Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 29/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 25/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST ngày 29/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 25/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/08/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29-8-2025
“Về việc: Ly hôn, tranh chấp về con
chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Dương Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Mó Măng, nghề nghiệp: Nguyên là cán bộ Hội phụ nữ xã Ea Hiu (nay là
Ea Phê)
2. Ông Hồ Thành, nghề nghiệp: Giáo viên
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Nhị - Thư Tòa án, Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Trần Duy Quyền - chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 08 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk m
phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 225/2025/TLST-
HN ngày 27 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025,
giữa:
- Nguyên đơn: Chị H Y Ayŭn, sinh năm 1997. (Có mặt)
Địa chỉ: Buôn E, Vụ B, tỉnh Đắk Lắk (trước đây Vụ B, huyện K, tỉnh
Đắk Lắk); Hiện tại Buôn P, E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây E, huyện K, tỉnh
Đắk Lắk).
- Bị đơn: Anh Triệu Y T, sinh năm 1998. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn Ea Đ, E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây E, huyện K, tỉnh Đắk
Lắk); Hiện đang chấp hành án tại: Ca 3, Trại giam X, Khu sản xuất B, thôn L, xã S,
tỉnh Đắk Lắk (trước đây là xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn
chị H Y Ayŭn trình bày:
2
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với anh Triệu Y T xây dựng gia đình trên sở tình
yêu tnguyện, tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương,
chung sống với nhau từ năm 2017. Đến ngày 24/01/2019 thì chúng tôi đăng ký kết hôn
tại Ủy ban nhân dân E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay E, tỉnh Đắk Lắk) theo
giấy chứng nhận kết hôn số 14.
Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên
đến đầu năm 2021 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan
điểm sống, tính nh không hòa hợp. Gia đình hai bên đã hòa giải cho chúng tôi nhiều
lần nhưng không thành. Sau đó anh Triệu Y T ham chơi, không lo tu chí làm ăn mà
đua đòi theo bạn vi phạm pháp luật. Chúng tôi cũng đã sống ly thân từ đầu năm
2021 cho đến nay. Hiện nay đang chấp hành án tại: Ca 3, Trại giam X, Khu sản xuất
B, thôn L, xã S, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên).
Xét mục đích hôn nhân của chúng tôi không đạt được, tình cảm vợ chồng không
còn. Nên tôi đã làm đơn khởi kiện xin được ly hôn với anh Triệu Y T. Nguyện vọng
của tôi đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho tôi với anh Triệu Y T được ly hôn.
- Về con chung: Giữa chúng tôi 01 con chung cháu Triệu Thị N An sinh
ngày 30-7-2017. Hiện cháu còn nhỏ đang cùng với tôi. Vợ chồng ly n thì tôi
nguyện vọng được trực tiếp trông nom, cm c, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Triệu
Th N Ayŭn cho đến khi cháu đ 18 tui.
- Về cấp dưỡng tiền nuôi con: i không yêu cầu anh Triệu Y T phải cấp dưỡng
tiền nuôi con nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chúng tôi không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
- Về nợ chung: Chúng tôi không nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Ngoài ra tôi không có yêu cầu gì thêm.
* Tại văn bản trình bày ký kiến, bị đơn anh Triệu Y T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với chị H Y Ayŭn xây dựng gia đình trên sở tình
yêu tnguyện, tìm hiểu, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương,
chung sống với nhau từ năm 2017. Đến ngày 24/01/2019 thì chúng tôi đăng ký kết hôn
tại Ủy ban nhân dân E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay E, tỉnh Đắk Lắk) theo
giấy chứng nhận kết hôn số 14.
Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên
đến đầu năm 2021 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan
điểm sống, tính nh không hòa hợp. Gia đình hai bên đã hòa giải cho chúng tôi nhiều
lần nhưng không thành. Hiện nay tôi đang chấp hành án tại: Ca 3, Trại giam X, Khu
sản xuất B, thôn L, S, tỉnh Đắk Lắk (trước đây H, huyện T, tỉnh Phú n).
Nay chị H Y Ayŭn làm đơn khởi kiện xin được ly hôn với tôi (Triệu Y T) thì tôi đồng
ý. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chúng tôi được ly hôn.
3
- Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Triệu Thị N An sinh ngày
30-7-2017. Hiện cháu còn nhỏ đang ở cùng với chị H Y Ayŭn.
Vợ chồng ly hôn thì i nguyện vọng giao cháu Triệu Th N An cho chị H
Y Ayŭn được trực tiếp tng nom, chăm c, giáo dục, nuôi dưỡng cháu cho đến khi
cháu đ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, vnợ chung: Chúng tôi không nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Quá trình làm việc, Tòa án đã mời các đương sự lên làm việc, tiến hành mở phiên
họp ng khai chứng cứ hòa giải giữa các đương sự với nhau nhưng bị đơn vắng
mặt trong khi đó chị H Y Ayŭn vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh
Triệu Y T. Do đó, căn cứ Điều 203 và Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến
hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tại
phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán của Hi đồng xét xử,
Thư phiên tòa đương sự nguyên đơn đã thực hiện đúng đầy đủ theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với bị đơn quá
trình giải quyết vụ án, tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia
tại phiên tòa đều vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt không vi phạm
quy định tại các Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị H Y Ayŭn được ly hôn với anh Triệu Y T.
+ Về con chung: Giao cháu Triệu Th N Ayŭn , sinh ny 30-7-2017 cho chị H
Y Ayŭn trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18
tuổi và có khả năng lao động.
+ Về cấp dưỡng: Chị H Y Ayŭn không yêu cầu anh Triệu Y T phải cấp dưỡng
tiền nuôi con nên không đề cập để xem xét.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị H Y Ayŭn anh Triệu Y T xác định anh chị
không tài sản chung, không nợ chung nên không yêu cầu giải quyết vậy
không đề cập để xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các i liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền: Căn cứ vào đơn khởi kiện thì bị đơn anh Triệu Y T nơi
trú tại E, tỉnh Đắk Lắk (trước đây E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk) nên thuộc thẩm
4
quyền giải quyết của Tòa án nhân n khu vực 4 - Đắk Lắk theo quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của ch H Y Ayŭn thì xác
định quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định
tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự mặt của đương sự tại phiên a: Bđơn anh Triệu Y T vắng mặt,
đơn đnghị giải quyết vắng mặt. vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều
227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung khi kiện: Chị H Y Ayŭn làm đơn xin được ly hôn với anh Triu
Y T. Hội đồng t xử thy:
- Về quan hệ hôn nhân: Qua các i liệu chứng cứ do đương sự cung cấp kèm
theo đơn khởi kiện việc thu thập chứng cứ của Tòa án trong hthể hiện: Chị
H Y Ayŭn với anh Triệu Y T kết hôn trên sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu, tổ
chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương đăng kết hôn tại Ủy ban
nhân dân E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là E, tỉnh Đắk Lắk) theo giấy chứng
nhận kết hôn số 14. vậy, xác định hôn nhân giữa chị H Y Ayŭnanh Triu Y T
hôn nhân hợp pháp.
Về mâu thuẫn: Tại văn bản trình bày ý kiến do anh Triệu Y T cung cấp cho Tòa
án, anh thừa nhận trong q trình chung sống, thời gian đầu vchồng chung sống
hạnh phúc. Tuy nhiên đến đầu năm 2021 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn
do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Gia đình hai bên đã hòa giải
cho chúng tôi nhiều lần nhưng không thành. Hiện nay tôi đang chấp hành án tại: Ca 3,
Trại giam X, Khu sản xuất B, thôn L, xã S, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là H, huyện T,
tỉnh Phú Yên); Theo biên bản xác minh của Tòa án tại địa phương (BL 25) thể hiện
...Q trình sinh sống tại địa phương thì thấy vợ chồng anh chị hay xảy ra mâu thuẫn
cải vã nhau. Anh Triệu Y T không lo tu chí làm ăn mà theo bạn xấu hành vi
vi phạm pháp luật. Hiện nay anh Triệu Y T đang đi chấp hành án..”.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định vợ
chồng nghĩa vụ yêu thương chung thủy, n trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ
nhau, có nghĩa vụ chung sống với nhau.
Như vậy, căn cứ vào tình trạng hôn nhân thực tế giữa chị H Y Ayŭn với anh Triệu
Y T, xét mâu thuẫn giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H Y Ayŭn yêu cầu xin
được ly hôn đối với anh Triệu Y T căn cứ. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của
Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của
chị H Y Ayŭn, cho chị H Y Ayŭn được ly hôn với anh Triệu Y T.
- Về con chung: Quá trình chung sống, giữa anh chị với nhau 01 con chung
cháu Triệu Th N Ayŭn, sinh ngày 30-7-2017. Hiện cháu còn nhỏ, đang sống cùng
với chị H Y Ayŭn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình
năm 2014: 2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ
5
của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án
quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của
con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Qua lời khai của cháu Triệu Thị N Ayŭn cung cấp cho Tòa án thì cháu
nguyện vọng được với mẹ chị H Y Ayŭn. bản thân anh Triệu Y T cũng
nguyện vọng giao cháu Triệu Th N Ayŭn cho chị H Y Ayŭn trực tiếp trông nom,
chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
vậy, để đảm bảo quyền lợi của con chung chưa thành niên. Căn cứ vào Điều
81, Điều 82, Điều 83 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử
thấy: giao cháu Triệu Th N Ayŭn, sinh ngày 30-7-2017 cho chị H Y Ayŭn trực tiếp
trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng khi ly hôn là phù hợp.
Anh Triệu Y T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung
không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, anh Triệu Y T không được lạm dụng việc
thăm nom con chung đcản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
quyền lợi của con chung các đương sự quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi
con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H Y Ayŭn không yêu cầu anh Triệu Y T
phải cấp dưỡng tiền nuôi con nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. vậy, Hội
đồng xét xử không đề cập để xem xét.
- Về tài sản chung: Chị H Y Ayŭn anh Triệu Y T c định anh chị không
tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề
cập để xem xét.
- Về nợ chung: Chị H Y Ayŭn anh Triệu Y T xác định anh chị không có nợ
chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập để
xem xét.
[3] Về án phí: Chị H Y Ayŭn phải chịu án ply hôn thẩm theo quy định của
pháp luật. Tuy nhiên chH Y Ayŭn người dân tộc thiểu số (dân tộc Ê Đê), trú
vùng có điều kiện kinh tế - hội đặc biệt khó khăn thuộc xã Vụ B, tỉnh Đắk Lắk. Chị
đơn xin miễn án pnên thuộc trường hợp được miễn tiền án phí theo quy định tại
điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vì vậy, chị H Y Ayŭn không phải chịu án phí ly hôn
sơ thẩm.
[4] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 -
Đắk Lắk tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ trong hồ vụ án, đúng pháp luật
nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
6
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, khoản 1 Điều 227, Điều 266, Điều 271
Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84
của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H Y Ayŭn được ly hôn với anh Triệu Y T.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Triệu ThN Ayŭn, sinh ngày 30-7-2017 cho
chị H Y Ayŭn trực tiếp trông nom, chăm c, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu
tròn 18 tuổi và có khả năng lao động.
Anh Triệu Y T được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung
không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, anh Triệu Y T không được lạm dụng việc
thăm nom con chung đcản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
quyền lợi của con chung các đương sự quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi
con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
4. Về tài sản chung và về nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.
5. Về án phí: Chị H Y Ayŭn được miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn mặt tại phiên tòa được quyền kháng o
bản án trong thời hạn 15 ngày, ktừ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa
được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể tngày nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 4 - Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, V.P.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÂ
̉
M PHA
́
N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Phan Thị Dƣơng Thanh
Tải về
Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST Bản án số 25/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất