Bản án số 234/2022/DS-PT ngày 29/08/2022 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 234/2022/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 234/2022/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 234/2022/DS-PT ngày 29/08/2022 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 234/2022/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/08/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán toàn bộ vốn vay và lãi tạm tính đến ngày 25/5/2022 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 234/2022/DS-PT
Ngày 29 – 08 – 2022
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Ông Huỳnh Văn Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện – Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông
Nguyễn Văn Điện – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 159/2022/TLPT-DS ngày 11 tháng 7
năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 118/2022/DS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2022
của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 136/2022/QĐ-PT ngày
18 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng B.
Địa chỉ: quận H, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T, chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng quản trị.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đoàn Mĩ L, sinh năm 1991,
chức vụ: Chuyên viên phòng quản lý rủi ro Ngân hàng B, Chi nhánh Đất Mũi theo
(Văn bản ủy quyền số: 1197/QĐ-BIDV.ĐM ngày 12/11/2020) (có mặt).
Địa chỉ: Số 27, đường N, phường 2, thành phố C, tỉnh C.
- Bị đơn:
1. Ông Võ Huỳnh H, sinh năm 1982 (vắng mặt);
2. Bà Võ Kim M1, sinh năm 1982 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Số 13, đường M, khóm 5, phường 5, thành phố C, tỉnh C ..
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Ông Trần Văn D, sinh năm: 1965 ;
Địa chỉ: Số 101, khóm 2, phường T, TP. C, tỉnh C.
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Văn D: Ông Hồ Vũ P1, sinh năm:
1980; Địa chỉ: Số 450 đường N, khóm 6, phường 9, TP. C, tỉnh C (Văn bản ủy
quyền ngày 09/12/2020) (có mặt).
2. Ông Võ Văn B, sinh năm: 1944 (vắng mặt);
3. Bà Nguyễn Thị M2, sinh năm: 1946 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh C.
4. Ông Nguyễn Vĩnh P2, sinh năm: 1977 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số 259, Đường P, khóm 5, phường 7, thành phố C, tỉnh C.
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn, người đại diện Ngân hàng B trình bày:
Ngân hàng có cho ông Võ Huỳnh H, bà Võ Kim M1 vay tiền nhiều lần, cụ
thể:
Tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 239/2019/8284798/HĐTD ngày 29
tháng 11 năm 2019, văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số:
021/2020/8284798/HĐTD ngày 12 tháng 02 năm 2020 và các hợp đồng tín dụng
số: 239.2/2019/8284798/HĐTD ngày 13 tháng 02 năm 2020, hợp đồng số
239.3/2019/8284798/HĐTD ngày 05 tháng 05 năm 2020, ông H, bà M1 vay số
tiền: 6.500.000.000 đồng, thời hạn cấp hạn mức vay là 12 tháng, thời hạn vay vốn
theo hợp đồng tín dụng là 5 tháng; lãi suất cho vay 8,5%/năm cố định trong thời
hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụng số: 239.2/2019/8284798/HĐTD ngày 13 tháng
02 năm 2020; lãi suất 8,0%/năm cố định trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín
dụng số 239.3/2019/8284798/HĐTD ngày 05/05/2020; lãi suất nợ quá hạn: 150%
lãi suất trong hạn, lãi chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả: 10%/năm tính trên
số tiền lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Tại Hợp đồng tín dụng số: 233/2019/8284798/HĐTD ngày 28/11/2019 và
bảng kê rút vốn ngày 28/11/2019, số tiền vay 5.500.000.000 đồng. Thời hạn vay
240 tháng. Lãi suất cho vay 8,0%/năm cố định trong vòng 12 tháng đầu; Lãi suất
quá hạn áp dụng đối với nợ gốc quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn. Lãi chậm
trả 10%/năm.
Các hợp đồng tín dụng trên được đảm bảo bằng 05 quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp bất động sản
số: 030/2020/8284798/HĐBĐ ký ngày 12 tháng 02 năm 2020;
021/2020/8284798/HĐBĐ ký ngày 12 tháng 02 năm 2020;
239/2019/8284798/HĐBĐ ký ngày 29 tháng 11 năm 2019 và
233/2019/8284798/HĐBĐ ký ngày 28/11/2019, chi tiết các tài sản đảm bảo cho
khoản nợ vay gồm: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số CC 428369 do UBND huyện Đầm Dơi cấp ngày
3
02/11/2015, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 00338; thuộc sở hữu của bà Võ
Kim M1; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CP 281963 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Cà Mau cấp
ngày 25/01/2019, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS00661, thuộc sở hữu của bà
Võ Kim M1; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số Y 342211 do UBND TP.Cà
Mau cấp ngày 17/11/2003, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 655 QSDĐ/TPCM,
thuộc sở hữu của bà Võ Kim M1 - ông Võ Huỳnh H; Giấy chứng nhận Quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 350261 do Sở
tài nguyên và môi trường tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 29/10/2019, số vào sổ cấp giấy
chứng nhận: CS04305, thuộc sở hữu của bà Võ Kim M1 - ông Võ Huỳnh H. Giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số CT 350260 do UBND thị xã Giá Rai cấp ngày 05/11/2019, số vào sổ cấp giấy
chứng nhận: CN 04306, chỉnh lý sang bà Võ Kim M1 - ông Võ Huỳnh H ngày
25/11/2019.
Đến thời điểm hiện tại, bà Võ Kim M1 - ông Võ Huỳnh H vẫn không thực
hiện việc trả nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán toàn
bộ vốn vay và lãi tạm tính đến ngày 25/5/2022: Hợp đồng tín dụng số:
239/2019/8284798/HĐTD ngày 29/11/2019 là: 8.148.353.392 đồng. Trong đó: Nợ
gốc: 6.500.000.000 đồng, nợ lãi: 1.648.353.392 đồng và lãi phát sinh cho đến khi
thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ. Hợp đồng tín dụng số: 233/2019/8284798/HĐTD
ngày 28/11/2019 là: 6.486.362.502 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 5.362.498.000 đồng,
nợ lãi: 1.124.864.502 đồng. Như vậy, số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 25/5/2022
của 02 hợp đồng tín dụng là: 14.635.715.894 đồng, trong đó: nợ gốc:
11.862.498.000 đồng, nợ lãi: 2.773.217.894 đồng và lãi phát sinh cho đến khi bà
Võ Kim M1 - ông Võ Huỳnh H thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ đối với Ngân
hàng và đề nghị xử lý đối với các tài sản bảo đảm để thi hành án.
Bị đơn, bà Võ Kim M1 trình bày: Vào năm 2019, bà và ông Võ Huỳnh H có
ký hợp đồng vay tiền của Ngân hàng Bđúng như Ngân hàng khởi kiện. Khi vay bà
có thế chấp các tài sản đúng như đơn khởi kiện của Ngân hàng. Nay, bà thống nhất
thanh toán số tiền nợ vay và lãi phát sinh theo hợp đồng và phát mãi tài sản để thu
hồi nợ cho Ngân hàng trong trường hợp bà không thanh toán hoặc thanh toán
không đủ số nợ trên. Các thửa đất số 79 và số 229, tờ bản đồ số 02, diện tích
16.840m
2
, tọa lạc tại ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh C . là tài sản cá nhân của bà, hiện
trạng có nhà trên đất do cha mẹ ruột của bà là ông Võ Văn B và bà Nguyễn Thị M2
đang sinh sống. Đối với thửa đất số 134, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại khóm 2,
phường Tân Thành, Thành phố Cà Mau có nguồn gốc đất là nhận chuyển nhượng
của ông Trần Văn D, khi chuyển nhượng bà còn nợ lại ông D một số tiền và theo
thỏa thuận sau khi đối trừ tiền chuyển mục đích sử dụng tương đương 100m
2
đất
thổ cư tại thời điểm nhận chuyển nhượng số tiền còn lại bà sẽ trả cho ông D. Phần
đất này, bà cho ông D mượn để sử dụng. Đối với thửa đất 067, tờ bản đồ số 13, tọa
lạc tại đường Tô Hiến Thành, khóm 8, phường 5, Thành phố Cà Mau do bà đứng
tên. Ông H đang sử dụng. Đối với thửa đất số 442 và 443, tờ bản đồ số 1, tọa lạc
tại ấp 8, xã Tân Thạnh, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu do bà đứng tên. Phần đất này
hiện tại là đất trống.
4
Bị đơn, ông Võ Huỳnh H trình bày: Ông và bà Võ Kim M1 có ký hợp đồng
vay tiền với Ngân hàng Bvà có thế chấp các tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất đúng như đơn khởi kiện của Ngân hàng B. Ông đồng ý thanh toán
số tiền nợ cho Ngân hàng Btheo yêu cầu của Ngân hàng, đồng ý phát mãi các tài
sản đã thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng B.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn D yêu cầu Tòa án buộc ông và
bà M1 thanh toán số tiền nợ 950.000.000 đồng từ việc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất phần đất tọa lạc tại khóm 2, phường Tân Thành, TP. Cà Mau, tỉnh Cà
Mau, ông không đồng ý. Vì, việc giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
bà M1 với ông D, tuy ông có ký tên nhưng ông không biết sự việc gì hết. Bà M1 và
ông D ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đến giai đoạn nào và thực
hiện hợp đồng ra sao thì ông không biết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Võ Văn B, bà Nguyễn Thị M2
trình bày: Vào năm 2015, ông, bà có cho tặng riêng con gái là bà Võ Kim M1 phần
đất tọa lạc tại ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh C . giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đứng tên bà Võ Kim M1. Hiện trên phần đất có căn nhà cấp 4, xây tường xung
quanh, căn nhà này do ông B và bà M2 bỏ tiền ra xây cất và đang quản lý sử dụng.
Ông B, bà M2 biết bà M1 thế chấp phần đất này để vay tiền Ngân hàng. Ông B, bà
M2 không có ý kiến gì và cũng không yêu cầu gì trong vụ án này, yêu cầu Tòa án
giải quyết theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Trần Văn D và người đại diện
theo ủy quyền của ông D, ông Hồ Vũ P1 trình bày: Vào năm 2019, ông Trần Văn
D và bà Võ Kim M1, ông Võ Huỳnh H có ký hợp đồng chuyển nhượng phần đất
tại khóm 2, phường Tân Thành, TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau, giá ghi trong hợp đồng
là 100.000.000 đồng. Thực tế, giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là
1.950.000.000 đồng. Bà M1, ông H đã trả cho ông D số tiền 1.000.000.000 đồng,
còn lại 950.000.000 đồng có thỏa thuận đến ngày 31/8/2019 bà M1 chuyển mục
đích sử dụng đất 100m
2
từ đất lập vườn lên đất thổ cư xong, bà M1 sẽ có trách
nhiệm thanh toán số tiền còn thừa cho ông D. Nhưng do bà M1 không làm thủ tục
chuyển thổ cư nên ông D yêu cầu bà M1, ông H phải thanh toán lại toàn bộ số tiền
950.000.000 đồng. Đối với phần đất đã chuyển nhượng, ông D vẫn là người quản
lý. Đến ngày 12/11/2020, ông Trần Văn D có ký kết hợp đồng cho ông Nguyễn
Vĩnh P2 thuê đất để làm cơ sở thu mua phế liệu, thời hạn thuê đất là 03 năm, ông
P2 đã thanh toán đủ tiền 03 năm là 144.000.000 đồng. Ông D vẫn thống nhất tiếp
tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất với ông H, bà M1, chỉ tranh chấp số
tiền phải thanh toán còn lại. Ông D sẽ tự thỏa thuận giải quyết hợp đồng thuê đất
với ông P2 để bàn giao đất cho bà M1, ông H theo đúng qui định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Vĩnh P2 trình bày: Vào
ngày 12/11/2020 ông với ông Trần Văn D có ký kết hợp đồng thuê đất, phần đất
tọa lạc tại khóm 2, phường Tân Thành, thành phố Cà Mau để làm cơ sở thu mua
phế liệu tên “9 Rồng” do ông làm chủ, thời hạn thuê đất là 03 năm, tiền thuê đất là
48.000.000đồng/năm, diện tích thuê là ngang mặt tiền 15m, dài 40m, ngang mặt
hậu 09m, ông P2 xác định đã thanh toán tiền thuê đất cho ông D đủ 03 năm là
144.000.000đồng. Hiện trên phần đất có cất 01 căn nhà tiền chế và xung quanh đất
5
có dựng hàng rào sắt để chứa phế liệu. Hợp đồng thuê đất ký kết giữa ông với ông
D chưa đến hạn, giữa ông và ông D chưa phát sinh tranh chấp. Nay phía Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt N khởi kiện yêu cầu bà M1, ông H thanh
toán tiền vay và xử lý tài sản thế chấp. Ông không yêu cầu giải quyết quyền lợi của
ông trong vụ án này. Nếu có tranh chấp, ông sẽ khởi kiện ông D sau.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số:118/2022/DS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2022
của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:
Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng B. Buộc ông Võ Kim M1 và ông Võ
Huỳnh H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng B tổng số tiền vốn và lãi là
14.635.715.894 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp
tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi
suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ
gốc này. Trường hợp, hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi
suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng
vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án
cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho
vay.
Buộc Ngân hàng có nghĩa vụ trả lại cho ông H, bà M1 các bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp khi ông H, bà M1 thanh toán xong các
nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản.
Trong trường hợp bà Võ Kim M1 và ông Võ Huỳnh H không thanh toán
khoản nợ gốc và lãi nêu trên thì Ngân hàng B có quyền yêu cầu Chi cục thi hành
án dân sự thành phố Cà Mau kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm cho khoản vay trên
là các quyền sử dụng đất:
+ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CC 428369 do UBND huyện Đầm Dơi cấp ngày 02/11/2015, số
vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 00338; 09/11 2015, đứng tên bà Võ Kim M1 phần
đất tọa lạc tại ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh C ..
+ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CP 281963 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Cà Mau cấp
ngày 25/01/2019, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS00661, đứng tên bà Võ Kim
M1, phần đất tọa lạc tại khóm 2, phường Tân Thành, TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau
+ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền số Y 342211 do UBND TP.Cà
Mau cấp ngày 17/11/2003, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 655 QSDĐ/TPCM,
đứng tên bà Võ Kim M1 và ông Võ Huỳnh H. Phần đất tọa lạc tại phường 5, TP.
Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
+ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CT 350261 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bạc Liêu cấp
ngày 29/10/2019, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS04305, đứng tên bà Võ Kim
M1 và ông Võ Huỳnh H. Phần đất tọa lạc tại ấp 8, xã Tân Thạnh, thị xã Giá Rai,
tỉnh Bạc Liêu.
6
+ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CT 350260 do UBND thị xã Giá Rai cấp ngày 05/11/2019, số
vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 04306, đứng tên bà Võ Kim M1 và ông Võ
Huỳnh H. Phần đất tọa lạc tại ấp 8, xã Tân Thạnh, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Buộc bà M1, ông H di dời khỏi phần đất tại phường 5, thành phố Cà Mau và
buộc ông B, bà M2 di dời ra khỏi phần đất tại ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh C . cho
Ngân hàng phát mãi thu hồi nợ trong trường hợp ông H, bà M1 không thanh toán
hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ trên.
Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Văn D buộc bà Võ Kim M1 và
ông Võ Huỳnh H trả lại cho ông Trần Văn D số tiền 242.000.000 đồng. Không
chấp nhận số tiền chênh lệch là 708.000.000 đồng. Buộc ông Trần Văn D, ông
Nguyễn Vĩnh P2 có trách nhiệm tháo dỡ, di dời toàn bộ nhà và tài sản trên đất giao
trả lại cho bà Võ Kim M1 và ông Võ Huỳnh H phần đất tổng diện tích 430,90m
2
,
theo mảnh trích đo địa chính số 4052-1018, thửa 134, tờ bản đồ số 16, tại khóm 2,
phường Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau cho bà Võ Kim M1 và ông
Võ Huỳnh H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 281963 do Sở
tài nguyên và môi trường tỉnh Cà Mau cấp ngày 25/01/2019, số vào sổ cấp giấy
chứng nhận: CS00661. Ngân hàng có quyền phát mãi thu hồi nợ trong trường hợp
ông H, bà M1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ trên.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 17/6/2022, ông Trần Văn D kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung
yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông D.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông D giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Người đại diện theo ủy quyền của ông D, ông Hồ Vũ P1 tranh luận:
Bà M1, ông H thiếu ông D số tiền 950.000.000 đồng và thỏa thuận đến ngày
31 tháng 8 năm 2019 sẽ thực hiện chuyển đổi 100 m
2
lên đất thổ cư, đối trừ số tiền
thuế chuyển đổi lên đất thổ cư; số tiền còn lại, ông H, bà M1 sẽ trả cho ông D. Đến
nay, ông H, bà M1 chưa thực hiện là vi phạm thỏa thuận trên.
Bà M1 có thỏa thuận miệng với ông D: Do bà M1 vay Ngân hàng không thể
lấy sổ đỏ chuyển lên đất thổ cư được nên bà M1 sẽ trả cho ông D số tiền đã nợ. Do
đó, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm. Buộc ông H, bà M1 trả cho ông D
số tiền 950.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn D. Giữ
7
nguyên bản án sơ thẩm số 118/2022/DS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2022 của Tòa án
nhân dân thành phố Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Trần Văn D, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ông Võ Huỳnh H, bà Võ Kim M1 và ông Trần Văn D thống nhất: Vào
ngày 17 tháng 01 năm 2019, ông D có chuyển nhượng cho ông H, bà M1 quyền sử
dụng phần đất diện tích 430, 90 m
2
, thuộc thửa số 134, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại
khóm 2, phường Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau với giá
1.950.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng, ông H, bà M1 đã trả cho ông D số tiền
1.000.000.000 đồng. Ông D yêu cầu ông H, bà M1 trả số tiền còn thiếu
950.000.000 đồng. Ông H, bà M1 yêu cầu số tiền 950.000.000 đồng trừ tiền thuế
chuyển từ đất trồng cây lâu năm lên đất ở, rồi mới trả số tiền còn lại. Như vậy, các
đương sự chỉ tranh chấp số tiền còn lại, ông H, bà M1 phải trả cho ông D.
[2] Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H, bà M1
với ông D không thể hiện điều kiện chuyển 100 m
2
từ đất trồng cây lâu năm thành
đất ở nhưng ông D thừa nhận có việc thỏa thuận giá chuyển nhượng 1.950.000.000
đồng trừ thuế 100 m
2
chuyển từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở; còn lại bao
nhiêu ông H, bà M1 trả cho ông D. Điều này phù hợp với biên nhận của bà Võ
Kim M1 ngày 22 tháng 8 năm 2019 với nội dung: Bà M1 có thiếu tiền mua đất của
ông D là 950.000.000 đồng khi nào xử lý xong 100 m
2
đất thổ cư (đóng bao nhiêu
còn lại sẽ đưa đủ cho ông D) trong tuần sau đến ngày 31 tháng 8 năm 2019. Như
vậy, giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các đương sự đã bao gồm điều
kiện chuyển 100 m
2
từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở. Do đó, thực chất các
đương sự thống nhất giá 1.950.000.000 đồng trong đó có 100 m
2
đất ở. Tại phiên
tòa, đại diện theo ủy quyền của ông D cũng thừa nhận: Khi thỏa thuận giá có điều
kiện chuyển 100 m
2
từ đất trồng cây lâu năm lên đất ở. Như vậy, số tiền chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H, bà M1 với ông D đã bao gồm tiền thuế
chuyển 100 m
2
từ đất trồng cây lâu năm lên đất ở.
[3] Ông D căn cứ vào biên nhận với cam kết thời hạn chuyển mục đích sử
dụng đất từ trồng cây lâu năm thành đất thổ cư hạn cuối vào ngày 31 tháng 8 năm
2019 để xác định ông H, bà M1 vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng để yêu cầu
ông H, bà M1 trả toàn bộ số tiền 950.000.000 đồng không trừ thuế là không có căn
cứ. Vì việc trừ thuế là điều kiện bắt buộc trong hợp chuyển nhượng quyền sử dụng
đất trên và giá trị của hợp đồng bao gồm cả tiền thuế chuyển 100 m
2
đất thổ cư như
nhận định trên. Do đó, kháng cáo của ông D là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng
cáo của ông D. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số:118/2022/DS-ST ngày 26 tháng 5
năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử
phúc thẩm có điều chỉnh cách tuyên án để dễ thi hành án.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Dũng phải chịu 300.000 đồng. Ông D có
nộp tạm ứng 300.000 đồng được chuyển thu, đối trừ.
8
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn D.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 118/2022/DS-ST ngày 26 tháng 5
năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng B.
Buộc ông Võ Kim M1 và ông Võ Huỳnh H có trách nhiệm thanh toán cho
Ngân hàng Bsố tiền 14.635.715.894 đồng và lãi phát sinh từ ngày 27/5/2022 đến
khi ông H, bà M1 thanh toán xong nợ cho Ngân hàng theo lãi suất được quy định
tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 239/2019/8284798/HĐTD ngày 29 tháng 11
năm 2019, văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số:
021/2020/8284798/HĐTD ngày 12 tháng 02 năm 2020; hợp đồng tín dụng số:
239.2/2019/8284798/HĐTD ngày 13 tháng 02 năm 2020; hợp đồng số
239.3/2019/8284798/HĐTD ngày 05 tháng 05 năm 2020; Hợp đồng tín dụng số:
233/2019/8284798/HĐTD ngày 28/11/2019 và bảng kê rút vốn ngày 28/11/2019.
Buộc Ngân hàng có nghĩa vụ trả lại cho ông H, bà M1 các bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp khi ông H, bà M1 thanh toán xong nợ
cho Ngân hàng.
Trong trường hợp bà Võ Kim M1 và ông Võ Huỳnh H không thanh toán
khoản xong nợ trên, Ngân hàng Bcó quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự
thành phố Cà Mau kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là các
quyền sử dụng đất:
+ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CC 428369 do UBND huyện Đầm Dơi cấp ngày 02/11/2015, số
vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 00338; 09/11 2015, đứng tên bà Võ Kim M1 phần
đất tọa lạc tại ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh C ..
+ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CP 281963 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Cà Mau cấp
ngày 25/01/2019, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS00661, đứng tên bà Võ Kim
M1, phần đất tọa lạc tại khóm 2, phường Tân Thành, TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau
+ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền số Y 342211 do UBND TP.Cà
Mau cấp ngày 17/11/2003, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 655 QSDĐ/TPCM,
đứng tên bà Võ Kim M1 và ông Võ Huỳnh H. Phần đất tọa lạc tại phường 5, TP.
Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
9
+ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CT 350261 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bạc Liêu cấp
ngày 29/10/2019, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS04305, đứng tên bà Võ Kim
M1 và ông Võ Huỳnh H. Phần đất tọa lạc tại ấp 8, xã Tân Thạnh, thị xã Giá Rai,
tỉnh Bạc Liêu.
+ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CT 350260 do UBND thị xã Giá Rai cấp ngày 05/11/2019, số
vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 04306, đứng tên bà Võ Kim M1 và ông Võ
Huỳnh H. Phần đất tọa lạc tại ấp 8, xã Tân Thạnh, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
Buộc bà Mẫn, ông Hảnh di dời khỏi phần đất tại phường 5, thành phố Cà
Mau và buộc ông B, bà M2 di dời ra khỏi phần đất tại ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh C
. cho Ngân hàng phát mãi thu hồi nợ trong trường hợp ông H, bà M1 không thanh
toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ trên.
Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Văn D. Buộc bà Võ Kim M1 và
ông Võ Huỳnh H trả lại cho ông Trần Văn D số tiền 242.000.000 đồng. Không
chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn D số tiền 708.000.000 đồng. Buộc ông Trần
Văn D, ông Nguyễn Vĩnh P2 có trách nhiệm tháo dỡ, di dời toàn bộ nhà và tài sản
trên đất giao trả lại cho bà Võ Kim M1 và ông Võ Huỳnh H phần đất tổng diện tích
430,90m
2
, theo mảnh trích đo địa chính số 4052-1018, thửa 134, tờ bản đồ số 16,
tại khóm 2, phường Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau cho bà Võ Kim
M1 và ông Võ Huỳnh H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP
281963 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Cà Mau cấp ngày 25/01/2019, số vào
sổ cấp giấy chứng nhận: CS00661.
Kể từ ngày ông Trần Văn D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Võ Kim M1
và ông Võ Huỳnh H không thi hành xong số tiền trên, thì phải trả thêm khoản lãi
phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền
và thời gian chậm thi hành.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Kim M1 và ông Võ Huỳnh H phải chịu số
tiền 134.735.716 đồng (Chưa nộp). Ông Trần Văn D phải chịu số tiền 32.320.000
đồng; ngày 01/6/2021, ông Trần Văn D có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000
đồng tại biên lai số 0001137, được đối trừ; ông Trần Văn D phải tiếp tục nộp số
tiền 32.020.000 đồng. Ngân hàng Bkhông phải chịu án phí; ngày 30/11/2020, Ngân
hàng có nộp tạm ứng số tiền 60.147.000 đồng tại Biên lai số 0000284 được nhận
lại.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn D phải chịu 300.000 đồng; ngày
17/6/2022, ông D có nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số
0001582 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được chuyển thu, đối
trừ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
10
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau;
- Chi cục THADS thành phố Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Minh Trung
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 03/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 16/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 12/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 09/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 04/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm