Bản án số 71/2026/HS-PT ngày 25/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 71/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 71/2026/HS-PT ngày 25/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 71/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Sửa án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 71/2026/HS-PT Bản án số 71/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 71/2026/HS-PT Bản án số 71/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG TRỊ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 71/2026/HS-PT
Ngày: 25– 9 - 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Lưu
Các Thẩm phán: Bà Từ Thị Hải Dương và bà Hoàng Thị Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Như Ngọc -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Bích Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2026, tại phòng xét xử hình sự Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Trị mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số
111/2026/HS-PT ngày 13 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo Lâm Ngọc H do có
kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2026/HS-ST ngày 08
tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Quảng Trị.
Bị cáo có kháng cáo: Lâm Ngọc H; sinh ngày 01/01/1982 tại tỉnh Gia Lai;
CCCD số: ************; nơi cư trú: Thôn M, xã P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp:
Lái xe; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn T (mất ngày 12/6/2026) và bà Nguyễn
Thị Minh T1; Vợ: Huỳnh Thị H1, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất
sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày
04/01/2026 đến ngày 10/02/2026 thì được thay thế biện pháp bảo lĩnh. Từ ngày
09/6/2026 cho đến nay thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt tại phiên toà.
Trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng
nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập tham gia phiên
toà phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 31/12/2025, Lâm Ngọc H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 89C-
053.25 (xe thuộc sở hữu của bà Đỗ Thị Mai T2, sinh năm 1972, trú tại thôn G, xã
T, thành phố Hà Nội) cùng phụ xe là Lê Quốc K (sinh năm 1994, trú tại thôn C,
xã B, tỉnh Gia Lai) đi từ tỉnh Gia Lai ra thành phố Hà Nội để nhận hàng hóa là
bàn ghế các loại, vận chuyển vào các tỉnh phía Nam.
2
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/01/2026, sau khi bốc xếp hàng hóa xong tại
thành phố Hà Nội, Lâm Ngọc H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 89C-053.25
cùng Lê Quốc K đi vào các tỉnh phía Nam. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, một
người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) sử dụng số điện thoại 0793.245.737 gọi
đến số điện thoại 0943.424.477 của H hỏi có nhận vận chuyển hàng hóa vào
Quảng Nam hay không. Khi H trả lời đồng ý và hỏi về loại hàng hóa, địa điểm
nhận hàng cũng như giá cước vận chuyển thì người đàn ông này nói cần vận
chuyển 25 thùng thuốc lá điếu nhãn hiệu JET từ tỉnh Quảng Trị vào tỉnh Quảng
Nam với giá 200.000 đồng/thùng, địa điểm nhận hàng tại ga Đ, tỉnh Quảng Trị.
Đồng thời, người đàn ông này nói sau khi H vận chuyển hàng vào địa phận tỉnh
Quảng Nam sẽ có người liên lạc cung cấp thông tin địa điểm để nhận hàng và trả
tiền công.
Sáng ngày 04/01/2026, Lâm Ngọc H cùng Lê Quốc K điều khiển xe đi đến
địa phận tỉnh Quảng Trị. Trong khoảng thời gian từ 07 giờ 11 phút đến 10 giờ 05
phút cùng ngày, H đã 04 lần sử dụng số điện thoại thứ hai của mình là
0906.885.552 gọi đến số điện thoại 0793.245.737 nhằm thông báo vị trí của H để
người đàn ông nói trên chuẩn bị hàng hóa.
Khoảng 10 giờ cùng ngày, Lâm Ngọc H điều khiển xe ô tô đi vào khu vực
ga Đ theo hướng dẫn của người đàn ông nói trên. Tại đây, H bảo Lê Quốc K mở
bạt phía sau thùng xe để nhận hàng (H không nói cho K biết việc nhận hàng hóa
là thuốc lá điếu nhập lậu). Sau đó, có 02 người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ)
đi trên xe ô tô loại 12 chỗ màu xám (không xác định được biển kiểm soát) đến
dừng song song phía bên phụ của xe ô tô biển kiểm soát 89C-053.25. Hai người
này bốc xuống 25 thùng giấy cát tông bên trong chứa thuốc lá điếu nhãn hiệu JET
do nước ngoài sản xuất giao cho Lâm Ngọc H. H trực tiếp cất giấu 07 thùng giấy
cát tông chứa thuốc lá điếu nhập lậu vào ngăn chứa đồ phía bên phụ dưới thùng
xe. Đối với 18 thùng còn lại, H leo lên phía trên thùng xe 89C-053.25 và yêu cầu
K đứng trên trần xe ô tô loại 12 chỗ để chuyền hàng lên cho mình. Lúc này, 02
người đàn ông đứng phía dưới đưa 18 thùng giấy cát tông cho K để K tiếp tục
chuyền lên cho H. Sau khi nhận toàn bộ số hàng trên, H sắp xếp, che giấu 18 thùng
giấy cát tông phía trên các bộ bàn ghế đang vận chuyển trên xe. Bốc xếp xong,
hai người đàn ông nói trên rời đi, còn Lâm Ngọc H tiếp tục điều khiển xe cùng Lê
Quốc K đi vào các tỉnh phía Nam.
Đến khoảng 11 giờ ngày 04/01/2026, khi xe ô tô biển kiểm soát 89C-053.25
lưu thông đến Km 763+200 Quốc lộ A thuộc thôn P, xã A, tỉnh Quảng Trị thì bị
lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Quá trình kiểm tra phát hiện trên xe có
tổng cộng 25 thùng giấy cát tông chứa 12.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET
3
nhập lậu, gồm 18 thùng chứa 9.000 bao được cất giấu trên thùng xe và 07 thùng
chứa 3.500 bao được cất giấu trong ngăn chứa đồ phía bên phụ dưới thùng xe.
- Tại Kết luận giám định số 35/2026/KL-KTHS ngày 12/01/2026 của Phòng
K1 Công an tỉnh Q, kết luận: 12.500 bao thuốc lá điếu (ghi nhãn hiệu JET FILTER
KINGS CIGARETTES, loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp, các bao còn nguyên vẹn)
được niêm phong trong thùng giấy, ký hiệu 1.1; 2.1; 3.1; 4.1; 5.1; 6.1; 7.1; 8; 9.1;
10.1; 11.1; 12.1; 13.1; 14.1; 15.1; 16.1; 17.1; 18.1; 19.1; 20; 21; 22; 23; 24; 25
gửi đến giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu JET FILTER
KINGS CIGARETTES, không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam
(Do nước ngoài sản xuất).
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ:
+ 12.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “JET FILTER KINGS
CIGARETTES”;
+ 16 bao gai màu xám, 02 bao gai màu xanh, 25 bao ni lông trong suốt không
còn nguyên vẹn, 25 thùng cát tông màu vàng (được sử dụng để đựng 12.500 bao
thuốc lá điếu nhãn hiệu “JET FILTER KINGS CIGARETTES”);
+ 01 xe ô tô biển kiểm soát 89C-053.25, số máy: 6HK1657633, số khung:
RLEFVM34WE7000499;
+ 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 8900004376, do Công an thị trấn
Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên cấp ngày 13/4/2025.
+ 01 Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT xe cơ giới số VA 3442347
do Trung tâm Đ cấp ngày 23/10/2025.
+ 01 Giấy phép lái xe hạng C số 520122005818 của Lâm Ngọc H.
+ 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số I: 35 611409 457086
7, số seri: FD3X41BYJCM1, số máy: MQ982LL/A, bên trong có gắn một thẻ sim
có dòng chữ Vinaphone và in dãy số 898402000 11449028800 (số điện thoại
0943.424.477), máy đã qua sử dụng.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A17, số Imei 1:
355500726077993, số Imei 2: 356772366077992, số seri: R58Y813X3YA, bên
trong có gắn 01 thẻ sim có in dòng chữ V1, in dãy số 8984048000912148637 (số
điện thoại 0968.938.685) và 01 thẻ sim có in dòng chữ Mobifone, in dãy số
8401220950096286oT (số điện thoại 0906.885.552), máy đã qua sử dụng.
Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng như sau:
+ Ngày 10/02/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã ra Quyết
định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số C1331/QĐ-CSKT bằng hình thức trả lại 01
xe ô tô biển kiểm soát 89C-053.25; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 89
00004376 do Công an thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên cấp ngày 13/4/2025;
4
01 Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT xe cơ giới số VA 3442347 do
Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 89-05D cấp ngày 23/10/2025 cho chủ sở hữu hợp
pháp là bà Đỗ Thị Mai T2.
+ Ngày 09/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã ra Quyết
định xử lý vật chứng số C1779/QĐ-CSKT bằng hình thức trả lại 01 Giấy phép lái
xe hạng C số 520122005818 cho Lâm Ngọc H.
- Số thuốc lá điếu hoàn lại sau giám định (được niêm phong trong 25 thùng
giấy, mép thùng được dán kín, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia
niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q) và các đồ vật, tài sản còn
lại chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Quảng Trị bảo quản chờ
xử lý.
Đối với Lê Quốc K, kết quả điều tra xác định K là người được Lâm Ngọc H
thuê làm phụ xe. Trong toàn bộ quá trình điện thoại, trao đổi nhận vận chuyển
thuốc lá và bốc xếp, vận chuyển thuốc lá điếu nhãn hiệu JET nhập lậu trên xe ô tô
BKS 89C-053.25 thì H không trao đổi, thỏa thuận, bàn bạc gì với K và cũng không
chia tiền thu lợi từ việc vận chuyển thuốc lá cho K. Lê Quốc K cũng không biết
việc Lâm Ngọc H nhận vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, nên không có căn cứ
xử lý.
Đối với người đàn ông sử dụng số điện thoại 0793.245.737 gọi thuê Lâm
Ngọc H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET, kết quả điều tra, xác
định chủ thuê bao này là Nguyễn Văn Trường V (sinh ngày 12/09/2009, trú tại
khu phố D, phường N, tỉnh Quảng Trị; hiện đang là học sinh lớp 11), từ trước đến
nay V không đăng ký, sử dụng số điện thoại 0793.245.737 và cũng không cho ai
thuê, mượn hoặc mua bán thông tin cá nhân của mình để đăng ký số thuê bao hay
các dịch vụ khác, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên không xem xét, xử
lý đối với Nguyễn Văn Trường V.
Đối với 02 người đàn ông đi trên xe ô tô loại 12 chỗ màu xám vận chuyển
25 thùng thuốc lá điếu nhãn hiệu JET đến giao cho Lâm Ngọc H vào ngày
04/01/2026, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh nhưng
không xác định được nhân thân, lai lịch của hai đối tượng này, nên không có căn
cứ xử lý.
Đối với bà Đỗ Thị Mai T2, chủ sở hữu xe ô tô biển kiểm soát 89C-053.25, xe ô
tô này đăng ký chủ sử dụng là ông Hoàng Ngọc A. Ông Hoàng Ngọc A đã chuyển
nhượng lại cho bà Đỗ Thị Mai T2, hai bên đã lập hợp đồng chuyển nhượng, bà
T2 đã trả đủ tiền cho ông A nhưng chưa làm thủ tục sang tên cho bà T2. Quá trình
điều tra xác định bà T2 thuê Lâm Ngọc H làm tài xế vận chuyển bàn, ghế gỗ chạy
tuyến Bắc – N và ngược lại. Việc bị cáo H sử dụng xe ô tô nói trên để vận chuyển
5
thuốc lá điếu nhập lậu bà T2 hoàn toàn không biết nên không xem xét xử lý trách
nhiệm đối với bà T2.
Tại bản án số 56/2026/HS-ST ngày 08 tháng 7 năm 2026 của Toà án nhân
dân khu vực 6, tỉnh Quảng Trị quyết định tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc H phạm tội
“Vận chuyển hàng cấm”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều
51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo bị cáo Lâm Ngọc H 05 (năm) 03 (ba)
tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ
thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2026 đến ngày 10/02/2026.
Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng
cáo theo quy định.
Trong hạn luật định, bị cáo Lâm Ngọc H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lâm Ngọc H giữ nguyên nội dung kháng
cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và cho
bị cáo được hưởng án treo vì hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, đang phải nuôi
con nhỏ, vợ làm nội trợ, bố mới mất phải nuôi mẹ già.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án: Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo Lâm Ngọc H có cung cấp thêm
các tài liệu (xác nhận của UBND xã L, tỉnh Quảng Trị) về việc bị cáo có cứu cháu
nhỏ khỏi bị đuối nước, đây là tình tiết giảm nhẹ của bị cáo “Người phạm tội đã
lập công chuộc tội ” được quy định tại điểm u, khoản1, Điều 51 Bộ luật Hình sự
và bị cáo có tham gia chữa cháy, cứu người, cứu tài sản tại khu vực rừng phòng
hộ thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai được Ban Q tỉnh Gia Lai xác nhận, đây là tình tiết
giảm nhẹ được quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 54 Bộ luật Hình sự để chấp nhận kháng cáo
của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Quảng Trị,
giảm mức hình phạt cho bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình:
Khoảng 10 giờ ngày 04/01/2026, bị cáo điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 89C-
053.25 đến khu vực ga Đ để nhận vận chuyển 25 thùng thuốc lá điếu nhập lậu
nhãn hiệu JET từ tỉnh Quảng Trị vào tỉnh Quảng Nam với giá tiền công là
5.000.000 đồng nhưng chưa nhận được tiền công. Sau khi nhận đủ 25 thùng giấy
cát tông chứa 12.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET do nước ngoài sản xuất, bị
6
cáo trực tiếp cất giấu số hàng này trên xe rồi tiếp tục điều khiển xe vào các tỉnh
phía Nam. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi xe lưu thông đến Km763+200 Quốc
lộ A thuộc thôn P, xã A, tỉnh Quảng Trị thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang.
Kết quả giám định tại Kết luận giám định số 35/2026/KL-KTHS ngày 12/01/2026
của Phòng K1 Công an tỉnh Q xác định 12.500 bao thuốc lá điếu mang nhãn hiệu
JET FILTER KINGS CIGARETTES không phải là thuốc lá điếu được sản xuất
tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất). Do đó có đủ cơ sở để khẳng định bản án
sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Quảng Trị xét xử và tuyên bị cáo
Lâm Ngọc H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm" theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ
luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lâm Ngọc H, Hội
đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến
quản lý trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hàng cấm. Tòa
án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo mức án
05 (năm) 03 (ba) tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, trong giai đoạn xét xử phúc
thẩm, bị cáo Lâm Ngọc H xuất trình thêm các tình tiết mới như sau: Bị cáo bị cáo
có tham gia chữa cháy, cứu người, cứu tài sản tại khu vực rừng phòng hộ thôn T,
xã P, tỉnh Gia Lai được Ban Q tỉnh Gia Lai xác nhận và bị cáo có hành động cứu
cháu nhỏ bị đuối nước có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là những
tình tiết mới quy định tại điểm u, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì
vậy, Hội đồng xét xử thấy có thể áp dụng khoản 1, Điều 54 Bộ luật hình sự giảm
một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt nằm
trong mức hình phạt liền kề của điều luật, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của
pháp luật, tích cực cải tạo để sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã
hội.
Xét kháng cáo của bị cáo Lâm Ngọc H xin được án treo: Bị cáo Lâm Ngọc
H phạm tội vận chuyển hàng cấm với khối lượng tương đối lớn, phạm tội thuộc
trường hợp rất nghiêm trọng nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo, do
đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị
cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm b
khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của
bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Quảng
Trị giảm một phần hình phạt cho bị cáo như ý kiến đề nghị của Đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị là có căn cứ.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên
không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
7
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Ngọc H, sửa bản án sơ thẩm số
56/2026/HS-ST ngày 08 tháng 7 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 6, tỉnh
Quảng Trị.
2. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51,
khoản 1, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Lâm Ngọc H 03 3
(ba) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”, Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày
04/01/2026 đến ngày 10/02/2026.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lâm Ngọc H không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (25/9/2026).
Nơi nhận TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Vụ giám đốc kiểm tra 1 TANDTC; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- TAND khu vực 6;
- Công an tỉnh Q;
- THADS tỉnh Q;
- Những người TGTT
- Lưu VP; HSVA.;
Võ Bá Lưu
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 71/2026/HS-PT Bản án số 71/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 71/2026/HS-PT Bản án số 71/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất