Bản án số 06/2026/HC-PT ngày 21/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 06/2026/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 06/2026/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2026/HC-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 06/2026/HC-PT ngày 21/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Phú Thọ |
| Số hiệu: | 06/2026/HC-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Khiếu kiện quyết định giải quyết kiếu nại |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 06/2026/HC-PT
Ngày 21 - 5 - 2026
V/v Khiếu kiện quyết định hành chính
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và ông Nguyễn Xuân Trọng
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà
Hà Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ (cơ sở
2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 01/2026/TLPT-HC
ngày 04 tháng 02 năm 2026 về việc Khiếu kiện quyết định hành chính. Do bản
án hành chính sơ thẩm số 03/2025/HC-ST ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Toà
án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 06/2026/QĐ-PT ngày 31 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Q, xã T,
tỉnh Phú Thọ;
Người đại diện hợp pháp của bà Vũ Thị T: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm
1980 (có mặt) và bà Lê Hoàng Hạnh V, sinh năm 1982 (vắng mặt); địa chỉ: Công
ty L5, số D đường N, phường V, tỉnh Phú Thọ - Là người đại diện theo ủy quyền
(Theo văn bản ủy quyền ngày 27/12/2024);
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H;
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T,
tỉnh Phú Thọ - Ông Đào Văn T1; địa chỉ: xã T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện hợp pháp của ông Đào Văn T1: Ông Lỗ Tiến S - Phó Chủ
tịch Ủy ban nhân dân xã T - Là người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy
quyền ngày 04/9/2025) (vắng mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn
Anh T2 - Chuyên viên phòng Kinh tế xã T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt);
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ.

2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Văn T1 – Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lỗ Tiến S - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân
dân xã T, tỉnh Phú Thọ (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/9/2025) (vắng mặt).
3.2. Ông Đỗ Văn T3, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn Q, xã T, tỉnh Phú Thọ
(vắng mặt);
3.3. Ông Lê Đăng L, sinh năm 1990; địa chỉ: Ngõ A L, phường P, thành
phố Hà Nội (vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Bà Lê Hoàng Hạnh V là người đại diện hợp pháp của
người khởi kiện bà Vũ Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/12/2024, người khởi kiện, người đại diện
hợp pháp của người khởi kiện trình bày: Bà Vũ Thị T cùng chồng là ông Đỗ Văn
T3 và anh Lê Đăng L cùng nhận chuyển nhượng thửa đất của ông Nguyễn Văn K
và vợ là bà Phan Thị T4. Nguồn gốc thửa đất trên do ông Bùi Thanh L1 (vợ là bà
Nguyễn Thị T5) và ông Bùi Công T6 khai hoang từ năm 1986, đến năm 2011
chuyển nhượng cho ông K và bà T4. Thời điểm ông K bà T4 nhận chuyển
nhượng thì thửa đất có diện tích 749m
2
. Đến năm 2012, có dự án cải tạo đường T
nên đã thu hồi 60m
2
đất và chi trả tiền bồi thường cho nhà ông bà Kính T7. Đến
năm 2019, ông bà Kính T7 chuyển nhượng cho bà T, ông T3, ông L phần diện
tích còn lại là 689,0m
2
. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà T đã chủ động san lấp
đất để trồng cây.
Ngày 21/7/2024, có đơn vị thi công đã cho máy xúc thi công, san lấp toàn
bộ cây cối của bà T trên phần diện tích đất trên. Ngay khi phát hiện ra, bà T đã
báo cáo đến Công an xã H. Ngày 22/7/2024, Ủy ban nhân dân xã H tổ chức buổi
làm việc với các thành phần: Đại diện Ủy ban nhân dân xã gồm ông Lỗ T, ông
Nguyễn Văn Đ, ông Trần Văn T8, ông Nguyễn Anh T2; Đại diện ban Q các công
trình giao thông tỉnh là ông Nguyễn Tuấn L2, ông Nguyễn Chí T9, ông Nguyễn
Ngọc T10 và ông Bùi Văn H1 để giải quyết theo trình báo liên quan đến diện
tích đất của gia đình bà T. Thông qua ý kiến của ông Nguyễn Anh T2 – cán bộ
công chức địa chính xây dựng và một số ý kiến của các thành phần khác liên
quan, ông Lỗ Tiến S - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H đã kết luận:“1. Căn cứ
vào hồ sơ quản lý tại địa phương xác định việc UBND xã H xác nhận Thửa đất
số 30 (tờ bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất ở giai đoạn 1 (Năm 2011) tại
km 16-9 đến km16-11) diện tích = 703m
2
là đất lâm nghiệp khai hoang để được
bồi thường GPMB năm 2012 là không có cơ sở pháp lý và không đúng với hồ sơ
quản lý đất đai tại địa phương.
3. Việc mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Văn K
và ông Đỗ Văn T3 là trái pháp luật (Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất). Ông Nguyễn Văn K không có đất trên đường 310C đề nghị 02 gia
đình tự thương lượng giải quyết.”.

3
Không đồng ý với nội dung tại buổi làm việc, bà T đã gửi đơn đến Ủy ban
nhân dân xã H. Ngày 04/9/2024, Ủy ban nhân dân xã H đã ban hành văn bản số
374/UBND-ĐCXD về việc trả lời nội dung đề nghị của bà T và ông T3, với nội
dung: Thửa đất số 30 (Tờ bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1, tại
km 16-9 đến K1) diện tích = 703 m
2
dự án nâng cấp Đường TL 310 đoạn từ Đ
(Km 14+500- ĐT 301) đến QL B(Đ) nay là đường TL 310C là đất giao thông,
không phải của ông Nguyễn Văn K (T7). Bà T cho rằng các nội dung trả lời
trong văn bản của Ủy ban nhân dân xã H không phù hợp, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền lợi của mình, nên bà T tiếp tục khiếu nại Văn bản số
374/UBND-ĐCXD của Ủy ban nhân dân xã H.
Ngày 02/12/2024, bà T nhận được Quyết định số 340/QĐ-UBND đề ngày
25/11/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H về việc giải quyết khiếu nại,
quyết định: “Giữ nguyên giá trị Văn bản số 374/UBND-ĐCXD ngày 31/8/2024
của UBND xã H v/v trả lời nội dung đề nghị của bà Vũ Thị T và ông Đỗ Văn
T3”. Nhận thấy, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H ban hành quyết định giải
quyết khiếu nại với các nội dung trong quyết định là không đảm bảo quyền và lợi
ích của bà T, bởi:
Thứ nhất, về nguồn gốc và hồ sơ quản lý thửa đất số 15, tờ bản đồ số 68:
Tại mục 4.1. Hồ sơ địa chính quản lý tại địa phương xác định diện tích 703m
2
(thuộc thửa đất số 30 tờ bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1 tại
Km16-9 đến K) là một phần thửa đất số 15, tờ bản đồ số 68, diện tích 13.420m
2
,
thể hiện trong hồ sơ quản lý nhà nước như sau: Theo Bản đồ 299: xác định là đất
giao thông. Theo sổ mục kê: xác định là đất giao thông. Theo sơ đồ giao đất lâm
nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân tại khu Đ: xác định là đất giao thông.
Có nghĩa là, toàn bộ diện tích 13.420m
2
xác định là đất giao thông. Tuy
nhiên, đến năm 2003, Ủy ban nhân dân xã H có Tờ trình xin thu hồi và giao đất
cho nhân dân làm nhà ở, và ngày 19/5/2003 Ủy ban nhân dân huyện T ban hành
Quyết định số 363/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để xây dựng khu dân cư nông
thôn tập trung tại khu Đ, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nội dung quyết định thể
hiện thu hồi 5610m
2
đất đồi hạng 5 (Tại khu vực Đ, xã H, ven trục đường TL
302), cấp đất ở cho 11 hộ 4.400m
2
; đất hành lang giao thông 1100m
2
; đất làm
rãnh thoát nước 110m
2
.
Phần diện tích của bà T, nằm tiếp giáp, liền kề với phần đất ở đã giao cho
11 hộ dự án xây dựng khu dân cư nông thôn tập trung, được xác định có chồng
lấn 390,8m
2
là đất ở đã được giao cho 09 hộ gia đình, cá nhân năm 2003 đã được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 nay đã được cấp đổi theo bản
đồ VN B (Nội dung này thể hiện tại Mục 4.3 Quyết định 340/QĐ-UBND). Phía
sau lưng của 11 hộ này, đến nay vẫn là đất đồi. Để thực hiện dự án này, nhà nước
đã thu hồi đất đồi hạng 5, không phải thu hồi đất giao thông. Mà phần diện tích
của bà Tuyến T11 tiếp giáp đất của 11 hộ này lại thuộc đất giao thông, nhưng đất
để thực hiện dự án giao cho 11 hộ là đất đồi hạng 5. Đến nay, các cơ quan vẫn
chưa thể xác định phần diện tích 13.420m
2
đất giao thông thuộc thửa đất số 15,
tờ bản đồ số 68 có vị trí từ đâu đến đâu; Phần diện tích đất đồi hạng 5 (có một

4
phần thu hồi để cấp đất ở cho 11 hộ) là từ đâu đến đâu; Hai phần diện tích đất
này xác định có tiếp giáp nhau không và điểm giao nằm ở vị trí nào. Trong khi
đó, phần diện tích đất này, trước đây được xác định nguồn gốc của ông Bùi Công
L3 và ông Bùi Công T6 khai hoang. Ông Nguyễn Văn K mua lại của ông L3,
ông T6, sau đó đã bán lại cho vợ chồng ông bà Tuyến T11.
Thứ hai, về hồ sơ thu hồi đất năm 2011 để thực hiện dự án nâng cấp
đường TL 310 đoạn từ Đ (Km14+500-ĐT 301) đến QL B (Đ) nay là đường
TL310C: Tại Biên bản kiểm kê tài sản và diện tích đất thu hồi ngày 10/11/2011
đã xác định diện tích đất của ông Nguyễn Văn K thuộc thửa số 03, tờ bản đồ 68,
diện tích 726,6m
2
hạng đất H5 (Theo bản đồ hiện trạng sử dụng đất và thu hồi
đất thuộc số thửa 30, tờ bản đồ số 02, diện tích đo đạc 703m
2
, diện tích thu hồi là
60,6m
2
). Đồng thời, ông K đã được bồi thường về đất và tài sản trên đất. Điều
này khẳng định quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn K đối với diện
tích đất 703m
2
.
Như vậy, căn cứ vào Biên bản kiểm kê tài sản và diện tích đất thu hồi ngày
10/11/2011, phần diện tích đất của bà T11 không phải là đất giao thông. Các
thông tin của Ủy ban nhân dân xã H đưa ra trong văn bản số 374/UBND-ĐCXD
và Quyết định số 340/QĐ-UBND ngày 25/11/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân xã H về việc giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị T ở thôn Q, xã H, huyện T,
tỉnh Vĩnh Phúc (lần đầu) là không đảm bảo quyền lợi cho công dân. Do vậy, bà
T khởi kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, đề nghị Tòa án tuyên Hủy Quyết
định số 340/QĐ-UBND ngày 25/11/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H về
việc giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị T ở thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh
Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện, quá trình giải quyết vụ án
trình bày: Bà Vũ Thị T khiếu nại Văn bản số 374/UBND-ĐCXD ngày 31/8/2024
của Ủy ban nhân dân xã H về việc trả lời nội dung đề nghị của bà Vũ Thị T và
ông Đỗ Văn T3. Cụ thể, bà T cho rằng nội dung trả lời trong Văn bản
374/UBND-ĐCXD ngày 31/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã H không phù hợp,
gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bà T.
Ủy ban nhân dân xã H đã trả lời bà T tại Văn bản số 374/UBND-ĐCXD
ngày 31/8/2024: Thửa đất số 30 (Tờ bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất giai
đoạn 1, tại km 16-9 đến K1) diện tích = 703 m
2
dự án nâng cấp Đường TL 310
đoạn từ Đ (Km 14+500- ĐT 301) đến QL B(Đ) nay là đường TL 310C là đất
giao thông, không phải của ông Nguyễn Văn K (T7).
Ngày 16/10/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã - Tổ xác minh khiếu nại
đã làm việc với bà T để xác minh và thống nhất nội dung khiếu nại. Tại buổi làm
việc bà T thống nhất nội dung khiếu nại theo đơn khiếu nại đề ngày 25/9/2024
gồm các nội dung sau:
- Không đồng ý nội dung Ủy ban nhân dân xã H trả lời bà T tại Văn bản số
374/UBND-ĐCXD, ngày 04/9/2024, cụ thể Ủy ban nhân dân xã H cho rằng thửa
đất số 30 (Tờ bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1), diện tích
703m
2
- Dự án cải tạo nâng cấp Đường ĐT310 đoạn từ Đ - QL2C (Đạo Tú) nay

5
là đường 310 C là đất giao thông là không đúng, vì ông Nguyễn Văn K đã được
Uỷ ban nhân dân xã xác nhận và được bồi thường hỗ trợ về đất lâm nghiệp
không có giấy tờ về QSDĐ năm 2012 theo dự án Cải tạo nâng cấp ĐT 310 đoạn
từ Đ đến QL2C (Đạo Tú)
- Không đồng ý nội dung Ủy ban nhân dân xã H trả lời bà T tại Văn bản số
374/UBND-ĐCXD, ngày 04/9/2024, cụ thể UBND xã H cho rằng thửa đất số 30
(Tờ bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1), diện tích 703m
2
- Dự
án cải tạo nâng cấp Đường ĐT310 đoạn từ Đ - QL2C (Đạo Tú) nay là đường 310
C không phải của ông Nguyễn Văn K là không đúng, vì ông Nguyễn Văn K đã
được Uỷ ban nhân dân xã xác nhận và được bồi thường hỗ trợ về đất lâm nghiệp
không có giấy tờ về QSDĐ năm 2012 theo dự án Cải tạo nâng cấp ĐT 310 đoạn
từ Đ đến QL2C (Đ).
Theo bà T, nguồn gốc thửa đất số 30 (Tờ bản đồ địa chính thu hồi đất và
giao đất giai đoạn 1), diện tích 703m
2
– Dự án cải tạo nâng cấp Đường ĐT 310
đoạn từ Đ – QL2C (Đạo Tú) nay là đường 310 C, bà T nhận chuyển nhượng từ
ông Nguyễn Văn K (vợ là T7) ở thôn P, xã H ngày 24/6/2019 (giấy tờ viết tay).
Gia đình hiện vẫn đang sử dụng để trồng cây từ năm 2019 đến nay.
Ngày 13/11/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã - Tổ xác minh khiếu nại
đã làm việc với ông Nguyễn Văn K, ông K cung cấp thông tin: Ông K mua lại
diện tích 689m
2
đất của ông Bùi Thanh L1 và ông Bùi Công T6 cùng ở thôn Q,
xã H, huyện T từ năm 2011, loại đất là đất hoang. Sau khi mua, ông K sử dụng
đất để trồng cây bạch đàn, cây xoan và cây ăn quả. Đến năm 2012, Nhà nước thu
hồi đất thực hiện dự án Cải tạo, nâng cấp ĐT 310 đoạn từ Đ (Km14+500 ĐT310)
đến QL2C (Đạo Tú) thì đo đạc được diện tích 703m
2
, số thửa 30 (Tờ bản đồ địa
chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1) - Dự án cải tạo nâng cấp Đường ĐT310
đoạn từ Đ - QL2C (Đ), trong đó thu hồi là 60,6m
2
và ông K được bồi thường hỗ
trợ theo loại đất lâm nghiệp không giấy tờ. Đến ngày 24/6/2019, ông K bán lại
cho bà Vũ Thị T ở thôn Q, xã H diện tích 689m
2
đất - tương ứng với thửa đất số
30 (Tờ bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1), diện tích 703m
2
-
Dự án cải tạo nâng cấp Đường ĐT310 đoạn từ Đ- QL2C (Đ) với giá tiền là
100.000.000đồng.
Về giấy tờ về quyền sử dụng đất từ ông Bùi Thanh L1 và ông Bùi Công
T6, hiện nay ông K không còn giữ bản chính giấy tờ chuyển nhượng (do đã đưa
cho bà Vũ Thị T khi bán đất). Ngoài ra ông K không có bất cứ giấy tờ gì khác
liên quan đến thửa đất trên.
Theo báo cáo ngày 20/11/2024 của Công chức Địa chính – XD xã về kết
quả kiểm tra thông tin về nguồn gốc đất, chủ sử dụng đất, quá trình biến động sử
dụng đất theo nội dung trả lời bà T tại Văn bản số 374/UBND-ĐCXD ngày
31/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã H, thể hiện:
- Hồ sơ địa chính quản lý tại địa phương: Thửa đất số 30 diện tích 703m
2
(Tờ bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1. Tại km 16-9 đến Km
16-11) dự án nâng cấp Đường TL 310 đoạn từ Đ (Km 14+500- ĐT 301) đến QL
B(Đạo Tú); Mục đích sử dụng đất: Đất lâm nghiệp, được xác định trên bản đồ

6
299 là một phần thửa đất số 15 tờ bản đồ số 68; Diện tích = 13.420m
2
; Mục đích
sử dụng đất: Đất giao thông; Theo sổ mục kê đất đai tờ bản đồ số 68 thì Thửa đất
số 15 có mục đích sử dụng là: Đất giao thông.
- Quá trình sử dụng đất và biến động đất đai tại khu Đồi luồn 2: Năm 2003
Ủy ban nhân dân xã H có Tờ trình số 09/TTr-UB ngày 14/5/2003 của Ủy ban
nhân dân xã H, về việc xin thu hồi và giao đất cho nhân dân làm nhà ở tại khu
vực Đ, xã H, huyện T. Hồ sơ thu hồi và giao đất gồm có: Quyết định số 363/QĐ-
UBND ngày 19/5/2003 của Ủy ban nhân dân huyện T, về việc thu hồi đất để xây
dựng khu dân cư nông thôn tập trung tại khu Đ, xã H, huyện T. Nội dung quyết
định thể hiện thu hồi 5610 m
2
đất đồi hạng 5 (Tại khu vực Đ, xã H - V trục
đường T). Cấp đất ở cho 11 hộ 4.400m
2
; Đất hành lang giao thông 1100m
2
; Đất
làm rãnh thoát nước 110m
2
; Trích đo bản đồ hiện trạng và quy hoạch khu vực
xin thu hồi đất để xây dựng khu dân cư tập trung tại khu vực đồi luồn 2, xã H,
huyện T; Văn bản số 12/HC-UB ngày 23/5/2003 của Ủy ban nhân dân xã H đề
nghị giao đất cho 11 hộ gia đình, cá nhân; Tờ khai nộp tiền sử dụng đất, T12
khai nộp lệ phí trước bạ của 11 hộ gia đình, cá nhân được xét duyệt tại Văn bản
số 12/HC-UB ngày 23/5/2003 của Ủy ban nhân dân xã H; Tờ trình số 19/TTr-
UB ngày 03/7/2003 của Ủy ban nhân dân xã H, về việc đề nghị cấp giấy chứng
nhận; Quyết định số 615/QĐ-UBND ngày 04/7/2003 của Ủy ban nhân dân
huyện T, về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 11 hộ tại Đ, xã H,
huyện T. Cấp đất ở cho 11 hộ 4.400 m
2
.
- Đối chiếu hồ sơ thu hồi và giao đất ở cho 11 hộ gia đình, cá nhân tại khu
Đ; hồ sơ địa chính quản lý đất đai tại địa phương, xác định: Thửa đất số 30 (Tờ
bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1. Tại km 16-9 đến Km 16-11)
diện tích 703m
2
- dự án nâng cấp Đường TL 310 đoạn từ Đ (Km 14+500- ĐT
301) đến QL B(Đ) nay là đường TL 310C có chồng lấn 390,8m
2
là đất ở đã được
giao cho 09 hộ gia đình, cá nhân năm 2003 và đã được cấp giấy chứng nhận
chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 nay được cấp đổi theo bản đồ V1; phần
diện tích còn lại được xác định là đất hành lang giao thông theo Quyết định số
363/QĐ-UBND ngày 19/5/2003 của Ủy ban nhân dân huyện T, về việc thu hồi
đất để xây dựng khu dân cư nông thôn tập trung tại khu Đ, xã H, huyện T.
Tại tờ bản đồ số 68, thửa đất số 15 (Bản đồ 299) có diện tích là 13.420m
2
;
Mục đích sử dụng đất: Đất giao thông; Sơ đồ giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia
đình, cá nhân tại khu Đồi luồn 2 cũng được xác định là đất giao thông.
Như vậy, việc Ủy ban nhân dân xã H năm 2011 xác nhận thửa đất số 30
(Tờ bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1. Tại km 16-9 đến Km
16-11) diện tích 703m
2
là đất lâm nghiệp khai hoang để được bồi thường giải
phóng mặt bằng năm 2011 là không có cơ sở pháp lý và không đúng với hồ sơ
quản lý đất đai tại địa phương. Vì đây là đất giao thông và không phải của ông
Nguyễn Văn K (T7).
Do vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H đã ban hành quyết định giải quyết
khiếu nại số 340/QĐ-UBND ngày 25/11/2024, giữ nguyên giá trị Văn bản số
374/UBND-ĐCXD ngày 31/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã H.

7
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Văn T3, tại bản tự khai ngày
18/8/2025 trình bày: Ông và vợ là bà Vũ Thị T cùng ông Lê Đăng L nhận
chuyển nhượng thửa đất của ông Nguyễn Văn K, vợ là Phan Thị T4 vào năm
2019 với giá chuyển nhượng là 100.000.000đồng. Khi chuyển nhượng hai bên
viết giấy bán đất và có người làm chứng là ông Bùi Công T6 và bà Nguyễn Thị
T5 (Bà T5 là vợ ông Bùi Thanh L1), diện tích chuyển nhượng là 689m
2
, thửa đất
có địa chỉ tại khu Đ, thôn Q, xã H (nay là xã T). Sau khi nhận chuyển nhượng,
vợ chồng ông đã xây tường bao loan quanh đất và trồng bạch đàn, chuối, dâu da,
cây mỡ. Quá trình sử dụng đất ông, bà không phải đóng thuế gì cho Nhà nước.
Khoảng tháng 01/2022 có một đội xã hội đen đưa máy múc đến phá tường và
cây cối của gia đình ông, ông có báo chính quyền địa phương và không thấy họ
đến nữa. Tháng 7/2024 ông thấy có đơn vị thi công đưa máy xúc đến san lấp
toàn bộ cây cối của vợ chồng ông. Sau khi phát hiện, vợ chồng ông đã trình báo
tới Công an xã H, Ủy ban nhân dân xã H đã tổ chức buổi làm việc và kết luận
thửa đất số 30, diện tích 703m
2
là đất lâm nghiệp khai hoang để được giải phóng
mặt bằng năm 2012 là không có cơ sở pháp lý và không đúng hồ sơ quản lý đất
đai của địa phương, việc mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ
chồng ông và ông K là trái pháp luật. Ông và bà T không đồng ý với nội dung
buổi làm việc nên bà T đã gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã H, Uỷ ban nhân dân
xã đã ban hành văn bản số 374 trả lời nội dung đề nghị của ông, bà. Tuy nhiên,
nội dung trả lời trên không phù hợp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi
của ông, bà nên bà T tiếp tục khiếu nại văn bản số 374. Ngày 02/12/2024, bà T
nhận được quyết định số 340 ngày 25/11/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã
H về việc giải quyết khiếu nại của bà T. Tại Quyết định này, chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã H trả lời nội dung trong quyết định không đảm bảo quyền và lợi ích
của bà T, do vậy bà T khởi kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, đề nghị Tòa án
tuyên Hủy Quyết định số 340/QĐ-UBND ngày 25/11/2024 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã H về việc giải quyết khiếu nại của bà T. Quan điểm của ông là đề
nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã T, người
đại diện theo ủy quyền là ông Lỗ Tiến S - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T,
tỉnh Phú Thọ: Nhất trí với toàn bộ trình bày của người bị kiện và đề nghị Tòa án
giữ nguyên quyết định số 340/QĐ-UBND ngày 25/11/2024 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã H về việc giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị T.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Đăng L: Quá
trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Thông báo, văn bản tố tụng
của Tòa án cho ông L; tuy nhiên ông L không đến Tòa án làm việc và không có
văn bản trình bày ý kiến của mình đối với khiếu kiện của người khởi kiện.
Với nội dung như trên, tại Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2025/HC-ST
ngày 30/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31, Điều 157, Điều 193, khoản 1
Điều 348 Luật Tố tụng hành chính 2025; Luật Đất đai 2024; Luật khiếu nại năm

8
2011; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị T về việc Hủy Quyết định số
340/QĐ-UBND ngày 25/11/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H về việc
giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị T ở thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc
(nay là xã T, tỉnh Phú Thọ).
Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự
theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/10/2025, bà Lê Hoàng Hạnh V là người
đại diện hợp pháp của người khởi kiện kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2025/HC-ST ngày 30/10/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia
phiên toà phát biểu ý kiến:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm
đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện
đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Luật tố tụng
hành chính từ khi khai mạc phiên toà đến trước khi nghị án, đảm bảo vô tư,
khách quan, đúng quy định pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng
hành chính, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ
nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực
9 – Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử, xét
thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của người khởi kiện làm trong hạn
luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người khởi kiện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
UBND xã T, ông Nguyễn Văn T13, ông Nguyễn Đăng L4 được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nên Hội đồng xét xử tiến
hành xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 157, khoản 1 Điều
158 của Luật tố tụng hành chính.
[2]. Nội dung vụ án: Vợ chồng bà Vũ Thị T, ông Đỗ Văn T3 quản lý, sử
dụng thửa đất số 58 tờ bản đồ 68 (theo bản đồ VN2000) thông qua việc nhận
chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn K năm 2019. Việc ông K được quản lý, sử
dụng thửa đất trên thông qua việc nhận chuyển nhượng từ ông Bùi Thanh L1 và

9
ông Bùi Công T6. Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất trên thì vợ chồng bà T,
ông T3 đã trồng cây cối trên đất. Năm 2024, bà Vũ Thị T có đơn đề nghị UBND
xã H xác nhận thửa đất 58 tờ bản đồ 68 trên có thuộc quyền quản lý, sử dụng của
ông Nguyễn Văn K không. Ngày 31/8/2024, Ủy ban nhân dân xã H ban hành
Văn bản số 374/UBND – ĐCXD về việc trả lời nội dung đề nghị của bà Vũ Thị
T và ông Đỗ Văn T3 liên quan đến thửa đất số 30, diện tích 703m
2
(Tờ bản đồ
địa chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1, tại km 16-9 đến Km 16-11) dự án
nâng cấp Đường TL 310 đoạn từ Đ (Km 14+500- ĐT 301) đến QL B (Đ) nay là
đường TL 310C. Không đồng ý với nội dung trả lời, bà T đã khiếu nại Văn bản
số 374/UBND – ĐCXD của Ủy ban nhân dân xã H. Ngày 25/11/2024 Chủ tịch
Ủy ban nhân dân xã H đã ban hành Quyết định số 340/QĐ-UBND về việc giải
quyết khiếu nại lần đầu của bà Vũ Thị T, quyết định giữ nguyên giá trị Văn bản
số 374/UBND-ĐCXD ngày 31/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã H về việc trả lời
nội dung đề nghị của bà Vũ Thị T và ông Đỗ Văn T3. Sau đó bà T khởi kiện chủ
tịch UBND xã H, sau khi xét xử sơ thẩm, bà T không đồng ý với bản án sơ thẩm
và kháng cáo.
Xét nội dung kháng cáo của người khởi kiện bà Vũ Thị T đề nghị sửa bản
án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử thấy:
[2.1]. Thời hiệu khởi kiện và đối tượng khởi kiện:
Người khởi kiện là bà Vũ Thị T yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số
340/QĐ-UBND ngày 25/11/2024 của chủ tịch UBND xã H về việc giải quyết
khiếu nại của bà Vũ Thị T. Nên yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là khiếu
kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo quy định tại
khoản 14 Điều 22 Luật đất đai năm 2013; Điều 7, khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng
hành chính.
Ngày 25/11/2024 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H ban hành Quyết định số
340/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Vũ Thị T. Ngày 30/12/2024,
Tòa án nhân dân huyện Tam Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú
Thọ) nhận được đơn khởi kiện của bà T là vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy
định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[2.2]. Do sáp nhập tỉnh, sáp nhập xã nên người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố
tụng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc là Chủ tịch
Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại Điều 59 Luật tố tụng hành
chính.
[2.3]. Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định hành chính:
Ngày 31/8/2024, Ủy ban nhân dân xã H ban hành Văn bản số 374/UBND –
ĐCXD về việc trả lời nội dung đề nghị của bà Vũ Thị T và ông Đỗ Văn T3 liên
quan đến thửa đất số 58 tờ bản đồ 68 theo bản đồ VN2000. Không đồng ý với
nội dung trả lời, bà T đã khiếu nại Văn bản số 374/UBND – ĐCXD của Ủy ban
nhân dân xã H. Ngày 25/11/2024 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H đã ban hành
Quyết định số 340/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Vũ
Thị T, quyết định giữ nguyên giá trị Văn bản số 374/UBND-ĐCXD ngày
31/8/2024 của Ủy ban nhân dân xã H về việc trả lời nội dung đề nghị của bà Vũ

10
Thị T và ông Đỗ Văn T3. Như vậy, việc ban hành quyết định giải quyết khiếu
nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H là đúng thẩm quyền, đảm bảo về
trình tự, thủ tục.
[2.4]. Về nội dung của quyết định hành chính:
[2.4.1]. Đối với thửa đất số 58 tờ bản đồ 68 theo bản đồ VN2000: Ngày
24/9/2019, ông Nguyễn Văn K chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng ông
T3, bà T (BL 03); Trước đó ngày 14/4/2011, ông Nguyễn Văn K nhận chuyển
nhượng từ ông Bùi Thanh L1 và ông Bùi Công T6 (BL 04). Việc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất trên các bên đều được lập bằng văn bản nhưng không được
công chứng, chứng thực theo quy định. Trong các giấy chuyển nhượng đất đều
không có số thửa, số tờ bản đồ cụ thể. Tuy nhiên, các đương sự đều thừa nhận
thửa đất mà bà T đang đề nghị UBND xã xác nhận là thửa đất số 58 tờ bản đồ 68
theo bản đồ VN2000.
[2.4.2]. Qua xác minh tại UBND xã thể hiện:
Theo bản đồ VN2000 (đo vẽ năm 2009): Thửa đất số 58 tờ bản đồ 68
tương ứng là thửa số 30 (Tờ bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1,
tại km 16-9 đến Km 16-11); mục đích sử dụng: Đất lâm nghiệp. Theo sổ mục kê
theo bản đồ VN2000 thì thửa đất số 58 tờ bản đồ 68 đứng tên chủ sử dụng đất là
ông Bùi Công L3 vợ là bà Nguyễn Thị T5.
Theo Bản đồ 299 (đo vẽ năm 1986): Thửa đất số 30 (Tờ bản đồ địa chính
thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1, tại km 16-9 đến Km 16-11) dự án nâng cấp
Đường TL 310 đoạn từ Đ (Km 14+500- ĐT 301) đến QL B (Đ) nay là đường TL
310C tương ứng với một phần của thửa đất số 15, tờ bản đồ số 68, diện tích
13.420m
2
; mục đích sử dụng: Đất giao thông. Sau khi chỉnh lý các thửa đất theo
bản đồ QH lên bản đồ giải thửa 299 thửa số 15 tờ bản đồ số 68 được cập nhập
chỉnh lý thành thửa đất số 06 tờ bản đồ 68 và có diện tích là 17.200m
2
, mục đích
sử dụng: Đất giao thông (diện tích đất giao thông tăng lên do cộng thêm phần
diện tích đất giao thông 3780m
2
tại dự án quy hoạch khu dân cư Đ năm 2003).
Theo sổ mục kê theo bản đồ 299 (không rõ năm lập) thì thửa đất số 68 tờ bản đồ
15 (Bản đồ 299), có mục đích là đất giao thông do UBND xã quản lý.
[2.4.3]. Quá trình sử dụng đất và thu hồi, bồi thường đất:
Ông Bùi Công T6 và bà Nguyễn Thị T5 (vợ ông Bùi Thanh L1) cho rằng
thửa đất trên có nguồn gốc do ông L1 và ông T6 khai hoang tại khu đồi Luồn,
thuộc thôn Q, xã H, huyện T và sử dụng trồng cây từ năm 1986; quá trình sử
dụng đất không phải đóng thuế và không được cơ quan Nhà nước cấp loại giấy
tờ gì về đất. Ngày 26/8/2002, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V (cũ) ban hành
Quyết định số 3112/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án đền bù giải phóng
mặt bằng công trình đường Đ – Đạo Tú đoạn qua xã H huyện T; tại Biên bản
kiểm đếm và danh sách trả tiền đền bù thể hiện: Ông Bùi Thanh L1 được bồi
thường hỗ trợ tiền cây trồng trên đất với số tiền: 182.000 đồng tương ứng với
182 cây bạch đàn, tiền đất không được bồi thường; bà Nguyễn Thị T14 (mẹ ông
Bùi Công T6) được bồi thường hỗ trợ tiền cây trồng trên đất với số tiền: 212.000

11
đồng tương ứng với 106 cây bạch đàn, tiền đất không được bồi thường, các hộ
gia đình, cá nhân đã nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng cho dự án.
Năm 2011, ông Bùi Thanh L1 và ông Bùi Công T6 chuyển nhượng thửa
đất trên cho ông Nguyễn Văn K. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, ông K sử
dụng đất để trồng cây bạch đàn, cây xoan và cây ăn quả. Năm 2012, Nhà nước
thu hồi đất thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp đường tỉnh 310 đoạn từ Đ
(Km14+500 ĐT310) đến QL2C (Đạo Tú) đo đạc thửa đất có diện tích 703m
2
, số
thửa 30 (Tờ bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1) - Dự án cải tạo
nâng cấp ĐT310 đoạn từ Đ - QL2C (Đạo Tú), trong đó thu hồi 60,6m
2
đất và
ông K được bồi thường hỗ trợ theo loại đất lâm nghiệp không giấy tờ là
969.600đồng và bồi thường về cây cối là 1.000.000đồng.
Năm 2019, ông Nguyễn Văn K chuyển nhượng lại thửa đất trên cho bà Vũ
Thị T (chồng là Đỗ Văn T3) và ông Lê Đăng L.
Năm 2003, Ủy ban nhân dân xã H có Tờ trình số 09/TTr-UB ngày
14/5/2003 về việc xin thu hồi và giao đất cho nhân dân làm nhà ở tại khu vực Đ,
xã H, huyện T. Tại Quyết định số 363/QĐ-UBND ngày 19/5/2003 của Ủy ban
nhân dân huyện T, về việc thu hồi đất để xây dựng khu dân cư nông thôn tập
trung tại khu Đ, xã H, huyện T; nội dung quyết định thể hiện thu hồi 5610m
2
đất
đồi hạng 5 (Tại khu vực Đ, xã H - V trục đường T). Cấp đất ở cho 11 hộ là
4.400m
2
; Đất hành lang giao thông là 1100m
2
; Đất làm rãnh thoát nước là
110m
2
. Ủy ban nhân dân xã H sau khi tiến hành đối chiếu hồ sơ thu hồi và giao
đất ở cho 11 hộ gia đình, cá nhân tại khu Đ, hồ sơ địa chính quản lý đất đai tại
địa phương, thể hiện: Thửa đất số 30, diện tích 703m
2
(Tờ bản đồ địa chính thu
hồi đất và giao đất giai đoạn 1. Tại km 16-9 đến Km 16-11) - dự án nâng cấp
Đường TL 310 đoạn từ Đ (Km 14+500- ĐT 301) đến QL B(Đ) nay là đường TL
310C có chồng lấn 390,8m
2
là đất ở đã được giao cho 09 hộ gia đình, cá nhân
năm 2003 và đã được cấp giấy chứng nhận chứng nhận quyền sử dụng đất năm
2003 nay được cấp đổi theo bản đồ V1; phần diện tích còn lại được xác định là
đất hành lang giao thông theo Quyết định số 363/QĐ-UBND ngày 19/5/2003 của
Ủy ban nhân dân huyện T, về việc thu hồi đất để xây dựng khu dân cư nông thôn
tập trung tại khu Đ, xã H, huyện T.
[2.4.4]. Như vậy, thửa đất số 58 tờ bản đồ 68 (theo bản đồ VN2000) ban
đầu là đất giao thông do UBND xã quản lý nên năm 2002 khi Nhà nước thu hồi
đất thì ông Bùi Thanh L1, bà bà Nguyễn Thị T14 (mẹ ông Bùi Công T6) chỉ
được bồi thường hỗ trợ tiền cây trồng trên đất còn tiền đất không được bồi
thường, sau đó các hộ bàn giao mặt bằng cho dự án. Ngoài ra, theo hồ sơ sổ sách
địa chính tại địa phương không thể hiện ông Nguyễn Văn K đứng tên đối với
thửa đất trên. Nên không có căn cứ xác định thửa đất số 30 diện tích 703m
2
(Tờ
bản đồ địa chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1. Tại km 16-9 đến Km 16-11)
tương ứng là thửa đất số 58 tờ bản đồ 68 (Bản đồ VN2000) là đất lâm nghiệp và
là đất của ông Nguyễn Văn K.
Việc năm 2011, Ủy ban nhân dân xã H xác nhận thửa đất số 30 (tương ứng
là thửa số 58 tờ bản đồ số 68, bản đồ VN2000) diện tích 703m
2
(Tờ bản đồ địa

12
chính thu hồi đất và giao đất giai đoạn 1. Tại km 16-9 đến Km 16-11) là đất lâm
nghiệp khai hoang để được bồi thường giải phóng mặt bằng là không có cơ sở
pháp lý và không đúng với hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương nên khi phát hiện
sai sót trên thì ngày 19/01/2023, Ủy ban nhân dân xã H đã có báo cáo số 07/BC-
UBND ngày 19/01/2023 báo cáo Ủy ban nhân dân huyện T về việc xác nhận
nguồn gốc sử dụng đất hộ ông Nguyễn Văn K và đề nghị Ủy ban nhân dân huyện
T thu hồi hủy bỏ Quyết định thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn K.
[2.4.5]. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của người
khởi kiện cho rằng cần xác định việc lập bản đồ 299 có đúng không? Lý do quyết
định về việc phê duyệt phương án đền bù giải phóng mặt bằng công trình số
3712/QĐ-CT ngày 26/8/2002 của UBND tỉnh V (cũ) có đền bù về đất hơn
153.000.000đồng trong khi khu vực đền bù lại không có đất phải bồi thường; cần
xác định 11 hộ gia đình theo quyết định giao đất đã được giao đất trên thực tế
hay chưa; thực tế có hồ sơ thu hồi đất và giao đất cho các hộ dân không. Hội
đồng xét xử thấy: Qua xác minh tại địa phương và các tài liệu trong hồ sơ thể
hiện bản đồ 299 phù hợp với sổ mục kê nên có đủ căn cứ xác định ban đầu thửa
đất số 15 tờ bản đồ 68 là đất giao thông do UBND xã quản lý. Việc UBND tỉnh
phê duyệt phương án đề bù có đền bù về đất là 153.000.000đồng hay không? địa
phương đã giao đất hay chưa? có tìm thấy hồ sơ thu hồi và giao đất cho 11 hộ
dân hay không? những việc trên đều có sau khi lập bản đồ 299 nên không ảnh
hưởng đến việc xác định nguồn gốc thửa đất ban đầu là đất giao thông hay đất
lâm nghiệp. Nên đề nghị trên của đại diện hợp pháp của người khởi kiện không
được chấp nhận.
[3]. Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H xác định thửa đất số 30 diện tích
703m
2
không phải của ông Nguyễn Văn K và không phải là đất lâm nghiệp khai
hoang để từ đó ban hành Quyết định số 340/QĐ-UBND ngày 25/11/2024 về việc
giải quyết khiếu nại (lần đầu), theo đó giữ nguyên giá trị văn bản số 374/UBND-
ĐCXD ngày 31/8/2024 của UBND xã H về việc trả lời nội dung đề nghị của bà
Vũ Thị T và ông Đỗ Văn T3 là đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị T là có căn cứ.
[4]. Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm. Đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, cần được chấp nhận.
[5]. Về án phí: Do không chấp kháng cáo của người khởi kiện nên người
khởi kiện phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án.
Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Vũ Thị T.

13
Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2025/HC-ST
ngày 30/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Vũ Thị T phải chịu 300.000đồng,
được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0005734 ngày 24/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Bà T đã nộp đủ
án phí hành chính phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 9 – Phú Thọ;
- VKSND khu vực 9 – Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ (Phòng THADS
khu vực 9 – Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, VP.NHÂN DÂN
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Nghĩa
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 02/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 01/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 29/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 28/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm