Bản án số 09/2026/HC-PT ngày 19/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 09/2026/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 09/2026/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 09/2026/HC-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 09/2026/HC-PT ngày 19/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 09/2026/HC-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 09/2026/HCPT
Ngày: 19/5/2026
“V/v Khiếu kiện quyết định hành chính
về việc thu hồi, bồi thường, hỗ trợ khi
nhà nước thu hồi đất đai ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Ngọc Minh.
- Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Âu, ông Trần Minh Quang.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Khổng Thị Hoa – Thư ký Toà án nhân
dân tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị
Ngọc Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 19/5/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở phiên toà xét xử công
khai vụ án hành chính thụ lý số: 02/2026/HCPT ngày 18/3/2026 về việc “Kiện quyết
định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Do bản án hành chính sơ thẩm số:
01/2026/HCST ngày 04/02/2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk bị kháng
cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2026/QĐ-PT ngày 20/4/2026, giữa:
- Người khởi kiện: Ông Ninh Văn H. Địa chỉ: Tổ dân phố G T, phường B, tỉnh Đắk
Lắk – Vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân B, sinh năm 1967. Địa chỉ: Tổ dân phố
E, phường T, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
Ông Hoàng Ngọc T, sinh năm 1948. Địa chỉ: A T, phường T, tỉnh Đắk Lắk – Có
mặt.
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B.
Địa chỉ: A L, phường B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chi nhánh Trung tâm P1 (Nay là ban Q).
Địa chỉ: Số A N, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Số H Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
+ Bà Trần Thị H1. Địa chỉ: Tổ dân phố G T, phường B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân B – Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường T, tỉnh Đắk Lắk.

2
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan trình bày:
Ông Ninh Văn H khởi kiện những nội dung như sau: Đề nghị tuyên hủy một phần
Quyết định số: 658/QĐ-UBND ngày 03/9/2025 của UBND phường B, tỉnh Đắk Lắk về
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án đường T có nội dung phê duyệt:
Diện tích đất đang sử dụng: 250,4m
2
; Diện tích thu hồi: 189,4m
2
; Diện tích đủ điều kiện
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo pháp luật 250,4m
2
; Giá trị bồi thường diện
tích thu hồi (không đồng).
Về nguồn gốc sử dụng đất: Năm 1989 được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ giao cho
ông Ninh văn H 01 lô đất theo Giấy cho quyền sử dụng đất số 177/SDĐ ngày
26/10/1989 của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đ có nội dung: Diện tích cho sử dụng là 300m
2
;
Vị trí đất cho: Khu vực doanh trại: Sân bay L19; Toạ độ: Lô B, phường :, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk) nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk; Có tứ cận: Đông: Giáp đất ông P; Tây:
Giáp: Đất ông Lương T1; Nam: Giáp Sân bay L19; Bắc: Giáp đất ông G bà T2 ông K.
Năm 1990 gia đình ông H làm một căn nhà khoảng 28m
2
, và năm 1995 dựng tạm
hơn 100m2 nhà bằng khung sắt có mái lợp bằng tôn thiếc. Diện tích đất còn lại trừ làm
sân và xung quanh anh em hàng xóm chung nhau mở đường. Toàn bộ diện tích khoảng
250m2 có hàng rào và tường xây xung quanh có cổng sắt để sử dụng vào mục đích sinh
hoạt và dịch vụ rửa xe và duy trì sử dụng từ năm 1990 cho đến nay không có ai tranh
chấp, không xử phạt vi phạm hành chính về đất đai. Năm 2005 UBND thành phố B có
chủ trương mở đường Tôn Đức T3, khi đó đo đạc có trích lục bản đồ và có biên bản xác
định ranh giới của người sử dụng đất và đều ký giáp ranh với diện tích sau khi các hộ
ông đã tự mở đường ra còn lại 250,4m
2
và các hộ xung quanh đều ký giáp ranh. Từ
nguồn gốc sử dụng đất nêu trên và Ủy ban nhân dân phường B ban hành Quyết định số:
658/QĐ-UBND ngày 03/9/2025 về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự
án đường T (đoạn từ đường N đến đường T và từ đường P đến đường L, thành phố B
(nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) không đảm bảo thiệt thòi về quyền lợi cho gia đình
ông Ninh Văn H.
Về thủ tục thu hồi đất: Thông báo thu hồi đất 989/TB-UBND ngày 5/9/2024;
Quyết định phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2025 số: 1225/QĐUBND ngày 05/6/
2025 của Ủy ban nhân dân thành phố B (nay là Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Đắk
Lắk); Quyết định phê duyệt số: 658/QĐ-UBND ngày 03/9/2025 về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất nói trên của Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ pháp luật khởi kiện yêu cầu Toà án áp dụng:
- Về bồi thường bằng đất ở theo điểm a khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 2 Điều
141 Luật Đất đai năm 2024; khoản 1 Điều 11 Nghị định 88/2024/NĐ-CP ngày
30/7/2024 của Chính phủ về bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở có nội dung
điều chỉnh "Hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức
kinh tế đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt
Nam khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại khoản

3
1 và khoản 2 Điều 95 của Luật Đất đai hoặc Điều 5 của Nghị định này thì được bồi
thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng tiền hoặc bằng đất có mục đích sử dụng
khác với loại đất thu hồi".
- Về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở không yêu cầu tái định cư theo căn cứ
khoản 2 Điều 91, khoản 4 Điều 111 Luật đất đai 2024, khoản 1 Điều 19 Quyết định
36/2024 UBND tỉnh Đ Hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở.
- Về bồi thường tài sản và vật kiến trúc căn cứ khoản 4 Điều 94; điểm a khoản 2
Điểu 95, khoản 2 Điều 91; Điều 102; khoản 4 Điều 11, điểm a khoản 2 Điều 141 Luật
Đất đai năm 2024; khoản 1 Điều 11 Nghị định 88/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của
Chính phủ; khoản 1 Điều 16; khoản 1 Điều 19 Quyết định 36/2024 UBND tỉnh Đ về
bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.
Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ninh Văn H về việc:
- Huỷ một phần Quyết định phê duyệt số: 658/QĐ-UBND ngày 03/9/2025 về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án đường T đoạn từ đường N đến đường
T và từ đường P đến đường L), thành phố B (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk).
- Buộc Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Đắk Lắk phê duyệt bồi thường hỗ trợ
các khoản sau:
+ Bồi thường 189,4m2 đất ở (bồi thường bằng tiền);
+ Bồi thường tài sản, vật kiến trúc gắn liền trên đất gồm: Nhà 27,51m2, sân xi
măng 6,51m2, cổng sắt 43,2m2, mái che 120,92m2 theo quy định của pháp luật;
+ Về hỗ trợ cơ chế thưởng cho người có đất bàn giao mặt bằng sớm;
+ Về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở không yêu cầu tái định cư.
- Đại diện theo ủy quyền của Ban Q trình bày:
Về quy định bồi thường:
Căn cứ Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Luật số 43/2024/QH15 ngày 29/06/2024 của Quốc Hội “Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của luật đất đai số 31/2024/QH15, luật nhà ở số 27/2023/QH15, luật
kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15 và luật các tổ chức tín dụng số
32/2024/QH15
Căn cứ Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ quy định
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Căn cứ Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2005 của Chính phủ quy định
về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp
trong lĩnh vực đất đai;

4
Căn cứ Quyết định số 36/2024/QĐ-UBDN ngày 8/10/2024 của UBND tỉnh Đ
ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa
bàn tỉnh Đắk Lắk;
Căn cứ Nghị quyết số 08/NQ-HĐND ngày 19/3/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh
Đ quyết định chủ trương đầu tư các Dự án trên địa bàn tỉnh;
Căn cứ Quyết định số 3852/QĐ-UBND ngày 31/12/2021 của UBND tỉnh Đ về
việc phê duyệt Dự án Đường T (đoạn từ đường N đến đường T và đoạn từ đường P đến
đường L), thành phố B;
Căn cứ Quyết định số 1552/QĐ-UBND ngày 25/5/2024 của UBND tỉnh Đ về
việc phê duyệt điều chỉnh một số nội dung tại Quyết định số 3852/QĐ-UBND ngày
31/12/2021 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Dự án Đường T (đoạn từ đường N đến
đường T và đoạn từ đường P đến đường L), thành phố B;
Căn cứ Kế hoạch số 186/KH-UBND ngày 06/9/2024 của UBND thành phố B về
điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, giải phóng
mặt bằng để thực hiện dự án: Đường T (đoạn từ đường N đến đường T và đoạn từ đường
P đến đường L), thành phố B;
Căn cứ Thông báo 989/TB-UBND, ngày 05/9/2024 của UBND Thành phố B
“V/v thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án: Đường T (đoạn từ Nguyễn Đình C đến
đường T và đoạn từ đường P đến đường L, thành phố B)”
Đối với đơn khởi kiện của ông Ninh Văn H:
- Bồi thường về đất:
Về nguồn gốc sử dụng đất: Căn cứ Biên bản làm việc ngày 09/5/2025 của UBND
phường T (cũ) xác minh như sau: Căn cứ kết luận số 153/KL-UBND ngày 9/11/2009
của Chủ tịch UBND thành phố B về việc thanh tra nguồn gốc đất tại khu dân cư L,
đường T và đất liền kề liên quan thuộc đường L, phường T, thành phố B. Theo giấy cho
sử dụng đất số 177/SDĐ, ngày 26/10/1989 do Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ cấp cho ông
Ninh Văn H là 300m
2
đất; đóng dấu của BCHQS tỉnh Đ (mẫu dấu mới được sử dụng từ
thời điểm quý III năm 1997). Qua rà soát hồ sơ do Thanh tra Quốc phòng - Bộ chỉ huy
quân sự tỉnh Đ cung cấp thì không có tên ông Ninh Văn H được cấp đất tại phường T.
Như vậy giấy cho sử dụng đất số 177/SDĐ, ngày 26/10/1989 là giấy không hợp pháp.
Nên phần đất ông H đang sử dụng thuộc thửa đất số 16C, tờ bản đồ 83 (nay là thửa đất
số 25, tờ BĐ 83) được xác định là đất lấn chiếm của Nhà nước.
Trích lục bản đồ địa chính số 8082/TL-CNBMT, ngày 09/7/2024 của Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B tại thửa đất số 25, thuộc tờ bản đồ số 83 với
tổng diện tích là 250,4m
2
.
Diện tích thu hồi: 189,4m
2
đất lấn chiếm của Nhà nước không được công nhận
quyền sử dụng đất (Căn cứ biên bản xác minh ngày 09/5/2025 của UBND phường T).
(Căn cứ Điều 101 Luật Đất đai 2024 quy định trường hợp không được bồi thường về
đất “…Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền

5
sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại
khoản 3 Điều 96 của Luật này”. Do đó diện tích thu hồi: 189,4m
2
đất của ông Ninh Văn
H không đủ điều kiện được bồi thường về đất).
- Về tài sản trên đất: Tài sản thu hồi của ông Ninh Văn H xây dựng trên đất lấn
chiếm nên không đủ điều kiện để được bồi thường theo quy định tại Điều 105 Luật Đất
đai 2024.
- Chính sách hỗ trợ cơ chế thưởng đối với người có đất thu hồi bàn giao mặt bằng
trước thời hạn: Hiện tại hộ ông Ninh Văn H chưa bàn giao mặt bằng nên không có cơ
sở để hỗ trợ cơ chế thưởng đối với người có đất thu hồi bàn giao mặt bằng trước thời
hạn theo quy định tại Điều 16 Quyết định số 36/2024/QĐ-UBND ngày 08/10/2024 của
UBND tỉnh Đ.
- Về bồi thường đất ở bằng việc giao đất tái định cư: Diện tích thu hồi 189,4m
2
đất của ông Ninh Văn H thuộc đất lấn chiếm không được công nhận quyền sử dụng đất
nên không đủ điều kiện bồi thường đất ở bằng việc giao đất tái định cư (Mặt khác hiện
nay ông Ninh Văn H có 02 thửa đất ở tại phường T (nay là phường B) ngoài vị trí thu
hồi đất) theo công văn số 59/CNBMT-TTLT, ngày 09/01/2025 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố B.
Như vậy, việc Ủy ban nhân dân phường B ban hành Quyết định số 658/QĐ-
UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hồ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi
để thực hiện công trình đường T (đoạn từ đường N đến đường T và đoạn từ đường P
đến đường L), thành phố B (đợt 2) là đúng quy định pháp luật.
Từ những nội dung trên, việc ông Ninh Văn H khởi kiện yêu cầu hủy một phần
Quyết định số 658/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hồ trợ tái định
cư khi nhà nước thu hồi để thực hiện công trình đường T (đoạn từ đường N đến đường
T và đoạn từ đường P đến đường L), thành phố B (đợt 2) và đề nghị UBND phường B
bồi thường, hỗ trợ theo nội dung đơn khởi kiện là không có cơ sở. Đề nghị Tòa án nhân
dân khu vực 1 - Đắk Lắk xem xét không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Ninh Văn H.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số: 01/2026/HCST ngày 04/02/2026 của Toà
án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ Điều 30, khoản 1 Điều 31, Điều 38, Điều 116, Điều 146, Điều 191, Điều
193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ khoản 4 Điều 101, khoản 2 Điều 105, khoản 1 Điều 137 Luật Đất đai năm
2024.
Căn cứ Nghị định 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về
phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong
lĩnh vực đất đai;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:

6
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Ninh Văn H về việc: Yêu cầu hủy một phần
quyết số 658/QĐ-UBND ngày 03 tháng 9 năm 2025 về việc Phê duyệt phương án bồi
thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện công trình đường T (đoạn từ
Nguyễn Đình C đến đường T và đoạn từ đường P đến đường L) thành phố B (đợt 2) của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu
thi hành án, nghĩa vụ thi hành án cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/02/2026, người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện ông Hoàng
Ngọc T có đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm,
đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
và giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk có quan điểm như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm
và phúc thẩm cũng như các đương sự đã tuân thủ đầy đủ và thực hiện đúng với quy định
của pháp luật về tố tụng hành chính.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người đại
diện đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào
kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến
của Kiểm sát viên, của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1] Về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính số 658/QĐ-UBND ngày
03/9/2025
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 87 Luật Đất đai năm 2024 quy định Ủy ban nhân
dân cấp có thẩm quyền thu hồi đất quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư. Tuy nhiên, tại điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày
12/6/2025 của Chính phủ đã quy định chuyển giao thẩm quyền này từ Ủy ban nhân dân
cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
Xét tại thời điểm ban hành Quyết định số 658/QĐ-UBND ngày 03/9/2025, quy định về
phân cấp nêu trên đang có hiệu lực thi hành. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường
B ban hành quyết định nêu trên là đúng thẩm quyền.
[2]. Về nội dung:
Xét nội dung kháng cáo của ông Ninh Văn H cho rằng diện tích đất bị thu hồi có
nguồn gốc do Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đ giao theo Giấy cho quyền sử dụng đất số
177/SDĐ ngày 26/10/1989 nên đủ điều kiện được bồi thường về đất, tài sản gắn liền
với đất và được bố trí tái định cư, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Ngày 16/9/2024, Trung tâm phát triển quỹ đất tiến hành lập biên bản kiểm kê đất
đai, nhà, tài sản, vật kiến trúc và cây cối hoa màu khi nhà nước thu hồi đất đối với hộ

7
ông Ninh Văn H. Đến ngày 03/9/2025, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Quyết
định số 658/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước
thu hồi đất để thực hiện công trình đường T, xác định số trường hợp bị ảnh hưởng là 15
hộ gia đình, cá nhân trong đó hộ ông Ninh Văn H xác định là không được bồi thường
do được xác định là đất lấn chiếm của nhà nước, diện tích thu hồi là 189,4m
2
.
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Theo lời trình bảy của người khởi kiện
ông Ninh Văn H được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ giao 01 lô đất với diện tích 300m
2
theo Giấy cho quyền sử dụng đất số 177/SDĐ ngày 26/10/1989. Vị trí đất cho: Khu vực
doanh trại: Sân bay L19. Tọa độ: Lô B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, nay là
phường B, tỉnh Đắk Lắk. Có tứ cận: Đông giáp đất ông P; Tây giáp đất ông Lương T1;
Nam: Giáp sân bay L19; Bắc: Giáp ông G, bà T2, ông K. Năm 1990, gia đình ông H
xây 01 căn nhà khoảng 28m
2
. Năm 1995, dựng tạm hơn 100m
2
nhà bằng khung sắt có
mái lợp bằng tôn thiếc. Phần diện tích 250,4m
2
có hàng rào và xây tường xung quanh
có cổng sắt để sử dụng vào mục đích sinh hoạt và dịch vụ rửa xe. Gia đình ông H sử
dụng thửa đất ổn định từ thời điểm giao đất đến nay và không bị xử phạt hành chính về
đất đai.
Theo Quyết định số 353/QĐ-UB ngày 17/6/1985 của UBND tỉnh Đ về việc quản
lý, sử dụng khu vực sân bay L19 cũ thì toàn bộ khu vực sân bay L cũ có diện tích 53 ha
thuộc quy hoạch do UBND tỉnh quản lý; ngoài UBND tỉnh, không một cơ quan nào
được cấp giấy phép sử dụng đất trong khu vực này và những giấy tờ cấp đất do bất kỳ
cơ quan nào ban hành đều không có giá trị. Như vậy, tại thời điểm Bộ Chỉ huy quân sự
tỉnh Đ lập Giấy cho quyền sử dụng đất số 177/SDĐ ngày 26/10/1989 cho ông Ninh Văn
H thì cơ quan này không có thẩm quyền giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đối
với diện tích đất thuộc khu vực sân bay L19 cũ.
Mặt khác, theo quy định của pháp luật đất đai có hiệu lực tại thời điểm giao đất,
thẩm quyền giao đất thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh
Đ không được giao thẩm quyền giao đất cho cá nhân làm nhà ở hoặc sử dụng vào mục
đích dân sự. Do đó, việc giao đất cho ông Ninh Văn H theo Giấy cho quyền sử dụng đất
số 177/SDĐ ngày 26/10/1989 là trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền, không
làm phát sinh quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang tranh chấp.
Ngoài ra, theo Kết luận số 153 ngày 09/11/2009 của Chủ tịch UBND thành phố
B, Giấy cho quyền sử dụng đất số 177/SDĐ ngày 26/10/1989 được xác định là giấy tờ
không hợp pháp; hồ sơ do Thanh tra Quốc phòng - Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đ cung cấp
cũng không thể hiện ông Ninh Văn H có tên trong danh sách các trường hợp được giao
đất tại khu vực này. Quá trình giải quyết vụ án, ngoài một số biên lai nộp thuế nhà đất
từ năm 2000 đến năm 2004, ông H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ hợp pháp
khác chứng minh việc sử dụng đất ổn định, liên tục từ năm 1990 như trình bày.
Bên cạnh đó, theo Quyết định số 542/QĐ-UBND ngày 15/7/1994 của UBND tỉnh
Đ, diện tích đất nêu trên đã thuộc phạm vi quy hoạch tuyến đường giao thông. Vì vậy,
diện tích đất ông H đang sử dụng không đủ điều kiện để được Nhà nước công nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Từ những căn cứ nêu trên, có cơ sở xác định diện tích 189,4m² đất bị thu hồi
không thuộc trường hợp được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, không đủ điều

8
kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất. Do không có quyền sử dụng đất
hợp pháp đối với diện tích đất bị thu hồi nên yêu cầu được bồi thường về đất, được giao
đất tái định cư của ông Ninh Văn H là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu bồi thường tài sản gắn liền với đất, Hội đồng xét xử xét thấy việc
tạo lập, sử dụng nhà ở, công trình trên phần đất không đủ điều kiện được công nhận
quyền sử dụng đất không làm phát sinh quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất. Cơ quan có thẩm quyền xác định ông Ninh Văn H không thuộc trường hợp được
bồi thường về tài sản gắn liền với đất là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu được hưởng cơ chế thưởng do bàn giao mặt bằng trước thời hạn,
tài liệu trong hồ sơ thể hiện đến thời điểm giải quyết vụ án ông Ninh Văn H chưa thực
hiện việc bàn giao mặt bằng theo quy định nên không đủ điều kiện để được xem xét hỗ
trợ theo Điều 16 Quyết định số 36/2024/QĐ-UBND ngày 08/10/2024 của UBND tỉnh
Đ.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để bác yêu
cầu khởi kiện của ông Ninh Văn H là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại giai
đoạn phúc thẩm, ông Ninh Văn H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới do
đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông H. Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử
phúc thẩm có căn cứ bác kháng cáo của ông Ninh Văn H, giữ nguyên Bản án hành chính
sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người khởi kiện phải chịu án
phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật Tố tụng hành chính; Bác kháng cáo
của người khởi kiện, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số
01/2026/HC -ST ngày 04/02/2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk.
Căn cứ Điều 30, khoản 1 Điều 31, Điều 38, Điều 116, Điều 146, Điều 191, Điều
193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ khoản 4 Điều 101, khoản 2 Điều 105, khoản 1 Điều 137 Luật Đất đai năm
2024.
Căn cứ Nghị định 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về
phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong
lĩnh vực đất đai;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Ninh Văn H về việc: Yêu cầu hủy một phần
quyết số 658/QĐ-UBND ngày 03 tháng 9 năm 2025 về việc Phê duyệt phương án bồi
thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện công trình đường T (đoạn từ
Nguyễn Đình C đến đường T và đoạn từ đường P đến đường L) thành phố B (đợt 2) của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B.

9
2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Ninh Văn H được miễn nộp tiền án phí
hành chính phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1;
- Phòng THADS khu vực 1;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Ngọc Minh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 02/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 01/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm