Bản án số 25/2025/HC-ST ngày 28/08/2025 của TAND tỉnh Quảng Ngãi

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 25/2025/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 25/2025/HC-ST ngày 28/08/2025 của TAND tỉnh Quảng Ngãi
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 25/2025/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/08/2025
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Đặng Ngọc C yêu cầu hủy giấy chứng nhận
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 25/2025/HC-ST
Ngày: 28 - 8 - 2025
V/v khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Diễn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Bá Lân
2. Ông Nguyễn Chí Tuyển.
- Thư phiên tòa: Ông Tống Thanh Hòa - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa:
Lê Thanh Loan - Kiểm sát viên.
Vào ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
mở phiên tòa xét xử thẩm công khai vụ án hành chính thụ số 63/2023/TLST-
HC ngày 28 tháng 9 năm 2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong
lĩnh vực quản đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
15/2024/QĐXXST-HC ngày 28/3/2024, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Đặng Ngọc C, sinh năm 1973. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường P, thị Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tổ dân
phố H, phường T, tỉnh Quảng Ngãi).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1958. Theo văn
bản ủy quyền ngày 09/10/2023. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường P, thị Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay Tổ dân
phố A, phường Đ, tỉnh Quảng Ngãi).
2. Người bị kiện: UBND thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
(Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch UBND phường T, tỉnh
Quảng Ngãi).
Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch UBND Phường. đơn đề nghị xét
xử vắng mặt.
Địa chỉ: phường T, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Ủy ban nhân dân phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi
(Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh
Quảng Ngãi).
Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch UBND phường. đơn đề nghị xét
xử vắng mặt.
Địa chỉ: Phường T, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông Đỗ Như H1, sinh năm 1965.
- Bà Trần Thị S, sinh năm 1967.
- Anh Đỗ Văn M, sinh năm: 1985.
- Anh Đỗ Tấn Q, sinh năm: 1990.
- Chị Đỗ Thị Bích D, sinh năm: 1993.
- Anh Đỗ Trí H2, sinh năm: 1999.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố H, phường P, TX Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Tổ dân
phố H, phường T, tỉnh Quảng Ngãi). (Ông H1 đơn xin vắng mặt; S, anh M,
anh Q, chị D, anh H2 vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, trong quá trình tham gia tố tụng
tại phiên tòa; người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Đặng Ngọc
C trình bày:
Gia đình ông Đặng Ngọc C người sử dụng đất tại thửa đất số 155, tờ bản
đồ s12, diện tích 321m
2
(đất LNC) thuộc bộ địa chính phường P từ trước năm
1976; đất do gia đình ông khai phá để trồng cây. Lúc đầu cha mông trồng cây
dương, về sau, do cây dương không đem lại hiệu quả kinh tế nên ông đã chuyển
sang trồng mỳ, khoai lang theo thời vụ; hiện nay trồng cây keo lai. Hiện nay, trên
đất vẫn còn nhiều cây dương 25 năm tuổi, đường kính trung bình khoảng 60cm.
Sau khi nhận tiếp quản thửa đất này từ cha mẹ ông, ông chỉ để lại một ít cây dương
lớn, phần còn lại ông trồng mới cây keo lai. Cây keo lai hiện nay đã trồng được 04
năm tuổi, mật độ 1m
2
/cây.
Qúa trình s dụng đất của gia đình ông suốt t năm 1976 đến nay không
ai tranh chp. Khi cha m ông giao đất cho ông, anh em trong nhà cũng không ai
tranh chp.
Ti các xác nhn ca các ông Nguyn Thanh L, Đặng Văn A, Đặng C1 (cùng
địa ch: TDP H, phường P, th xã Đ, Quảng Ngãi) đều xác nhn ni dung này.
Do đi làm ăn xa nên ông chưa kịp khai đ xin cấp GCNQSDĐ. Mới đây,
v chng ông Đỗ Như H1, Trn Th S phát hin Giy chng nhn quyn s
dụng đất do UBND huyện Đ cp ngày 31/12/2014 cho v chng ông, thửa đất được
cp giy ngay trên thửa đất của ông đang sử dng nên ông H1 biu hin mun
yêu cu ông giao thửa đất này cho ông. Đứng trước vic này, ngày 18/11/2022, ông
làm đơn yêu cầu đến UBND phường P để yêu cu xác minh, soát kim tra
3
làm vì sao đất ca ông li cp giấy CNQSDĐ cho ông H1, để ông thun tin
trong việc khai, đăng ký, đng thi gii quyết hành vi tranh chấp không căn
c này ca ông H1.
Ngày 11/6/2023, sau khi nghe tin ông H1, bà S có Giy chng nhn quyn s
dụng đất ti thửa đất 155, t bn đồ s 12 phường P, ông yêu cu Văn phòng
Đăng đất đai chi nhánh th Đ cung cp chng c thì ông được biết h cấp
GCNQSD đất thuc thửa đất 155, phường P không tìm thấy trong kho lưu trữ.
Do đó, để bo v cho ông, nay ông khi kin yêu cu Tòa án nhân dân tnh
Qung Ngãi gii quyết: Hy Giy chng nhn quyn s dụng đất đã cp cho ông
Đỗ Như H1 Trn Th S ngày 31/12/2014, s phát hành BT 786145, s vào s
cấp GCN: CH.01304 đối vi thửa đất s 155, t bản đồ s 12, P, din tích 321m
2
t LNC).
*Tại Văn bản số 682/UBND-TNMT ngày 14/3/2024, Người bị kiện UBND thị
xã Đ (cũ) trình bày:
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông Đỗ Như H1
Trần Thị S vào năm 2014 đối với thửa đất số 155, tbản đồ số 12, địa chỉ tại
thôn H, xã P (nay là tổ dân phố H, phường P)
Ngày 29/11/2013, ông Đỗ Như H1 Trần Thị S, thường trú tại thôn H,
P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay tổ dân phố H, phường P, thị Đ, tỉnh
Quảng Ngãi) đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận, quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 155; tờ bản đồ số 12; địa
chỉ tại: Rẫy Đ, V, thôn H, P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi; diện tích 321m
2
; sử
dụng riêng: 321m
2
; sử dụng vào mục đích: LNC; từ thời điểm: năm 1976; thời hạn
đề nghị được sdụng đất: 12/2063; nguồn gốc sử dụng: Khai hoang sử dụng ổn
định từ năm 1976 đến nay.
Ngày 13/12/2013, UBND P (nay UBND phường P) xác nhận về nội
dung kê khai về đất, tài sản so với hiện trạng: đúng với hiện trạng; nguồn gốc sử
dụng đất: Khai hoang và sử dụng ổn định từ năm 1976 đến nay; đến thời điểm bắt
đầu sử dụng đất vào mục đích hiện nay: năm 1976, tình trạng tranh chấp đất đai
tài sản gắn liền với đất: không tranh chấp; sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất,
quy hoạch xây dựng: phù hợp với quy hoạch.
Sau khi kiểm tra hồ sơ, đối chiếu hồ địa chính, ngày 26/6/2014, Văn
phòng đăng quyền sử dụng đất (nay Văn phòng Đăng đất đai tỉnh Q, Chi
nhánh thị Đ) xác nhận hồ sơ đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo Điều 14 Nghị định s84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ
được UBND huyện (nay UBND thị xã) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho ông Đỗ Như H1 Trần Thị S ngày 31/12/2014, số phát hành BT
786145, số vào sổ cấp GCN: CH.01304 tại thửa đất số 155, tờ bản đồ số 12, P,
diện tích 321m
2
, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm đúng trình tự, thủ tục
theo quy định Điều 14 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính
phủ (dẫn chiếu làm tại Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014
của Chính phủ UBND cấp huyện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi
Nghị định s43/2014/NĐ-CP đã hiệu lực pháp luật trong khi thời điểm UBND
4
P Văn phòng đăng quyền sử dụng đất xác nhận vào Đơn thì Nghị định số
43/2014/NĐ-CP chưa có hiệu lực).
Quan điểm của Ủy ban nhân dân thị Đ: Từ diễn biến trình bày như trên,
cho thấy việc người khởi kiện ông Đặng Ngọc C yêu cầu hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đỗ Như H1 Trần Thị S ngày 31/12/2014,
số phát hành BT 786145, số vào sổ cấp GCN: CH.01304 đối với thửa đất số 155, tờ
bản đồ số 12, P, diện tích 321m
2
(đất LNC) là không sở pháp để xem
xét giải quyết. Như vậy, đề nghị Tòa án bác yêu cầu của người khởi kiện.
*Tại Văn bản s 344/UBND ngày 29/12/2023, s 165/UBND ngày
02/6/2025; Người có quyn lợi nghĩa vụ liên quan UBND phường P (cũ) trình bày:
UBND phường P ý kiến và cung cp tài liu, chng c liên quan đến tha
đất 155, t bản đồ s 12 như sau:
Đối vi quyn s dụng đất là thửa đất 155, t bản đồ s 12, din tích 321 m
2
,
thuc b địa chính phường P, do UBND huyện Đ (nay th Đ) cp giy chng
nhận QSD đất cho ông Đỗ Như H1 Trn Th S ngày 31/12/2014. V ngun
gc, quá trình biến động ca thửa đất qua các thi kỳ, trên sở nào ông H1, S
đưc UBND huyện Đ (nay là th xã Đ) cp giy chng nhận QSD đất: Nguyên tha
đất này, theo h địa chính lp theo Ch th 299/TTg là tha 375, t bản đồ s 07,
din tích 1136 m
2
, do ông Nguyn M1 Th M2 đăng khai vào Sổ
mc lp theo Ch th 299/TTg (đất Nông dân th); H địa chính lập năm
2006 là tha 155, t bản đ s 12, din tích 321m
2
, s mc tên ch s dng,
qun UBND xã, loại đối tượng (UBS). Ngun gc s dng ghi trên Giy
chng nhận QSD đất: Công nhận QSD đất như giao đất không thu tin s dụng đất.
Năm 2013, thc hin Quyết định s 245/QĐ-UBND ngày 28/02/2012 ca
UBND tỉnh liên quan đến chn chnh vic cấp GCNQSD đất, xây dng d liệu đất
đai. UBND phường P t chc thc hin khai cấp GCNQSD đt cho nhân dân
trên địa bàn toàn xã. UBND đã thuê đơn v vn thc hiện hướng dn xác lp
h sơ, người dân t khai, h thực hiện đại trà, s ng nhiu nên UBND xã
không đi kiểm tra thực địa mà ch xét thông qua Hội đồng vấn trình cp thm
quyn cấp GCNQSD đt ti thời điểm được cp giy chng nhn QSD đất, ông
H1, bà S không s dng thửa đất này.
Trước khi ông Đặng Ngc C phát sinh đơn khởi kin thì ông H1 không phát
sinh đơn yêu cầu gii quyết tranh chp gửi đến UBND phường.
Đối vi h ông Đặng Ngc C, liên quan đến quá trình thc hin Ngh định
64/CP ca Chính ph ti phường P thì h ông C không được chia đất theo Ngh
định 64/CP.
V hin trng s dụng đt, hin nay ông Đặng Ngc C người đang sử dng
đất và s dụng đất t sau năm 2000, trên đất gồm cây lâu năm (cây K).
*Tại văn bản s 341/VPĐKĐ ngày 05/3/2024, Người quyn lợi nghĩa vụ
liên quan Văn phòng Đăng đất đai tnh Q chi nhánh th Đ (nay Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Chi nhánh khu vc VII) trình bày:
V h Cấp giy chng nhận QSD đất năm 2013: Ngày 29/11/2013, ông
Đỗ Như H1 Trn Th S Đơn đề ngh cp giy chng nhận QSD đất ti
tha 155, t bản đồ s 12, P (nay là phường P), din tích 321m
2
t LNC).
Ngày 31/12/2014, UBND huyện Đ (nay UBND th Đ) cấp GCNQSD đt cho
5
ông Đỗ Như H1 và Trn Th S, s phát hành BT. 786145, s vào s CH 01304,
ti thửa đất s 155, t bản đồ s 12, din tích 321m
2
LNC.
Về hồ cấp giấy chứng nhận QSD đất của ông ĐNhư H1 Trần Thị S
là đảm bảo theo quy định tại Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 25/5/2007 và theo xác nhận của UBND xã P về nguồn gốc sử dụng đất.
*Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Như H1, Trần Thị S, ông
Đỗ Văn M, ông Đỗ Tấn Q, bà Đỗ Thị Bích D, ông Đỗ Trí H2 trình bày:
Trước đây vợ chồng ông thửa đất diện tích 800m
2
, Nhà nước cấp thêm
cho gia đình ông một thửa đất nữa là thửa đất 155, tờ bản đồ số 12, phường P ông C
khởi kiện bây giờ.
Nguồn gốc thửa đất 155, tờ bản đồ số 12, địa chỉ Rẩy Đá, vùng E, tổ dân phố
H, phường P, thị Đ, tỉnh Quảng Ngãi ông được Nhà nước cấp, cấp theo diện
đại trà, lấy của người nhiều đất chia cho người ít đất. Vợ chồng ông được Nhà nước
cấp cho thửa đất này, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2013
là do cán bộ xã P thực hiện, ông Đỗ Như H1 chỉ là người ký và đến ngày
31/12/2014 vợ chồng ông đã được UBND thị Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
Thửa đất 155, tờ bản đồ số 12, phường P từ trước đến nay vợ chồng ông
không sử dụng, cũng không đăng khai theo quy định, chỉ đến năm 2013 thực
hiện chủ trương chung của Nhà nước thì mới lập thủ tục khai được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc sử dụng đất theo vợ chồng ông biết ông
Đặng Ngọc C sử dụng từ hồi giờ, hiện nay ông C trồng keo lai, dương liễu. Ông C
sử dụng, ông C yêu cầu ông trả lại thì đất này thì ông đồng ý nhưng phải cung cấp
tài liệu chứng minh thì ông không đưa ra.
Theo tài liệu mà đơn đề nghị cấp GCNQSD đất ngày 29/11/2013 của
ông, còn chữ trong tài liệu biên bản kiểm tra vị trí đất, loại đường phố, tờ khai
mốc thời gian sử dụng đất cùng đề ngày 29/11/2013 không phải chữ ký của ông, tài
liệu này ông không biết, nay mới thấy.
Về tranh chấp đất đai của thửa đất 155, tờ bản đồ số 12, phường P trước đến
nay ông cũng n thành viên trong gia đình ông không gửi đơn đến UBND
phường P, Tòa án có thẩm quyền hay cơ quan nào khác. Đến bây giờ ông mới nhận
được nội dung ông C kiện hủy Giấy chứng nhận này của vợ chồng ông.
Ông chỉ yêu cầu, nếu ông C cung cấp được tài liệu gì chứng minh thửa
đất này là của cha ông, của ông thì vợ chồng ông sẵn sàng giao lại cho ông.
*Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của Người bị kiện UBND thị xã Đ và người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND phường P UBND phường T không ý
kiến trình bày mặc dù đã được Tòa án thông báo kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
trong vụ án.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa những người
tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
6
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật
Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Ngọc C. Về án phí,
xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] V t tng
[1.1] V s vng mt của các đương sự ti phiên tòa
Tại phiên tòa, người đại din theo pháp lut của người kế tha quyền nghĩa
v t tng của người b kin UBND th xã Đ, người có quyn lợi nghĩa vụ liên quan
UBND phường Ph Quang Ch tch UBND phường T, tnh Qung Ngãi; nhng
ngưi quyn li nghĩa vụ liên quan gồm: Văn phòng đăng đất đai tỉnh - Chi
nhánh th Đ, ông Đỗ Như H1 vng mặt và đơn đ ngh xét x vng mt;
Trn Th S, ông Đỗ Văn M, ông Đỗ Tn Q, Đỗ Th Bích D, ông Đỗ Trí H2 vng
mt ln th hai không do. Căn c Điều 157, Điu 158 Lut T tng hành
chính, Hội đồng xét x tiến hành xét x v án vng mặt các đương sự trên.
[1.2] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết
Tại đơn khởi kiện ngày 15/5/2023, các đơn khởi kiện bổ sung, sửa đổi tại
phiên tòa, ông Đặng Ngọc C và đại diện theo y quyền của ông Đặng Ngọc C yêu
cầu Tòa án giải quyết: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đỗ
Như H1 và bà Trần Thị S ngày 31/12/2014, số phát hành BT 786145, số vào sổ cấp
GCN: CH.01304 đối với thửa đất số 155, tờ bản đồ số 12, xã P, diện tích 321m
2
(đất LNC).
Xét thấy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đối tượng khởi kiện
vụ án hành chính, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Ngãi quy định tại khoản 2 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; khoản 1 Điều
115 Luật Tố tụng hành chính.
[1.3] Về thời hiệu khởi kiện:
Theo lời trình bày tài liệu trong hồ thể hiện, ngày 14/11/2022 UBND
phường P mời ông Đỗ Như H1 ông Đặng Ngọc C đến trụ sở UBND phường để
hòa giải tranh chấp đất đai liên quan đến thửa đất 155; ngày 18/11/2022, ông C
ông H1 mặt nhưng không thống nhất được nội dung hòa giải; tại buổi hòa giải
ông Đặng Ngọc C mới biết được UBND thị Đ cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất tại thửa đất số 155, tờ bản đồ số 12, diện tích 321m
2
, phường P (nay
phường T, tỉnh Quảng Ngãi) cho ông Đỗ Như H1, Trần ThS. Ngoài lời trình
bày của ông C, tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, căn cứ thể hiện ông C
biết việc UBND thị Đ cấp giấy chứng quyền sử dụng đất tại thửa đất nêu trên
cho vợ chồng ông H1 vào 18/11/2022.
Do đó, ngày 15/5/2023 ông Đặng Ngọc C phát sinh yêu cầu khởi kiện yêu cầu
hủy Giấy chứng nhận quyền sdụng đất thửa đất số 155, tờ bản đsố 12, diện tích
7
321m
2
, phường P (nay phường T, tỉnh Quảng Ngãi) do UBND thị Đ cho ông
Đỗ Như H1, bà Trần Thị S, thì thời hiệu khởi kiện vụ án vẫn còn theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đỗ
Như H1 và bà Trần Thị S ngày 31/12/2014, số phát hành BT 786145, số vào sổ cấp
GCN: CH.01304 đối với thửa đất số 155, tbản đồ số 12, P, diện tích 321m
2
(đất LNC); Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Nguyên thửa đất 155, tbản đồ số 12, diện tích 321m
2
thuộc địa chính
phường P theo hồ lập theo Chỉ thị 299/TTg thửa đất 375, tờ bản đồ số 7, diện
tích 1136m
2
do ông Nguyễn M1, bà Lê Thị M2 đăng ký kê khai trong hồ sơ sổ mục
lập theo Chỉ thị 299/TTg (đất nông dân thể); thực hiện bản đđa dạng hóa
nông thôn năm 2006, thửa đất 155, tờ bản đồ số 12, diện tích 321m
2
sổ mục quy
chủ là UBND xã quản lý, loại đối tượng là UBS.
Ngày 29/11/2013, ông Đỗ Như H1 đơn đề nghị cấp GCNQSD đất, quyền
sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất gửi UBND thị Đ xin cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 155, tờ bản đồ số 12, diện tích 321m
2
,
loại đất LNC; nguồn gốc sử dụng đất: Khai hoang và sdụng ổn định từ năm 1976
đến nay.
Ngày 13/12/2013, UBND P xác nhận: Nguồn gốc đất khai hoang sử
dụng ổn định từ năm 1976 đến nay, không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch, đủ
điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 14 Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007
Ngày 31/12/2014, UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho ông Đỗ Như H1, Trần Thị S đối với thửa đất số 155, tbản đồ số 12, P,
diện tích 321m
2
.
[2.2] Nhận thấy, ngày 13/12/2013, UBND P (nay UBND phường T, tỉnh
Quảng Ngãi) đã xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp,
sự phù hợp với quy hoạch vào đơn ngày 29/11/2013 của ông Đỗ Như H1. UBND
P đã phối hợp với ông Đỗ Như H1 lập biên bản kiểm tra vtrí đất, loại đường
phố (khu vực) vào ngày 29/11/2013 và cùng ngày, UBND xã P lập Phiếu lấy ý kiến
của khu dân cư về nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng, tình trạng tranh chấp.
Tuy nhiên, theo ý kiến cũng như tài liệu tại hồ thể hiện, UBND phường P
trước kia P xác nhận: Khi UBND tỉnh Q triển khai thực hiện Quyết định số
245/QĐ-UBND ngày 28/02/2012 trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó P về kế
hoạch thực hiện Chỉ thị số 1474/CT-TTg ngày 24/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về một số nhiệm vụ giải pháp, cấp bách để chấn chỉnh việc cấp GCNQSD đất,
quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thì
UBND P đã tổ chức thực hiện đăng khai cấp GCNQSD đất cho nhân dân
trên địa bàn xã, UBND xã đã thuê đơn vị tư vấn thực hiện hướng dẫn xác lập hồ sơ,
người dân tự khai nguồn gốc, hồ được thực hiện đại trà, do số lượng nhiều
nên không đi kiểm tra thực địa, vị trí thửa đất cấp, trong đó thửa đất 155, tờ bản
đồ số 12, P xét đề nghị cấp dựa trên Hội đồng vấn xét cấp GCNQSD đất,
thời điểm xét cấp GCNQSD đất thì vợ chồng ông Đỗ Như H1 cũng không sử dụng
8
thực tế trên thửa đất mà người sử dụng là ông Đặng Ngọc C. Nội dung kê khai, quá
trình sử dụng thửa đất UBND phường P xác nhận là phù hợp với nội dung trình
bày của ông Đỗ Như H1 trong quá trình tham gia tố tụng tại vụ án, phợp với tài
liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.
[2.3] Mặt khác, ông Đỗ Như H1 cũng như vợ ông H1 cũng thừa nhận vợ
chồng ông không sử dụng thửa đất này từ trước đến nay, khi Nhà nước thực hiện
cấp GCNQSD đất trên địa bàn ông cũng tham gia khai để được cấp GCNQSD
đất nhưng không phải kê khai thửa đất 155 mà là thửa đất khác, chữ ký tại biên bản
ngày 29/11/2013 cũng không phải do ông viết ký ra. Đồng thời, đối chiếu lời
trình bày của ông Đỗ Như H1, các ý kiến của UBND.phường Phổ Quang cùng các
lời khai của các ông biết việc cũng như những người chứng kiến tại Phiếu lấy ý
kiến khu dân thể hiện, thửa đất 155 nêu trên ông Đỗ Như H1 không phải
người khai hoang, sdụng đất từ năm 1976 đến nay; bản thân ông H1 cũng thừa
nhận từ trước đến nay ông không phải người sử dụng thửa đất, ông H1 cũng
không tranh chấp về vật kiến trúc trên đất đối với ông Đặng Ngọc C.
[2.4] Căn cứ vào biên bản kiểm tra vị tđất ngày 29/11/2013 (bút lục 107),
nội dung kê khai và xác nhận của UBND xã P vào ngày 13/12/2013 trong đơn đăng
của ông H1, thể hiện UBND P vào năm 2013 đã không tiến hành kiểm tra
thực địa thửa đất, xác nhận không đúng vnguồn gốc sdụng đất, không đúng đối
tượng đề nghị cấp GCNQSD đất; Do đó, UBND P đề nghị UBND huyện Đ,
UBND huyện Đ vào ngày 31/12/2014 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông Đỗ Như H1 Trần Thị S tại thửa đất số 155, tờ bản đồ số 12, P, diện
tích 321m
2
(đất LNC) không đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại
Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định về
thi hành Luật Đất đai năm 2003; Điều 14 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày
19/10/2009 của Chính phủ; Khoản 1 Điều 99, Điều 101 Luật Đất đai 2013, Điều 70
Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
[3] Từ những căn cứ nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc ông
Đặng Ngọc C khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thửa đất số 155, tờ bản đsố 12, diện tích 321m
2
, phường P (nay phường T) do
UBND thị xã Đ cho ông Đỗ Như H1, bà Trần Thị S là có căn cứ chấp nhận.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa
là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, đúng quy định của pháp luật
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên ông Đặng Ngọc C
không phải chịu án phí hành chính thẩm. UBND thị Đ (người kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng Chủ tịch UBND phường T, tỉnh Quảng Ngãi) phải chịu
300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 59, khoản 1 Điều 115,
khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 204,
Điều 206, Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; Điều 48 Luật Đất đai năm 2003;
9
Khoản 1 Điều 99, Điều 101 Luật Đất đai 2013; Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-
CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định về thi hành Luật Đất đai năm 2003;
Điều 14 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất; Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014
của Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Ngọc C: Hủy giấy chứng nhận
quyền sdụng đất số vào sổ cấp GCN: CH01304 do UBND huyện Đ cấp cho
ông Đỗ Như H1, Trần Thị S ngày 31/12/2014 đối với thửa đất số 155, tờ bản đồ
số 12, P (nay là phường T, tỉnh Quảng Ngãi), diện tích 321m
2
, loại đất trồng cây
lâu năm.
2. Về án phí: Hoàn trả lại cho ông Đặng Ngọc C số tiền 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) tiền án án phí hành chính thẩm ông đã nộp theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006881 ngày 15/9/2023 của Cục Thi hành án dân
sự tỉnh Quảng Ngãi (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi).
Ủy ban nhân dân thị Đ (người kế thừa quyền nghĩa vụ ttụng Chủ
tịch UBND phường T, tỉnh Quảng Ngãi) phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) tiền án án phí hành chính sơ thẩm.
3. Các đương sự mặt tại phiên a được quyền kháng cáo bản án thẩm
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể tngày nhận được bản án hoặc
bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- THADS tỉnh Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Công Diễn
10
11
Tải về
Bản án số 25/2025/HC-ST Bản án số 25/2025/HC-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 25/2025/HC-ST Bản án số 25/2025/HC-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất