Bản án số 253/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 253/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 253/2026/DS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 253/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 253/2026/DS-PT Bản án số 253/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 253/2026/DS-PT Bản án số 253/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 253/2026/DS - PT
Ngày 10 - 9 - 2026
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng
đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do -Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trọng.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và bà Phạm Thị Thúy Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà
Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 210/2026/TLPT-DS ngày 12 tháng 8 năm
2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số:
20/2026/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 8 –
Phú Thọ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
241/2026/QĐXXPT – DS ngày 13 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Xuân B, sinh năm 1971; CCCD số ************;
địa chỉ: Thôn Q, xã V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Quốc H, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ
dân phố C, phường V, tỉnh Phú Thọ (Văn bản ủy quyền ngày 23/10/2024, “có
mặt”.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1974; CCCD số ************;
địa chỉ: Thôn S, xã B, tỉnh Phú Thọ, “có mặt”.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án, người đại diện hợp
2
pháp của nguyên đơn là ông Trần Quốc H trình bày: Ông Lê Xuân B có diện
tích đất 50m
2
thuộc thửa số 675, tờ bản đồ 20 vị trí đất tại tổ dân phố S, thị trấn
G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã B, tỉnh Phú Thọ) được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh V (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt
GCNQSDĐ) số DG 318268; số vào sổ CS 05129 cấp ngày 05/8/2022 có các
chiều cạnh cụ thể như sau: Phía Đông giáp hộ ông X kích thước 5.27m, phía Tây
giáp ngõ đi kích thước 5,27m, phía Nam giáp hộ ông Lương kích T 9,5m, phía
Bắc giáp phần đất của ông B kích thước 9,5m. Nguồn gốc đất do ông B nhận
chuyển nhượng của ông Phùng Văn D, bà Phùng Thị P.
Trước đó ông D, bà P nhận chuyển nhượng của ông Phạm Quang H1,
trước đó nữa là của mẹ ông L chuyển nhượng cho ông H1. Từ khi nhận chuyển
nhượng ông B vẫn chưa xây dựng công trình gì trên đất. Ngoài ra ông B cũng
nhận chuyển nhượng ô đất có diện tích 90 m
2
giáp với phần đất 50m
2
thì trên đất
có ngôi nhà 2 tầng nhưng ông B không sử dụng mà cho thuê (phần diện tích đất
50m
2
là ở phía sau ngôi nhà cấp 4 của ông B) có một cạnh ở phía Nam giáp với
phần đất nhà ông L.
Tại Giấy chứng nhận được cấp cũng như sơ đồ thửa đất 675, thì chiều dài
thửa đất mỗi cạnh là 9,5m, chiều rộng mỗi cạnh là 5,27m. Tuy nhiên hiện trạng
thực tế hiện nay, thì chiều dài của thửa đất mỗi cạnh chỉ là 02m, thiếu so với
giấy chứng nhận là 3,27m. Như vậy diện tích thửa đất nhà ông B sẽ là 13,2m
2
(thiếu so với Giấy chứng nhận là 36,8m
2
). Nguyên nhân của việc thiếu diện tích
này là do ông L lấn chiếm ở cạnh phía Nam của thửa đất, ông L làm hàng rào
bằng thép gai để xác định ranh giới giữa thửa đất của ông B và ông L, trên phần
đất này ông Lương T1 rau theo mùa. Nhẽ ra ông L phải làm hàng thép gai lùi
vào phần đất của ông L, nhưng ông L lấn chiếm của ông B nên làm hàng rào
thép B40 trên phần đất của ông B với diện tích khoảng 36,8m
2
.
Sự việc này ông B đã làm đơn gửi Ủy ban nhân dân cấp xã hòa giải nhưng
không thành. Ông B đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông L phải tháo bỏ hàng
thép gai và bức tường gạch xỉ, để trả lại cho ông L diện tích đất lấn chiếm là
36,8m
2
. Vị trí đất lấn chiếm là ở cạnh phía Nam thửa đất của ông B giáp với
phía Bắc thửa đất của ông L với chiều rộng là 9,50m, chiều dài là 3,20m.
Bị đơn, ông Nguyễn Văn L trình bày:
Thời điểm tháng 12 năm 2020 ông L chuyển nhượng cho ông Nguyễn
Văn T2 có địa chỉ tại tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B (nay là xã B, tỉnh Phú
Thọ) diện tích đất 90m
2
, có chiều dài 20m, chiều rộng 4,5m. Cùng thời điểm đó
ông L chuyển nhượng cho ông T2 diện tích đất 50m
2
(giáp với ô đất diện tích
90m
2
và ở phía sau của ô đất 90m
2
), rồi sau đó anh T2 chuyển nhượng cho
3
người khác, qua nhiều đời chủ thì anh B là người mua cuối cùng. Tuy nhiên
phần diện tích đất 50m
2
mà ông L chuyển nhượng cho ông T2, không trùng
khớp hoàn toàn với vị trí đất mà ông B được cấp GCNQSDĐ. Phần diện tích đất
mà ông B khởi kiện cho rằng ông L lấn chiếm là đất của ông L, đã được cấp
GCNQSDĐ nên ông L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông B.
Ranh giới đất của ông L và ông B là hàng rào thép B40, do ông Lương lắp
Đ từ thời điểm ông L chuyển nhượng đất cho ông T2 và không xê dịch, hiện
phần đất này ông T2 có trồng rau theo mùa. Trên đất này có cụ Nguyễn Thị G
(là mẹ ông L), bà Vũ Thị M (là vợ ông L) đang ở cùng ông L, nhưng cụ G và bà
M không xây dựng gì trên phần đất mà các bên đang tranh chấp. Trên đất này
chỉ có hàng rào thép gai và bức tường gạch xỉ do ông L xây dựng. Ngoài ra ông
L có trồng một ít rau theo mùa, trên đất không có cây lâu năm. Do đó ông L đề
nghị Tòa án không đưa cụ G và chị M vào tham gia tố tụng với tư cách là người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vì đất đai là do ông L quản lý.
Diện tích đất mà ông L chuyển nhượng cho ông T2 có nguồn gốc của mẹ
ông Lương C cho ông L từ năm 2017 và ông L đã được cấp GCNQSDĐ, sau đó
thì ông L chuyển nhượng cho ông T2. Việc ông L chuyển nhượng cho ông T2
không lập hợp đồng chuyển nhượng, mà chỉ có hợp đồng đặt cọc, sau đó ông T2
tìm được khách mua nên ông L và cụ G ký vào hợp đồng chuyển nhượng với
khách của ông T2. Khi chuyển nhượng đất cho ông T2, thì ông L có chỉ vị trí
cho ông T2, nhưng không lập thành văn bản mà được thể hiện tại sơ đồ thửa đất
theo GCNQSDĐ đã cấp cho những người mà anh T2 chuyển nhượng.
Sau khi tách đất cho các con, thì cụ G còn lại diện tích đất 383m
2
thuộc
thửa số 675. Cuối năm 2023 thì cụ G làm thủ tục tặng cho ông L toàn bộ diện
tích đất này, ông L đã được cấp GCNQSDĐ.
Phía Bắc thửa đất 674 của ông L tiếp giáp với phần đất 675 của ông B,
ranh giới thửa đất 674 tại sơ đồ hiện trạng thửa đất đo đạc ngày 10/02/2026 có
hình thể là 9- A- 12- 13- 14- 15- 16- 17- 18- 19- 20- C- 8- 9. Giữa phần đất của
ông L và ông B có hàng rào dây thép B40 và một đoạn tường gạch xỉ. Trên đất
ông L có trồng một số loại rau theo mùa, ông L đồng ý tháo dỡ hàng rào dây
thép và bức tường gạch xỉ này để trả lại cho ông B diện tích đất là 5,3m
2
với
chiều dài của thửa đất là 0,55m, chiều rộng 9,49m. Phần đất theo sơ đồ hiện
trạng thửa đất là từ điểm 8- 9- A- B- C- 8 có diện tích 31,5m
2
thuộc thửa số 674
được cấp Giấy chứng nhận mang tên ông L, nên không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của ông B.
Như vậy phần diện tích đất của ông B là từ điểm 8- 9- H- 10- 11- 5- 4- 3-
6- D- 7- K- 8. Phần diện tích đất mà ông L lấn chiếm của ông B là 5,3m
2
hình
4
thể là K- 8- 9- H- K. Trên phần đất này có tường rào thép gai và bờ tường gạch
xỉ nên ông L đồng ý tháo dỡ để trả lại cho ông B phần diện tích đất 5,3m
2
.
Với nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2026/DS-ST ngày 30
tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ các Điều 164, 166, 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị
quyết số 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán; Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí
Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Xuân B về việc yêu cầu ông
Nguyễn Văn L phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 36,8m
2
.
2. Buộc ông Nguyễn Văn L phải tháo dỡ hàng rào thép B40 và đoạn
tường gạch xỉ và tháo dỡ các tài sản để trả lại cho ông Lê Xuân B diện tích đất
36,8m
2
giới hạn bởi các điểm: H- K- 8- C- B- A- 9- H thuộc thửa số 675, tờ bản
đồ 20 vị trí đất tại Thôn S, xã B, tỉnh Phú Thọ có các chiều cạnh cụ thể như sau:
Phía Đông giáp hộ ông X giới hạn bởi điểm K- 8 kích thước 0,55m; 8- C
kích thước 3,20m.
Phía Tây giáp đường giới hạn bởi các điểm H- 9 kích thước 0,54m; 9- A
kích thước 1,81m; A- B kích thước 1,63m.
Phía Nam giáp phần đất của ông Lương cạnh B- C kích thước 9,50m.
Phía Bắc giáp thửa đất của ông B cạnh H- K kích thước 9,50m.
(Có sơ đồ theo mảnh trích đo địa chính do Công ty cổ phần Đ1 vẽ ngày
10/02/2026)
Ngoài ra quyết định còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn L kháng cáo với nội
dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng ông sẽ lùi
mốc giới 50cm vào đất nhà ông để trả lại phần đất trên, ông không đồng ý trả lại
diện tích như trong bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu và
có quan điểm:
Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền
hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã chấp
hành đúng trách nhiệm của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
5
Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên bản án
dân sự sơ thẩm số 20/2026/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân
dân khu vực 8 – Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lương phải chịu án phí phúc thẩm theo
quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra,
tranh tụng công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lương N trong hạn luật
định, hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn L, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ông L cho rằng không có việc ông làm hàng rào thép gai B40, xây đoạn tường
bao loan bằng gạch xỉ, lấn chiếm sang đất của ông B với chiều dài 3,75m và
toàn bộ chiều ngang của thửa đất là 9,50m. Ông L chỉ đồng ý phá bỏ đoạn thép
B40 và đoạn tường bao loan gạch xỉ với chiều ngang là 9,50m, chiều dài của
thửa đất là 0,55m với tổng diện tích là 5,3m
2
. Theo ông L diện tích đất mà mà
ông chuyển nhượng cho ông T2, có vị trí từ hàng rào thép gai và bức tường bao
loan gạch xỉ hắt ra phía ngoài đường, còn phía trong bức tường và hàng rào thép
B40 là diện tích đất thuộc thửa số 674, được cấp GCNQSDĐ của ông L (nguồn
gốc đất do ông L được mẹ đẻ là cụ G tặng cho).
[2.1]. Trong khi đó ông B trình bày, ông có diện tích đất 50m
2
đất trồng
cây lâu năm thuộc thửa đất số 675, tờ bản đồ số 20, địa chỉ thửa đất tại tổ dân
phố S, xã B, tỉnh Phú Thọ đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên ông. Nguồn
gốc đất do nhận chuyển nhượng của ông Phùng Văn D và bà Phùng Thị P năm
2022. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông B chưa xây dựng công trình gì trên đất.
Tiếp giáp với phía Nam thửa đất của ông B, là diện tích đất 383m
2
của ông
Nguyễn Văn L. Quá trình sử dụng, ông L có làm hàng rào thép gai B40, xây
đoạn tường bao loan bằng gạch xỉ, lấn chiếm sang đất của ông B với chiều dài
3,75m và toàn bộ chiều ngang của thửa đất là 9,50m
[3]. Xem xét nội dung vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ thấy rằng: Đối
với diện tích đất 50m
2
thuộc thửa 675, tờ bản đồ 20, có nguồn gốc của cụ
Nguyễn Thị G (mẹ đẻ ông L). Thửa đất này được tách ra từ thửa 611, tờ bản đồ
20 ,có diện tích 488,5m
2
Giấy chứng nhận mang tên cụ G. Ngày 14/01/2021 cụ
G chuyển nhượng thửa đất 675, cho ông Phạm Quang H1, ngày 20/4/2021 ông
H1 chuyển nhượng diện tích đất này cho ông Phùng Văn D, bà Phùng Thị P, đến
ngày 12/3/2022 ông D, bà P lại chuyển nhượng diện tích đất này cho ông Lương
6
Văn B1. Diện tích, kích thước các chiều cạnh mà ông D, bà P chuyển nhượng
cho ông B1, hoàn toàn trùng khớp với kích thước các chiều cạnh mà cụ G
chuyển nhượng cho ông H1.
[4]. Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện,
phần diện tích đất thuộc thửa 674 mà ông L đang sử dụng, nếu tính từ hàng rào
thép B40 và bức tường gạch xỉ có diện tích là 415m
2
, tăng 32m
2
so với
GCNQSDĐ. Xác minh tại địa phương được biết phần diện tích 36,8m
2
, không
nằm trong giấy chứng nhận của ông L, phần diện tích này ông Lương L1 sang
phần diện đất của ông B1. Mặc dù trong GCNQSDĐ của ông L là 383m
2
nhưng
đối chiếu với trích lục đo vẽ tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận, thì hiện nay
diện tích đất này là 378,2m
2
(thiếu so với Giấy chứng nhận 4,8m
2
). Tuy nhiên
diện tích ông B1 và ông L tranh chấp ở cạnh phía Bắc và cạnh phía Đông thửa
đất 674 của ông L. Theo GCNQSDĐ cụ Nguyễn Thị G (sau đó cụ G tặng cho
ông L) thể hiện phía Đông cạnh 5-6 kích thước 19,33m; cạnh 6 - 7 kích thước
2,20m. Như vậy tổng chiều dài của cạnh này có kích thước 21,88m. Tuy nhiên
hiện nay ông L đang sử dụng chiều dài của cạnh này là 25,59m (tăng so với
Giấy chứng nhận 3,75m). Phần diện tích đất 3,75m được xác định là của thửa
đất 675 của ông B1.
[5]. Ông L cho rằng diện tích đất 50m
2
thửa 675 của ông B1 có vị trí từ
phía ngoài bờ tường gạch xỉ và hàng thép B40 của ông Lương T3 ra phía bên
ngoài, ông L đồng ý tháo dỡ tường gạch xỉ và hàng rào thép B40 để lùi vào
0,55m chiều dài với tổng diện tích là 5,3m
2
.
Như vậy ông B1 được sử dụng diện
tích 55,5m
2
. Tuy nhiên xác minh tại Ủy ban nhân dân xã B, và căn cứ vào trích
lục thửa đất tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận cho các bên, thì phần diện tích
đất 55,5m
2
mà ông L chỉ dẫn của ông B1, thì có 21,7m
2
thuộc thửa số 675 (được
cấp Giấy chứng nhận mang tên bà Trần Thị Bích T4) có hình thể là 7- D- 6- 3-
4- E- 7; diện tích 15,3m
2
thuộc thửa 613 (được cấp Giấy chứng mang tên ông
Lê Xuân B) có hình thể là 4- 5- 10- E- 4. Như vậy phần diện tích đất của ông B
thuộc thửa 675, theo chỉ dẫn của ông L chỉ còn 13,2m
2
và thửa 613 chỉ có diện
tích 74,8m
2
. Kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất số 613 của ông B có diện tích là
102,6m
2
, nhưng trong đó có 12,5m
2
lấn ra đường hành lang giao thông có chỉ
giới 1- 2- G- F- 1.
[5.1]. Đối với cụ Nguyễn Thị G (mẹ ông L) và bà Vũ Thị M (vợ ông L)
đang ở trên thửa đất của ông L, nhưng cụ G và bà M đều có quan điểm trình bày
đề nghị Tòa án không đưa vào tham gia tố tụng, với lý do nhà đất là của ông L,
những công trình trên đất cũng do ông L quản lý, xây dựng. Như vậy có căn cứ
để khẳng định ông L đã sử dụng lấn sang phần đất của ông B tại thửa 675 ở cạnh
phía Đông của thửa đất với chiều dài 3,75m, cạnh phía Tây là 3,98m cùng chiều
7
rộng của thửa đất là 9,50m với tổng diện tích là 36,8m
2
.
[6]. Cấp sơ thẩm sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung vụ án đã
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B, buộc ông L phải có trách nhiệm tháo dỡ
bức tường gạch xỉ và hàng rào thép B40 cùng những tài sản trên đất, để trả lại
cho ông B diện tích đất 36,8m
2
là có căn cứ, đúng quy định.
[7]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên phần quyết
định bản án sơ thẩm tuyên dài dòng, cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cách tuyên.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là có căn cứ, được
Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên ông L phải chịu
án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[9]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của ông Nguyễn Văn L, giữ nguyên bản án dân sự số 20/2026/DS-ST
ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ .
Áp dụng các Điều 164, 166, 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí
Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Xuân B đối với ông Nguyễn
Văn L: Buộc ông Nguyễn Văn L phải tháo dỡ hàng rào thép B40, đoạn tường
gạch xỉ và tháo dỡ các tài sản có trên đất, để trả lại cho ông Lê Xuân B diện tích
36,8m
2
đất thuộc thửa số 675, tờ bản đồ 20 vị trí đất tại Thôn S, xã B, tỉnh Phú
Thọ. Diện tích 36,8m
2
đất ông B phải trả lại được giới hạn bởi các điểm H, K, 8,
C, B, A, 9, H, (Có sơ đồ kèm theo).
2. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng
nhưng ông Lê Xuân B tự nguyện nộp thay cho ông L. Do ông B đã nộp tạm ứng
án phí 1.875.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005435 ngày
17/11/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ, nên ông B được hoàn trả lại số
tiền là 1.575.000 đồng.
8
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng,
được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm
ứng án phí số 0000665 ngày 16/7/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ; xác
nhận ông L đã nộp đủ án phíp húc thẩm.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Phạm Thị Thúy Mai Nguyễn Thị Thu Hiền
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Xuân Trọng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 253/2026/DS-PT Bản án số 253/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 253/2026/DS-PT Bản án số 253/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất