam 40 ngy tại Công an phường nhưng căn cứ biên bản bắt bị can để tạm giam
đối với bị cáo thể hiện bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngy 27/11/2025 nên không có
căn cứ để xem xét. Ngoi ra, bị cáo không cung cấp ti liệu, chứng cứ chứng minh
bị cáo có tình tiết giảm nhẹ no mới. Do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để
chấp nhận kháng cáo của bị cáo v giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Lập luận trên đây cũng l căn cứ để chấp nhận đề nghị của đại diện Viện
kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm về việc không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
v giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố
tụng Hình sự v Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngy 30/12/2016 của Quốc
hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực kể từ ngy hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[9] Phần Quyết định của Bản án sơ thẩm trình by không đúng trình tự, thể
thức của Bản án sơ thẩm quy định tại Mẫu số 27-HS (Ban hnh kèm theo Nghị
quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngy 19/9/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao). Tuy không ảnh hưởng đến bản chất của vụ án v quyết định
của tòa án, nhưng C sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 v Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015;
6
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T. Giữ nguyên bản án hình
sự sơ thẩm số 482/2026/HS-ST ngy 18/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1
Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017 v năm 2025;
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt ti sản”. Thời hạn tù tính từ ngy 27/11/2025.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngy 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngy hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngy tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND TC; (1)
- VKSND TP.HCM; (3)
- CQ THAHS CA.TP.HCM (1)
- CQCSĐT – CA.TP.HCM; (1)
- VKSND Khu vực 7; (1)
- TAND Khu vực 7; (1)
- THADS TP.HCM (1)
- Phòng THADS Khu vực 7; (1)
- Bị cáo; (1)
- Trại tạm giam Số 2; (1)
- UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
- Lưu: VT, THS, hồ sơ (21) (8)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đoàn Thị Hương Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 799/2026/HS-PT Bản án số 799/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất