Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 29/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 24/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 29/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ |
| Số hiệu: | 24/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/08/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Hậu - Kiên tranh chấp hôn nhân |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC Y-PHÚ THỌ
Bản án số: 24/2025/HNGĐ- ST
Ngày 29 tháng 8 năm 2025
V/v Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC Y – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành và bà Trần Thị Kim Khuyên.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Minh Triều - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực Y-Phú
Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực Y-Phú Thọ tham gia phiên toà:
Ông Phùng Đức Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực Y- Phú Thọ
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 102/2025/TLST- HNGĐ ngày 20
tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 102/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2025 giữa các
đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị K.T.H, sinh năm 1993 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn R.C, xã TL, tỉnh Phú Thọ.
2.Bị đơn: Anh K.V.K, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn R.C, xã TL, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 05/5/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa nguyên đơn chị K.T.H trình bày:
Chị kết hôn với anh K.V.K ngày 30/12/2016. Trước khi kết hôn có được tự do
tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã XY, huyện TL, tỉnh
Vĩnh Phúc (nay là xã TL, tỉnh Phú Thọ). Sau khi cưới chị về làm dâu và ở chung
cùng gia đình nhà chồng. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc thời
gian sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp
nhau, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm. Anh K là người không chăm
chỉ làm ăn, ham chơi nên nghiện ma túy. Mâu thuẫn đỉnh điểm từ năm 2019 anh K
bị bắt và xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, án phạt 02 năm 06 tháng tù,
sau khi chấp hành án xong anh K vẫn không thay đổi thường xuyên đi theo bạn bè
và sử dụng ma túy. Chị H và gia đình khuyên bảo nhưng anh K không thay đổi nên
tháng 5/2025 chị đưa con về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến
nay. Đến nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải
2
quyết cho được ly hôn anh K.V.K.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là K.T.K, sinh ngày 28/7/2018,
hiện nay đang ở cùng chị H. Ly hôn chị H xin nuôi con, không yêu cầu anh K
phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị H không
đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh K.V.K, Tòa án báo gọi nhiều lần nhưng anh K không đến Tòa
làm việc nên không tiến hành hòa giải được. Tại biên bản lấy lời khai ngày
24/7/2025 ông K.V.C là bố anh K trình bày: Ông kết hôn cho anh K lấy chị H
năm 2016. Sau khi kết hôn chị H về làm dâu và chung sống cùng gia đình ông,
quá trình chung sống đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do anh K vi phạm
pháp luật liên quan đến ma túy và phải đi chấp hành án, sau khi chấp hành ánh
xong anh K vẫn không thay đổi, không quan tâm đến vợ con, nên chị H xin phép
ông đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 5/2025 đến nay. Chị H xin ly hôn anh K
ông không có ý kiến gì. Hiện nay anh K vẫn ở cùng gia đình ông, anh đi làm ở
đâu ông cũng không biết những lần Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án và gửi giấy
triệu tập của Tòa án cho anh K, ông có giao và thông báo cho anh K nhưng anh K
bận đi làm nên không đến Tòa án làm việc, anh có nói với ông là tùy chị H quyết
định. Về con chung vợ chồng có 01 con chung như chị H trình bày là đúng, hiện
nay cháu đang ở cùng chị H. Ly hôn ông mong muốn chị H được nuôi con. Về tài
sản, công nợ, công sức của anh chị ông không có ý kiến gì.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/7/2025 cháu K.T.K trình bày: Hiện nay
cháu ở cùng mẹ, nếu bố mẹ ly hôn cháu xin ở cùng mẹ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực Y- Phú Thọ phát
biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Quá trình giải
quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy
định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ, bị đơn
không chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ. Về nội dung vụ án đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H. Về con chung đề nghị Hội
đồng xét xử giao cho chị H trực tiếp nuôi con, chị H không yêu cầu cấp dưỡng
nên không xem xét. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp:
Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, anh K vắng mặt nên
không xem xét. Về án phí chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công
khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
3
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị K.T.H
khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với anh K.V.K, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại
xã XH, huyện TL, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã TL, tỉnh Phú Thọ). Đây là tranh chấp
hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TL,
tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Tòa án nhân dân Khu vực Y- Phú Thọ) theo quy định tại
khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015.
[2] Về pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án: Ngày 05/5/2025 chị K.T.H có
đơn xin ly hôn anh K.V.K. Vì vậy pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án là Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về tố tụng: Anh K.V.K vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án
tiến hành xét xử vắng mặt anh K theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về nội dung vụ án: Cuộc hôn nhân giữa chị K.T.H và anh K.V.K là tự
nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tiến bộ.
Về tình cảm: Sau khi kết hôn chị H, anh K có thời gian hòa thuận, hạnh
phúc. Quá trình vợ chồng chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do
tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, anh K
là người ham chơi không quan tâm đến gia đình lại nghiện ma túy. Mâu thuẫn đỉnh
điểm từ năm 2019 anh K bị bắt và xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, án
phạt 02 năm 06 tháng tù, sau khi chấp hành án xong anh K vẫn không thay đổi
thường xuyên đi theo bạn bè và sử dụng ma túy. Chị H và gia đình khuyên bảo
nhưng anh không thay đổi nên tháng 5/2025 chị đưa con về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng
sống ly thân từ đó cho đến nay anh K cũng không có ý đón vợ con về đoàn tụ,
thường xuyên vắng nhà. Đến nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn xin
được ly hôn anh K. Anh K không đến Tòa án làm việc nên không rõ quan điểm ra
sao nhưng điều đó thể hiện anh không mong muốn đoàn tụ. Xác minh tại địa
phương xã Lập Thạch thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn là do anh K chơi bời, vi
phạm pháp luật chị H về nhà mẹ đẻ ở. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng,
mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chị H xin ly hôn là có căn cứ, vì vậy cần
áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị K.T.H được ly hôn anh
K.V.K.
Về con chung:
Xét đề nghị của chị H, Hội đồng xét xử thấy rằng
hiện nay
cháu Kiệt đang ở cùng chị H. Anh K không đến Tòa không biết quan điểm ra sao
vì vậy cần giao cho chị H trực tiếp nuôi con cũng là phù hợp với nguyện vọng
của cháu Kiệt. Chị H không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị H không đề
nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh K không đến Tòa
4
không biết quan điểm ra sao nên
Hội đồng xét xử không xem xét, khi nào anh K có
yêu cầu Tòa án giải quyết bằng việc kiện dân sự khác.
[5] Về án phí: Chị K.T.H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn
cứ, được xem xét khi quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố
tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho chị K.T.H được ly hôn anh K.V.K.
2. Về con chung: Giao cho chị K.T.H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục cháu Khổng Tuấn Kiệt, sinh ngày 28/7/2018 cho đến khi thành niên đủ
18 tuổi lao động tự túc được
, (hiện nay cháu Kiệt đang ở cùng chị H)
. Anh K không
phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Người không trực tiếp nuôi con có
quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị H không
đề nghị Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị K.T.H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia
đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng
theo biên lai số: 0007679 ngày 20/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Lập Thạch (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực Y- Phú Thọ). Chị H đã nộp
đủ tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị H có mặt
có quyền kháng cáo bản án, anh K vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp
luật.
Nơi nhận:
- Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực Y- Phú Thọ;
- Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ;
- Các đương sự (để thi hành);
- UBND xã TL (để vào sổ hộ tịch);
- Lưu hồ sơ, Văn phòng.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Công Sinh
5
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Trung Thành – Trần Thị Kim Khuyên Nguyễn Công Sinh
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Hợp Lý: Việc kết hôn giữa chị Lan và anh
Đức được Ủy ban nhân dân xã Hợp Lý đăng ký kết hôn ngày 27/10/2021, sau ngày
cưới chị Lan về làm dâu gia đình anh Đức, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận.
Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, vợ
chồng thường xuyên xẩy ra va chạm, hiện nay không thấy chị Lan ở gia đình anh
Đức. Anh Đức hiện nay vẫn sinh sống và làm việc tại thôn Tân Lập, xã Hợp Lý.
Nay chị Lan xin ly hôn anh Đức đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
16
17
18
19
20
21
22
23
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Bản án số 45/2025/HNGĐ-PT ngày 25/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm