Bản án số 1364/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1364/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1364/2026/DS-PT ngày 23/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1364/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1364/2026/DS-PT Bản án số 1364/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1364/2026/DS-PT Bản án số 1364/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 1364/2026/DS-PT
Ngày: 23/9/2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng,
chuyển nhượng QSDĐ và vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Quốc
Các Thẩm phán: 1/- Ông Nguyễn Vĩnh Khương.
2/- Bà Lê Thị Minh Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 23 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số:
1058/2026/TLPT-DS ngày 03/7/2026 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng,
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 203/2026/DS-ST ngày 09/4/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm số: 1309/2026/QĐXXPT ngày 08/7/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N. Trụ sở: 201-203 C,
phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nay là phường B, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Đặng Nguyễn Kim A,
ông Trần Nguyễn Quang K, ông Bùi Tuấn K1, ông Nguyễn Minh D và ông Trần
Gia H (văn bản ủy quyền ngày 05/8/2025 và 07/4/2026).
Cùng địa chỉ liên lạc: Số A đường Q, phường H, thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Thanh T, sinh năm: 1989. Địa chỉ: C KDC khu vực G,
phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; nay là phường A, thành phố Cần Thơ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông La Hữu H1, sinh năm: 1983. Địa chỉ: D khu V, phường B, quận C,
thành phố Cần Thơ; nay là phường C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thúy Q, sinh năm: 1991. Địa chỉ: L
đường C, KDC M, khu V, phường S, thành phố Cần Thơ (văn bản ủy quyền
ngày 03/9/2026). Có mặt.
2
- Bà Nguyễn Thị Tuyết H2, sinh năm: 1980. Địa chỉ: D, khu V, phường B,
quận C, thành phố Cần Thơ; nay là phường C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
- Ông Huỳnh Nam V, sinh năm: 1976. Vắng mặt.
- Bà Trần Thị Đ, sinh năm: 1977. Vắng mặt.
- Bà La Thị Hồng L, sinh năm: 1978. Có mặt.
Cùng địa chỉ: D, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ; nay là
phường C, thành phố Cần Thơ.
- Văn Phòng C. Địa chỉ: C đường T, phường T, thành phố Cần Thơ. Vắng
mặt.
4. Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập ông La Hữu H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N thông qua người đại diện theo ủy quyền
trình bày:
Ngày 04/8/2023 Ngân hàng TMCP N (Phòng G) và ông Đỗ Thanh T giao
kết Hợp đồng tín dụng số 0067/2023/611-TD-CV với nội dung cấp tín dụng cho
ông T bằng hình thức cho vay số tiền 01 tỷ đồng. Tiếp đến ngày 12/8/2023 Ngân
hàng N và ông T giao kết Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số
0130/2023/611-CV với nội dung cấp tín dụng cho ông T bằng hình thức phát
hành thẻ tín dụng với hạn mức 50 triệu.
Khoản cấp tín dụng trên được bảo đảm bằng tài sản là: quyền sử dụng đất
tại thửa đất số 2318, tờ bản đồ số 02; địa chỉ: khu V, phường B, quận C, thành
phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 466622 do UBND quận C
cấp ngày 22/01/2008, cập nhật chỉnh lý ngày 17/3/2008, ngày 25/11/2021, ngày
02/8/2023 cho ông Đỗ Thanh T. Ông T đã thế chấp tài sản trên cùng toàn bộ vật
phụ, hoa lợi, lợi tức, doanh thu và các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp cho N1
theo Hợp đồng thế chấp tài sản (quyền sử dụng đất) số 0059/2023/611-TD-BĐ
công chứng cùng ngày 04/8/2023 tại Văn phòng C, đăng ký giao dịch bảo đảm
ngày 04/8/2023 tại Văn phòng ĐKĐĐ quận C. Việc thế chấp và đăng ký giao
dịch bảo đảm được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Theo yêu cầu của ông Đỗ Thanh T trên cơ sở phù hợp với Hợp đồng tín
dụng. N1 đã giải ngân cho ông Đỗ Thanh T số tiền theo nội dung đã giao kết tại
các Hợp đồng tín dụng như sau:
- Giấy nhận nợ số 01/GNN-0067/2023/611-TD-CV ngày 07/8/2023 với số
tiền 01 tỷ; mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh thức ăn chăn nuôi; lãi suất
cho vay: 14%/năm; được điều chỉnh 03 tháng/lần với mức lãi suất được tính
theo công thức lãi suất cơ sở chuẩn ngắn hạn (%/năm) cộng (+) 4.3%/năm
(trong đó: Lãi suất cơ sở chuẩn do N1 công bố và có hiệu lực tại thời điểm điều
chỉnh); thời hạn vay: 11 tháng; phương thức trả nợ: lãi trả 06 tháng/lần, gốc trả
cuối kỳ.
- Ngày 15/8/2023, N1 bắt đầu cấp Thẻ tín dụng theo hạn mức tín dụng đã
giao kết là 50 triệu; Mục đích sử dụng thẻ: tiêu dùng; Thời hạn sử dụng hạn
3
mức: từ 15/8/2023 đến 31/8/2028; Thời hạn cấp tín dụng: theo Điều khoản và
Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng N1; Lãi suất và phí: theo Biểu phí do N1 ban
hành trong từng thời kỳ.
Theo nội dung được giao kết tại Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng
thẻ, N1 đã thực hiện thủ tục cần thiết để phát hành thẻ tín dụng theo đúng đề
nghị của khách hàng và phù hợp với quy định pháp luật. Ngày 15/8/2023, N1 đã
cung cấp cho khách hàng thẻ tín dụng.
Theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, ông T có nghĩa vụ thanh toán nợ
đúng hạn và đầy đủ cho N1. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông
T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh nên N1 đã chuyển toàn bộ
dư nợ gốc của khách hàng sang nợ quá hạn từ ngày 17/02/2024. Trong quá trình
giải quyết, N1 luôn cầu thị, đôn đốc, tạo điều kiện để ông T trả nợ nhưng đến
nay ông T vẫn không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho N1
Tạm tính đến ngày 15/6/2024, ông T còn nợ N1 số tiền 1.234.832.215
đồng, trong đó: Khoản nợ Hợp đồng tín dụng là 1.175.742.975 đồng, gồm: Nợ
gốc: 01 tỷ, Lãi trong hạn: 114.777.857đ, Lãi quá hạn: 58.684.932đ, Lãi chậm trả
lãi: 2.280.186đ; Khoản nợ cấp thẻ tín dụng là 59.089.240đ, gồm: Nợ gốc:
52.355.993đ, Lãi quá hạn: 6.733.247đ.
Nguyên đơn yêu cầu:
- Buộc ông Đỗ Thanh T trả ngay cho N1 số tiền tạm tính đến ngày
09/4/2026 là 1.635.399.256đ, trong đó: Khoản nợ Hợp đồng tín dụng là
1.532.688.944đ, gồm: Nợ gốc: 01 tỷ; Lãi trong hạn 121.353.200đ, Lãi quá hạn:
387.287.671đ, Lãi chậm trả lãi: 24.048.073đ; Khoản nợ thẻ tín dụng là
102.710.312đ, gồm: Nợ gốc: 52.555.993đ, Lãi quá hạn: 50.154.319đ và lãi phát
sinh tiếp sau ngày 09/4/2026 theo Hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán
đầy đủ nghĩa vụ nợ.
- Trường hợp ông T không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì N1 được quyền
yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê
biên, phát mãi các tài sản bảo đảm cùng toàn bộ vật phụ, hoa lợi, lợi tức, doanh
thu và các quyền phát sinh từ tài sản đã thế chấp bảo đảm để thu hồi nợ vay cho
N1. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán và xử lý tài sản bảo đảm được dùng để
thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho ông T với N1. Trường hợp nếu số tiền thu được
từ bán và xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết nghĩa vụ nợ thì ông
T vẫn phải có nghĩa dùng các tài sản hợp pháp khác để trả hết khoản nợ còn lại
cho N1.
Ngoài ra, ông T phải trả lại cho Ngân hàng N chi phí xem xét, thẩm định tại
chỗ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông La Hữu H1 có yêu cầu độc lập và thông qua người đại diện theo ủy
quyền trình bày: Nguồn gốc đất là của ông H1 được mẹ tặng cho và đứng tên
chủ sở hữu. Ông H1 đã xây dựng 02 căn nhà bê tông cốt thép (01 nhà chính và
01 tiệm hớt tóc). Ngoài ra, trên đất còn có: 01 căn của chị L cho vợ chồng ông
V, bà Đ thuê nhà để ở; 01 căn nhà của chị H2 (trước đây mẹ ông H1 đã bán giấy
tay diện tích khoảng 150m
2
cho bà Nguyễn Thị Tuyết H2 và bà đã xây nhà ở
4
đến nay).
Do ông H1 cần tiền lo thuốc thang trị bệnh cho mẹ, nên có vay của ông T
300 triệu, lãi suất 1,5%/tháng, đã đóng lãi từ tháng 8/2023 đến tháng 4/2024
(ông T có ký thỏa thuận vay và ký nhận lãi vay). Để đảm bảo khoản vay ông T
buộc ông H1 phải ký hợp đồng chuyển nhượng công chứng số: 1905 quyển số
01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/7/2023 tại VPCC Chữ Duy T1, thửa đất
số 2318, tờ bản đồ số 02, diện tích 268,9m
2
(CLN); tọa lạc khu vực 3, phường B
(nay là phường C) thành phố Cần Thơ; giá trong hợp đồng là 100 triệu. Thực ra
hợp đồng chuyển nhượng là giả tạo, nhằm che đậy cho việc vay tiền chứ thực tế
ông H1 không bán đất, không có việc nhận tiền bán đất, ông H1 không bàn giao
đất, hiện đất và nhà trên đất vẫn do ông H1 là người quản lý và sử dụng. Trên
đất có 03 căn nhà xây dựng bê tông cốt thép cùng với 03 hộ gia đình đang sinh
sống trên đất là bà Đ, ông V, bà H2 đang quản lý và sử dụng cùng nhiều cây
trồng có giá trị cũng không ghi trong hợp đồng; trên đất có 02 ngôi mộ; Giá ghi
trong hợp đồng là 100 triệu thấp hơn nhiều giá trị thực, hợp đồng giả về giá để
trốn thuế. Khi vô hiệu hợp đồng ông H1 có nghĩa vụ trả lại cho ông T số tiền
vay 300 triệu, ông T có nghĩa vụ trả lại quyền sử dụng đất cho ông H1.
Quá trình vay tiền ông T đã vi phạm hợp đồng, vi phạm thỏa thuận đã ký
mang tài sản ông H1 đi vay vượt số tiền mà hai bên thỏa thuận. Ông H1 có yêu
cầu độc lập: vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 27/7/2023 giữa ông
H1 với ông T, do giả tạo nhằm che đậy việc ông H1 vay tiền của ông T; ông H1
sẽ trả lại cho ông T số tiền vay 300 triệu và tiền lãi nếu ông T có yêu cầu; ông T
phải trả lại QSDĐ cho ông H1.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông H1 bổ sung
thêm yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng thế chấp QSDĐ giữa ông T với Ngân
hàng TMCP N, nhưng không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận vì vượt quá
yêu cầu khởi kiện ban đầu.
+ Bà La Thị Hồng L trình bày: Bà là chị ruột của ông H1. Nguồn gốc đất
tranh chấp do cha mẹ để lại, tuy ông H1 đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ
nhưng bà có xây nhà cấp 4 trên đất vào năm 2004-2005. Vì phải đi làm ăn xa,
nên căn nhà bà cho ông V, bà Đ thuê ở (không làm hợp đồng thuê). Việc ông H1
vay tiền của ông T, bà không biết. Nay Ngân hàng N tranh chấp với ông T, bà
yêu cầu Tòa án xem xét trả lại cho bà phần diện tích có tài sản trên đất là căn
nhà diện tích ngang 04m dài 14m. Trong vụ án này, bà không có yêu cầu độc lập
và thống nhất với yêu cầu của ông H1 nếu sau này phát sinh tranh chấp thì bà
khởi kiện thành vụ kiện khác.
+ Bà Nguyễn Thị Tuyết H2 có yêu cầu độc lập trình bày: Bà có nộp đơn
tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ với bà Nguyễn Thị H3 (đã chết) có
con là La Hữu H1, T2, L, T3, L1 và T4 hiện tại bị bệnh tâm thần (họ tên cụ thể
không biết), chồng bà H3 là ông La Hữu T5 chết trước bà H3 không biết năm
nào. Yêu cầu cho bà đứng tên phần đất mà bà đã mua và sinh sống 10 năm nay
ngang 4,5m và dài khoảng 19m. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết bà H2 đã
rút lại yêu cầu độc lập.
5
+ Văn phòng công chứng Chữ Duy T1 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt;
Bị đơn ông Đỗ Thanh T; Người liên quan ông Huỳnh Nam V, bà Trần Thị Đ đã
được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên không ghi nhận
được ý kiến.
Vụ việc hòa giải không thành nên Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ
đưa ra xét xử; tại Bản án sơ thẩm số 203/2026/DS-ST ngày 09/4/2026 đã tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N về
“tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn ông Đỗ Thanh T. Buộc ông Đỗ
Thanh T phải trả cho N1 số tiền vay tạm tính đến ngày 09/4/2026 là
1.635.399.256 đồng, trong đó:
+ Khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0067/2023/611-TD-CV là
1.532.688.944đ, gồm: Nợ gốc: 1.000.000.000đ; Lãi trong hạn 121.353.200đ;
Lãi quá hạn: 387.287.671đ; Lãi chậm trả lãi: 24.048.073đ.
+ Khoản nợ cấp thẻ tín dụng theo hợp đồng số 0130/2023/611-CV là
102.710.312đ, gồm: Nợ gốc: 52.555.993đ; Lãi quá hạn: 50.154.319đ.
Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật trường hợp bị đơn không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng thì Ngân
hàng TMCP N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo
đảm của khoản vay theo hợp đồng thế chấp đã ký bao gồm: Quyền sử dụng đất
tại thửa đất số 2318, tờ bản đồ số 02; địa chỉ: khu V, phường B, quận C, thành
phố Cần Thơ nay là: khu vực 3, phường C, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AK 466622 do UBND quận C (cũ) cấp ngày
22/01/2008, cập nhật chỉnh lý ngày 17/3/2008, ngày 25/11/2021, ngày
02/8/2023 cho ông Đỗ Thanh T.
Ông La Hữu H1, bà La Thị Hồng L và bà Nguyễn Thị Tuyết H2 được quyền
ưu tiên mua lại tài sản nêu trên khi Ngân hàng TMCP N có yêu cầu xử lý tài
sản.
(Kèm theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 13/VPĐK.DV ngày
12/01/2026 Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C)
Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông La Hữu H1. Tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông La Hữu H1 và ông Đỗ Thanh T số công chứng: 1905, quyển
số 01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/7/2023 tại Văn phòng C.
Buộc ông Đỗ Thanh T có trách nhiệm trả cho ông La Hữu H1 số tiền
1.859.900.000 đồng.
3. Đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn Thị Tuyết H2.
Ngoài ra bản án còn tuyên về việc tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng,
trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ, án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng
cáo của đương sự.
Ngày 22/4/2026 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông La Hữu H1
kháng cáo yêu cầu sửa án theo hướng buộc bị đơn trả lại đất cho ông.
6
Tại phiên tòa phúc thẩm, người có kháng cáo xác định vẫn giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo; Nguyên đơn bảo lưu ý kiến và đề nghị bác kháng cáo giữ nguyên
án sơ thẩm; Văn phòng C có đơn xin vắng mặt; Bị đơn và người liên quan ông
V, bà Đ vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: đương sự và Tòa án đã thực hiện đúng
quy định pháp luật tố tụng dân sự; Về nội dung: theo các tài liệu chứng cứ có
trong hồ sơ, đối chiếu với các quy định pháp luật liên quan xét kháng cáo của
ông La Hữu H1 không có cơ sở, đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo
hợp đồng tín dụng và tín dụng thẻ do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng;
Người liên quan có yêu cầu độc lập ông La Hữu H1 yêu cầu tuyên vô hiệu hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với bị đơn và đồng ý trả lại
tiền vay cho bị đơn. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ “Tranh chấp hợp đồng tín
dụng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vay tài sản” theo khoản 3 Điều 26
Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.
[2] Văn phòng công chứng có đơn xin vắng mặt; Bị đơn và những người có
liên quan Huỳnh Nam V, Trần Thị Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2
nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2, 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân
sự, phiên tòa phúc thẩm vẫn tiến hành theo quy định.
* Về nội dung: Ông La Hữu H1 đồng ý với án sơ thẩm tuyên vô hiệu giao
dịch chuyển nhượng đất giữa ông với bị đơn, nhưng không đồng ý việc giải
quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu bằng cách bị đơn bồi thường tiền, mà yêu
cầu được nhận lại đất. Do đó, phải xem xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất giữa bị đơn với Ngân hàng có hiệu lực hay vô hiệu, Ngân hàng có phải là
người thứ ba ngay tình hay không mới xác định được kháng cáo của ông H1 là
có hay không có cơ sở. Xét thấy:
[3] Xuất phát từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H1
với bị đơn, nên sau khi bị đơn được cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý sang tên
quyền sử dụng đất đã mang tài sản này đi thế chấp để vay tiền tại Ngân hàng N
như đã nói trên. Xét Hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất số:
0059/2023/611/TD-BĐ ngày 04/8/2023 giữa bị đơn với Ngân hàng; tài sản bảo
đảm là thửa đất số 2318, tờ bản đồ số 02; địa chỉ: khu V, phường B, quận C,
thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK466622 ngày
22/01/2008 tên bà Nguyễn Thị H3; chỉnh lý ngày 25/11/2021 sang tên ông La
Hữu H1 và ngày 02/8/2023 sang tên ông Đỗ Thanh T. Cùng ngày 04/8/2023
7
Hợp đồng thế chấp được công chứng tại VPCC Ngô Hồng T6 và đăng ký giao
dịch bảo đảm tại Văn phòng ĐKĐĐ quận Cái Răng theo đúng quy định tại Điều
298, 317, 318, 319 Bộ luật dân sự.
[4] Căn cứ vào hồ sơ thẩm định tài sản thế chấp ngày 03/8/2023 do Ngân
hàng cung cấp thể hiện: Tờ trình kết quả thẩm định, hình ảnh tài sản, hiện trạng
bên ngoài và bên trong nhà, biên bản thẩm định hiện trạng tài sản, ... Xác nhận
của UBND phường B ngày 04/8/2023 (BL 115) với nội dung: “Ông Đỗ Thanh
T, sinh năm 1989 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 466622,
số vào sổ H00580 cấp ngày 29/01/2008. Đất hiện không tranh chấp, không quy
hoạch”. Ngoài ra, ngày 05/8/2023 ông H1 và ông T có lập Văn bản thỏa thuận
(BL 140) ông H1 vay số tiền 300 triệu kèm theo nội dung: “... Do nhu cầu cần
vay vốn ngân hàng nay bên A đồng ý giao cho bên B đại diện đứng ra vay ngân
hàng thay cho bên A với số tiền vay là 300.000.000 đồng …”. Mặt khác, tại
phiên tòa sơ thẩm ngày 30/9/2025, ông H1 xác định khi anh Nguyễn Quốc P đại
diện Ngân hàng đến thẩm định tài sản có nói với ông là thẩm định để cho vay
nên ông có mở cửa để Ngân hàng thẩm định, có chụp lại hình ảnh (hình ảnh thể
hiện có ông H1), còn Ngân hàng cho ông T vay bao nhiêu tiền thì ông không
biết (BL 200->202). Như vậy, việc Ngân hàng tiến hành thẩm định tài sản thế
chấp là nhà, đất này ông H1 có biết và đã đồng ý mở cửa nhà cho nhân viên
Ngân hàng vào thẩm định một cách công khai, hợp pháp đúng quy định. Một
yếu tố quan trọng đó là ngay từ lúc đầu khi ký chuyển nhượng, cũng như ký
Văn bản thỏa thuận vay 300 triệu, ông H1 cũng đã đồng ý giao quyền cho ông
T đại diện đứng ra vay tiền Ngân hàng; đồng nghĩa với việc phải biết ông T thế
chấp tài sản này cho Ngân hàng và nếu ông T không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
với Ngân hàng thì tài sản thế chấp sẽ phải được xử lý theo quy định của tài sản
bảo đảm. Do đó, trong trường hợp này cấp sơ thẩm xác định Ngân hàng bên
nhận thế chấp tài sản là người thứ ba ngay tình theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật
dân sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[5] Do đã xác định Ngân hàng là người thứ ba ngay tình, đồng nghĩa với
hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm của bị đơn với Ngân hàng là hợp pháp, nên
Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong trường
hợp bị đơn ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy, cấp
sơ thẩm xử lý hậu quả hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu giữa bị đơn với
ông H1 theo hướng buộc bị đơn hoàn trả giá trị nhà, đất cho ông H1 theo giá tại
Chứng thư thẩm định giá ngày 21/01/2026 của Công ty Cổ phần T7, sau khi
khấu trừ nợ vốn, lãi mà ông H1 phải trả cho bị đơn với số tiền 1.859.900.000đ
là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[6] Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của ông La Hữu H1 không có
cơ sở nên không được chấp nhận, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm
như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và có căn cứ. Các phần khác
không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
8
[7] Về án phí phúc thẩm, kháng cáo không được chấp nhận nên ông H1
phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
1/- Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập ông La Hữu H1.
2/- Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 203/2026/DS-ST ngày
09/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ.
3/- Về án phí phúc thẩm: 300.000đ ông La Hữu H1 phải chịu; chuyển số
tiền đã nộp tạm ứng án phí kháng cáo theo Biên lai số 0007930 ngày 23/4/2026
tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí; đã nộp xong.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người
phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại
các Điều 6, 7, 36 và 71 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự
năm 2025.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Các đương sự; Đã ký
- VKSND.TPCT;
- TAND KV1;
- THADS. TPCT;
- Lưu (HS - 2b).
Trần Tuấn Quốc
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1364/2026/DS-PT Bản án số 1364/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1364/2026/DS-PT Bản án số 1364/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất