Bản án số 545/2026/DS-PT ngày 30/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 545/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 545/2026/DS-PT ngày 30/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 545/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thanh T kiện đòi tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 545/2026/DS-PT Bản án số 545/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 545/2026/DS-PT Bản án số 545/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 545/2026/DS-PT
Ngày 30 - 7 - 2026
V/v kiện đòi tài sản quyền sử dụng
đất, yêu cầu hủy văn bản phân chia
thừa kế hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Quý Chi
Bà Phạm Thị Nga
Ông Lê Văn An
- Thư phiên tòa: Hoàng Minh Thư - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Nai
xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 478/2026/TLPT-DS ngày
07/7/2026 về việc Kiện đòi tài sản quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy văn bản
phân chia thừa kế và hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do Bản án
dân sự thẩm số 73/2025/DS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 8 - Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 529/2026/QĐXXPT-DS
ngày 06 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Lê Thị Thanh T, sinh năm 1955, địa chỉ: Số nhà E, Tổ B,
ấp T, xã T, tỉnh (nay là: phường T, thành phố) Đồng Nai. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- Ông Vũ Ngọc H, sinh năm 1977, địa chỉ: Khu phố F, phường T, thành phố
Đ. (vắng mặt)
- Ông Phạm Thế P, sinh năm 1987, địa chỉ: Ấp T, phường T, TP .. (có mặt)
2. Bị đơn: Trần Thị Phi L, sinh năm 1960, địa chỉ: Số nhà A, Tổ F, ấp T,
xã T, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Bích P1, sinh năm 1969 (có mặt)
2
- Bà Trần Thị Bích C, sinh năm 1970 (có mặt)
- Bà Trần Thị Nữ L1, sinh năm 1972 (có mặt)
- Ông Trần Hữu P2, sinh năm 1989 (vắng mặt)
- Chị Trần Thị Tuyết T1, sinh năm 1992 (vắng mặt)
- Cháu Trần Triệu N, sinh năm 2010 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số nhà A, tổ F, ấp T, xã T, tỉnh (nay là: phường T, thành phố)
Đồng Nai.
- Chị Ka S, sinh năm 1994 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Ngọc T2 (vắng mặt)
Cùng nơi thường trú: Khu phố A, xã T, tỉnh Đồng Nai; ng chỗ ở hiện nay:
Số A, Tổ F, ấp T, xã T, tỉnh (nay là: phường T, thành phố) Đồng Nai.
- Bà Lê Thị H1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
- Cháu Lê Ông Quy L2, sinh năm 2013 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ F, ấp T, xã T, tỉnh (nay là: phường T, thành phố) Đồng Nai.
- Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người kế thừa quyền, nghĩa vtố tụng: Ủy ban nhân dân T, tỉnh Đồng
Nai, nay là: UBND phường T, thành phố Đ; địa chỉ: Số A N, xã T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Ngọc H2 Chức vụ: Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã T, tỉnh (nay là: phường T, thành phố ) Đồng Nai).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Minh T3 Chức vụ: Trưởng phòng
Kinh tế xã T, tỉnh Đồng Nai. (xin vắng mặt)
4. Người kháng cáo: bị đơn Trần Thị Phi L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/11/2017 lời khai trong quá trình tố tụng
tại phiên tòa, nguyên đơn Thị Thanh T người đại diện của nguyên đơn
trình bày:
Trần Thị Phi L được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AQ 104812 ngày 30/9/2009, diện tích 942,7 m
2
thuộc thửa 43 tờ bản đồ
số 10 thị trấn T, huyện T. Đến năm 2010, L hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Lê Thị Thanh T. Hợp đồng chuyển nhượng được
Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T chứng thực vào ngày 13/5/2010. Thời điểm ký
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đã sẵn một căn nhà cấp 4
hai bên thỏa thuận vừa chuyển nhượng QSDĐ cả căn nhà trên đất, với giá
50.000.000 đồng; bà T đã thanh toán đầy đủ số tiền cho bà L, bà L cũng đồng ý bàn
giao đất nhà cho T. Tuy nhiên, do T chưa nhu cầu sử dụng nhà, đất
L xin được tiếp tục nhờ một thời gian khi nào T muốn lấy nhà thì L sẽ
trả. Đến tháng 12/2013, Thị Thanh T được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BB 882023 do UBND huyện T cấp ngày 02/12/2013 với thửa đất s
43, tờ bản đồ số 10 thị trấn T diện tích 942,7m
2
. Sau khi được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất bà T vẫn cho bà L tiếp tục ở lại căn nhà trên đất.
3
Đến tháng 6/2015, Thị Thanh T hợp đồng cho Trần Thị Phi L
thuê một phần diện tích đất kích thước 10m x 40m 01 căn nhà cấp 4 trên
đất với thời hạn thuê là 18 tháng tính từ ngày 09/6/2015. Phần diện tích đất n lại
đất trống thì Thị Thanh T dự tính chuyển nhượng cho người khác. Sau
đó, L Trần Thị Nữ L1 (em gái L) đã môi giới cho bà Thị Thanh T
chuyển nhượng phần quyền sử dụng đất trống trên cho bà Lê Thị H1.
Đến tháng 8/2015, bà Lê Thị Thanh T làm thủ tục tách thửa đối với diện ch
thửa đất số 43, tờ bản đồ số 10 thị trấn T hợp đồng đặt cọc với H1 để
chuyển nhượng cho bà Lê Thị H1. Khi ký hợp đồng đặt cọc thì bà L và bà Trần Thị
Nữ L1 (em gái L) làm chứng xác định không tranh chấp đối với quyền sử
dụng đất L đã chuyển nhượng cho Thị Thanh T. Đến tháng 09/2015,
Thị Thanh T đã hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa
43A (được tách từ thửa 43) và H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thuộc thửa 109, tờ bản đồ số 10 thị trấn T với diện tích 411m
2
.
Diện tích còn lại (sau khi chuyển nhượng cho bà H1) là 531,7m
2
được Sở T5
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Thị Thanh T theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CB 925524 ngày 13/10/2015. Thị Thanh T vẫn
tiếp tục để cho L thuê theo hợp đồng đã kết. Hết thời gian thuê nhưng L
không trả chịu trả lại nhà và đất cho bà T.
Nay, bà T yêu cầu bà Trần Thị Phi L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan hiện đang sinh sống trên đất phải trả lại quyền sử dụng đất diện tích
531,7m
2
thuộc thửa 110 tờ bản đsố 10 thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, nay
T, tỉnh Đồng Nai tài sản trên diện tích đất nêu trên. Tuy nhiên, theo Phiếu đo
đạc chỉnh thửa đất số 706/2025 ngày 23/10/2025 của VPĐKĐĐ tỉnh Đ chi
nhánh T6 thì phần diện tích còn lại của thửa 110, tờ bản đồ số 10 T, tỉnh Đồng
Nai còn lại 499,5m
2
nên nguyên đơn yêu cầu bà Trần Thị Phi L và những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hiện đang sinh sống trên đất phải trả lại quyền sử
dụng đất diện tích 499,5m
2
thuộc thửa 110 tờ bản đồ số 10 thị trấn T, huyện T,
tỉnh Đồng Nai, nay là xã T, tỉnh Đồng Nai và tài sản trên diện tích đất nêu trên cho
bà T.
Đối với yêu cầu độc lập của Trần Thị Bích C về việc yêu cầu hủy n
bản phân chia thừa kế được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T chứng thực ngày
15/4/2009. Việc văn bản phân chia thừa kế đó việc riêng của gia đình L,
không liên quan đến T nên đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà T
không đồng ý đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất 43, tờ bản đồ số 10, thị trấn T đã được Ủy ban nhân dân thị trấn T,
huyện T chứng thực vào ngày 13/5/2010 giữa T và bà Trần Thị Phi L. Vì khi bà
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên thì L đã được Ủy ban
nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 104812 ngày
30/9/2009. Việc thỏa thuận chuyển nhượng giữa T L hoàn toàn tự
nguyện, đúng theo trình tự do pháp luật quy định. vậy, T không đồng ý đối
với yêu cầu của bà C.
Về chi phí tố tụng: T đã nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc
6.278.000 đồng chi pthẩm định giá i sản 35.000.000 đồng, tổng cộng
4
41.278.000 đồng. Yêu cầu Trần Thị Phi L những người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan hiện đang sinh sống trên đất phải trả lại cho bà T.
Lời khai trong quá trình tố tụng tại phiên tòa, bị đơn bà Trần Thị Phi L
trình bày:
Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 43, tờ bản đồ số 10, thị trấn T, huyện T
của cha mẹ cụ Trần Văn L3 (chết năm 2008) cụ Thị S1 (chết năm
2004) để lại. Khi cha mẹ chết thì đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Năm 2007, trước khi chết thì cTrần Văn L3 để lại di chúc cho 06 người
con được hưởng di sản thừa kế gồm: Trần Thị Phi L, Trần Quốc K, Trần ThBích
P1, Trần Thị Bích C, Trần Thị Nữ L1Trần Hữu P2. Ngoài 06 người con trên thì
cha mẹ bà không còn người con đẻ hay con nuôi nào khác.
Năm 2009, đến Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T để khai nhận di sản
thừa kế đối với quyền sử dụng đất diện tích 942,7 m
2
cha mẹ để lại. Đến
ngày 30/9/2009 được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số AQ 104812 với diện tích 942,7 m
2
thuộc thửa đất 43 tờ bản đồ số 10 thị trấn T.
Ngày 13/5/2010, do kinh tế gia đình gặp khó khăn nên vay của Lê
Thị Thanh T số 50.000.000đ (Năm ơi triệu đồng) với lãi suất 5%/tháng
(30.000.000đ/năm) nhưng không làm giấy tờ gì. Lúc đó, T yêu cầu đến
UBND thị trấn T để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 942,7 m
2
thuộc
thửa 43 tờ bản đồ số 10 thị trấn T thì bà T mới đồng ý cho vay tiền.
Đến năm 2013, bà và bà Tâm tính T4 số tiền gốc, tiền lãi và tiền bà T cho
vay thêm, tổng cộng 700.000.000đ (Bảy trăm triệu). thấy không khả năng
thanh toán nên thỏa thuận với T là: đ nghị bán cho T diện tích đất
chiều ngang đường Tà Lài 10 mét sâu đến hết đất (khoảng 46m) với giá
1.100.000.000đ (Một tỷ một trăm triệu đồng) đcấn trừ hết số nợ T phải
trách nhiệm thanh toán lại cho số tiền 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng)
nhưng bà T không đồng ý mà chỉ yêu cầu bà bán cho ai thì bán và trả tiền cho bà T.
Đến năm 2015, mới bán diện tích đất chiều ngang đường Lài 10
mét sâu hết đất (khoảng 46 mét) cho H1 với giá 1.100.000.000đ (Một tỷ một
trăm triệu đồng). Khi đến Văn phòng C2 thì bà mới biết quyền sử dụng đất có diện
tích 942,7m
2
thuộc thửa 43 tờ bản đồ số 10 thị trấn T đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho T vào năm 2013. Số tiền chuyển nhượng từ H1 thì
T cũng lấy hết.
Cũng trong ngày đó, T đã soạn sẵn Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
được Văn phòng C2 chứng thực ngày 09/6/2015 đối với diện tích đất còn lại (sau
khi bán cho H1), với thời hạn thuê 18 tháng, giá thuê 1.000.000đ/tháng
nhưng thực tế T không thu tiền theo như hợp đồng thuê. Sau khi hợp đồng
thuê thì bà vẫn sử dụng quyền sử dụng đất trên cho đến nay.
Bà hoàn toàn không có chuyển nhượng thửa đất 43 tờ bản đồ số 10 thị trấn T
cho T, chỉ hợp đồng mục đích để vay tiền nên Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số 96 do y ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai
chứng thực ngày 13/5/2010 giữa bà và Lê Thị Thanh T đối với thửa đất thửa đất
43 tờ bn đồ số 10 thị trấn T, huyện T là hợp đồng giả cách nên vô hiệu. Vì vậy, bà
không đồng ý chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
5
Đối với diện tích do bà T chuyển nhượng cho Thị H1, thực tế là do
chuyển nhượng cho H1 để trả nợ cho T nên không yêu cầu H1 phải trả
lại.
Việc tự ý Văn bn phân chia di sản thừa kế số 48 được Ủy ban nhân
dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày 15/4/2009 mà không được
sự đồng ý của những người được đồng thừa kế khác trong di chúc là bà không đúng
nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu độc lập của Trần Thị Bích C yêu cầu
hủy văn bản phân chia di sản thừa kế số 48 được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện
T, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày 15/4/2009 Hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số 96 do y ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai
chứng thực ngày 13/5/2010 giữa bà Trần Thị Phi L và bà Thị Thanh T.
Tại Đơn yêu cầu độc lập ngày 25/02/2022 và lời khai trong quá trình tố tụng
của bà Trần Thị Bích C trình bày:
Mẹ của bà là cụ Võ Thị S1 (chết năm 2004) không để lại di chúc. Cha của bà
là cụ Trần Văn L3 (chết năm 2008) có để lại di chúc. Sinh thời, cha mẹ nhận
chuyển nhượng 942,7m
2
đất thuộc thửa số 43, tờ bản đồ số 10, lập năm 1998 tọa
lạc thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Khi ông Võ Văn C1 tranh chấp đất với cha mẹ bà thì cha mẹ bà
ủy quyền cho chị của bà Trần Thị Phi L đại diện giải quyết tranh chấp. Lợi dụng
sự ủy quyền đó, bà L đã làm văn bản phân chia thừa kế giả chữ của cùng
các anh chị em của bà để nhận phân chia di sản thừa kế và được Ủy ban nhân dân
huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 104812, số vào sổ
1103151 ngày 30/9/2009 cho L. Sau đó, L chuyển nhượng đất đcấn trừ nợ
cho Thị Thanh T Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số BB 882023, số vào sổ CH 05406 ngày 02/12/2013 cho bà T.
Từ 2003, đi hợp tác lao động Hàn Quốc đến năm 2016 về nước thì
mới biết sự việc. Việc Trần Thị Phi L đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế
của cha mẹ để lại đối với quyền sử dụng đất diện tích 942,7m
2
thuộc thửa số
43, tbn đsố 10 tọa lạc thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, nay là T, tỉnh
Đồng Nai không đúng quy định của pháp luật khi không được sự đồng ý của
và các chị em khác của bà. Nay bà yêu cầu hủy văn bản phân chia di sản thừa kế số
48 được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày
15/4/2009 Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 96 do Ủy ban
nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày 13/5/2010 giữa
Trần Thị Phi L và bà Lê Thị Thanh T.
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của T, không chuyển
nhượng đất cho bà T.
Đối với diện tích do bà T chuyển nhượng cho Thị H1, thực tế là do
L chuyển nhượng cho bà H1 để trả nợ cho bà T là phần di sản mà T, L1 được
hưởng nên bà không yêu cầu bà H1 phải trả lại.
Về chi phí ttụng: Số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc sao
lục hồ bà đã nộp là 3.350.000 đồng (Ba triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), bà
đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Lời khai trong quá trình tố tụng của Trần Thị Nữ L1 trình bày:
6
Sự việc vay tiền của T đúng như L trình bày. Do tiền lãi cộng dồn
nhiều ngày nên đcho L quyết định. Việc tên trên văn bản phân chia
thừa kế chỉ nhằm để ủy quyền giải quyết tranh chấp đất với ông C1.
tham gia vào việc giới thiệu bán đất giữa bà T với H1 với cách
người làm chứng nhận tiền từ người mua đất T H1, nhưng tiền
T và H1 cho nhưng không nhớ bao nhiêu tiền. Về chữ ký chữ thì
đúng là bà có ký, có chữ thì bà không có ký tên.
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ThThanh T đồng ý
yêu cầu độc lập của C.
Lời khai trong quá trình tố tụng của Trần Thị Bích P1 ông Trần Hữu
P2 thống nhất trình bày:
Sự việc diễn biến đúng như L, C đã trình bày. Ông, không đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thanh T và đồng ý yêu cầu độc lập của C.
Lời khai trong quá trình tố tụng của bà Lê Thị H1 trình bày:
Năm 2015, sau khi bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB
882023 do UBND huyện T cấp ngày 02/12/2013 với thửa đất số 43, tờ bản đồ số 10
thị trấn T với diện tích 942,7m
2
. Bà T thỏa thuận chuyển nhượng một phần thửa
đất số 43, tờ bn đồ số 10 thị trấn T với chiều ngang mặt đường 10m chiều dài
hết đất với giá 1.100.000.000 đồng. Khi mua đất t Trần ThPhi L bà
Trần Thị Nữ L1 làm người môi giới xác định không tranh chấp với T và
đồng ý cho bà T bán đất cho bà. Bà đã thanh toán tiền môi giới đất cho L, L1
mỗi người 60.000.000 đồng. Sau đó, làm thủ tục được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với diện tích đã mua, xây nhà sinh sống ổn định
không có ai tranh chấp gì từ đó cho đến nay.
nhận chuyển nhượng đất của T khi T đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Việc thỏa thuận chuyển nhượng giữa và T hợp pháp
nên bà không đồng ý với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
số 96 do Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày
13/5/2010 giữa bà Trần Thị Phi L và bà Lê Thị Thanh T của bà C.
Tại Bản tự khai ngày 10/4/2025 của chị Ka S trình bày: Chị và chồng là anh
Nguyễn Ngọc T2 hợp đồng thuê đất của L nhưng không liên quan
không có tranh chấp trong vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Ngọc T2, chị Trần Thị Tuyết
T1 không cung cấp ý kiến, yêu cầu gì.
Tại Đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ghi ngày 25/11/2025, người đại
diện theo ủy quyền của UBND xã T, tỉnh Đồng Nai trình bày:
Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, nay Ủy ban nhân dân
T, tỉnh Đồng Nai thực hiện các thủ tục chứng thực n bản phân chia di sản
thừa kế, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đang tranh chấp trong vụ án
nêu trên đúng theo quy định của pháp luật đề nghị giải quyết, xét xử vắng
mặt.
Tại Bản án dân sự thẩm số 73/2025/DS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Nai đã quyết định:
7
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thanh T;
Buộc bị đơn Trần Thị Phi L những người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Trần Thị Bích P1, bà Trần Thị Bích C, bà Trần Thị Nữ L1, ông Trần Hữu
P2, chị Trần Thị Tuyết T1, cháu Trần Triệu N, chị Ka S anh Nguyễn Ngọc T2
phải trả lại cho Thị Thanh T quyền sử dụng đất toàn bộ tài sản gắn liền
trên đất diện tích 499,5m
2
thuộc thửa 110 tờ bản đồ số 10 toạ lạc tại thị trấn T,
huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T, thành phố Đ) được giới hạn bởi các mốc 1, a,
b, 2, 3, 4, c, e, 9, d, 8, 1 thể hiện tại Phiếu đo đạc chỉnh thửa đất số 706/2025
ngày 23/10/2025 của VPĐKĐĐ tỉnh Đồng Nai – Chi nhánh T6.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Trần Thị Bích C, về việc: Yêu cầu
hủy văn bản phân chia di sản thừa kế số 48 được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện
T, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày 15/4/2009 Hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số 96 do y ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai
chứng thực ngày 13/5/2010 giữa bà Trần Thị Phi L và bà Thị Thanh T.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ thi hành
án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 13/01/2026, bị đơn bà L kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy
Bản án sơ thẩm để xét xử lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà L giữ nguyên kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ
vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được
trong hồ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị
đơn Trần Thị Phi L; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 73/2025/DS-ST ngày
29/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Đơn kháng o của bị đơn bà Trần Thị Phi L được nộp trong thời hạn, có
nội dung, hình thức phạm vi kháng cáo phù hợp với quy định tại các điều 271,
272 273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên đđiều kiện xét xử theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Tại phiên tòa, bà Lê Thị H1 và người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân
dân xã T, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, thành phố Đ) ông Minh T3 vắng
mặt nhưng đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà L1, ông P2, chị T1, cháu N, chị Ka
S, anh T đã được triệu tập hợp lệ lần lần thứ hai nhưng vắng mặt không do.
8
Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228, 229, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng
xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
[3] Xét kháng cáo của bà Trần Thị Phi L, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[4] Quyền sử dụng thửa đất số 43, diện tích 942,7m
2
tờ bản đồ số 10 thị trấn
T, huyện T, tỉnh Đồng Nai nguồn gốc của cụ Trần Văn L3. Ngày 17/9/2007, cụ
Trần n L3 lập Di chúc đlại tài sản cho 06 người con với 06 phần đều nhau,
gồm: Trần Thị Phi L, Trần Quốc K (chết ngày 13/02/2011), Trần Thị Bích P1, Trần
Thị ch C, Trần Thị Nữ L1 Trần Hữu P2. Ngày 15/7/2008, cụ Trần Văn L3
chết. Ngày 15/4/2009, 06 người con trên của cụ L3 lập Văn bản phân chia di sản
thừa kế, nội dung: "Hôm nay 06 chị em chúng tôi đồng ý trước Ủy ban nhân
dân thị trấn T cho Trần Thị Phi L toàn quyền sử dụng đứng QSD đất Thửa đất
số 43, Tờ bản đồ số 10", văn bn phân chia di sản thừa kế đã được Ủy ban nhân
dân thị trấn T chứng thực. Ngày 05/5/2009, L đơn đề nghị được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 43 nêu trên. Ngày 03/6/2009,
Ủy ban nhân dân thị trấn T xác nhận nguồn gốc đất do nhận thừa kế theo Văn bản
phân chia di sản thừa kế, sử dụng đất ổn định, không tranh chấp, phù hợp với
quy hoạch sử dụng đất. Theo quy đnh tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai
năm 2003 thì L đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 30/9/2009, Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AQ104812 cho bà L.
[5]Ngày 13/5/2010, L chuyển nhượng toàn bộ thửa đất nêu trên cho
Thị Thanh T. Ngày 02/12/2013, bà T được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng
Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 882023.
[6]Ngày 09/6/2015, Trần Thị Phi L hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
của bà T diện tích 400m
2
(chiều ngang 10m, chiều dài 40m), đây là một phần thuộc
thửa đất số 43 với thời hạn thuê 18 tháng tính từ ngày 01/6/2015. Hợp đồng thuê
quyền sử dụng đất được n phòng C2 ng chứng số 981, quyển số 01/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 09/6/2015. Quá trình sử dụng đất, T làm thủ tục tách thửa 43
thành 02 thửa, gồm: thửa số 109 thửa 110, tờ bản đồ số 10. Thửa 109 diện
tích 411m2, thửa này T chuyển nhượng cho bà Lê Thị H1, bà H1 đã được Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh T5 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB
925523 vào ngày 13/10/2015, sau khi nhận chuyển nhượng H1 đã làm nhà ở,
sinh sống cho đến nay; thửa số 110 diện tích 531,7m2 Thị Thanh T được
điều chỉnh cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 925524 ngày
13/10/2015, có diện tích thực tế đo đạc lại theo Phiếu đo đạc và chỉnh lý thửa đất số
706/2025 ngày 23/10/2025 499,5m2, đây chính phn đất căn nhà L
thuê của T.
[7]Như vậy, việc bà T được cấp quyền sử dụng đất cũng như việc bà T cho bà
L thuê lại thửa đất 110 đã được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật nên
các giao dịch này được coi là hợp pháp. Xét trình bày của bà L cho rằng: hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T chỉ giả cách, được chỉ để
mục đích cho vay tiền của T; hai bên hợp đồng thuê nhưng không có việc
thanh toán tiền thuê và xét trình bày của L và bà C về việc các bà cho rằng L
9
người đã giả mạo chữ của các đồng thừa kế khác trong di chúc để khai nhận
thừa kế làm thủ tục đăng cấp quyền sử dụng thửa đất 43 cho L nên bà đề
nghị Toà chấp nhận yêu cầu độc lập của C, huỷ hợp đồng chuyển nhượng giữa
T. Hội đồng xét xử thấy rằng, L C không xuất trình được chứng
cứ để chứng minh cho những lời trình bày trên của mình đúng. Trong khi, hồ
vụ án và trình bày của các đương sự thể hiện, tại thời điểm bà H1 đặt cọc cho T
để nhận chuyển nhượng thửa đất 109, chính L Trần Thị Nữ L1 (bà L1
một trong các đồng thừa kế) đã với cách người làm chứng tại Hợp đồng đặt
cọc lập ngày 13/8/2015 (BL 13) giữa bà H1 và T không bất kỳ ý kiến
phản đối nào, thậm chí chính L L1 đã tự tay ghi thêm nội dung xác nhận:
đất không tranh chấptrong hợp đồng đặt cọc. Bên cạnh đó, trước đây C từng
khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã
cấp cho tâm đối với thửa đất số 43, Bản án hành chính thẩm số 18/2018/HC-
ST ngày 30/10/2018 của TAND tỉnh Đồng Nai và Bản án hành chính phúc thẩm số
451/2020/HC-PT ngày 26/8/2020 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
đều bác yêu cầu khởi kiện của C. Sau đó, L C đơn đề nghị xem xét theo
trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Quá trình giải quyết đơn, Toà án nhân dân tối cao
đã văn bản đề nghị Phòng K2 Công an tỉnh Đ giải thích kết quả giám định thể
hiện tại bản Kết luận giám định số 199/KLGĐ ngày 31/5/2018. Ngày 16/3/2021,
Phòng K2 Công an tỉnh Đ văn bản số 91/PC09 giải thích cho TAND tối cao với
nội dung khẳng định chữ ký những người thừa kế trong tài liệu mẫu cần giám định
do 06 người gồm các ông Trần Thị Phi L, Trần Quốc K1, Trần Thị Bích P1,
Trần Thị Bích C, Trần Thị Nữ L1, Trần Hữu P2 ký ra (BL 188). Tại Thông báo giải
quyết đơn đề nghxem xét theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm số 288/TB-TA
ngày 24/6/2021 của Toà án nhân dân tối cao đã khẳng định không căn cứ để
kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đối với Bản án hành chính phúc
thẩm số 451/2020/HC-PT ngày 26/8/2020 trên. Do đó, trình bày của L C
không sở đchấp nhận. L thuê nhà đất của bà T với thời hạn 18 tháng
từ ngày 01/6/2015 đến ngày 31/12/2016, đến nay đã hết thời hạn thuê nhưng không
trả nên Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của T về việc T yêu
cầu bà L và những người đang sống trên thửa đất số 110 phải trả lại quyền sử dụng
đất tài sản trên đất cũng như không chấp nhận yêu cầu độc lập của Trần
Thị Bích C về việc bà C u cầu huỷ Văn bản phân chia thừa kế lập ngày
15/4/2009, huỷ Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ lập ngày 13/5/2010 giữa bà L với
bà T là có căn cứ, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm về nội dung này.
[8] Đối với phần diện tích bà Thị Thanh T chuyển nhượng cho Thị
H1, H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các đương sự không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[9] Về việc bị đơn Trần Thị Phi L cho chị Ka S anh Nguyễn Ngọc T2
thuê một phần đất nhưng các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án
cấp sơ thẩm không xem xét; các đương sự và Việc kiểm sát không có ai kháng cáo,
kháng nghị nội dung này nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.
[10] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự đã được Tòa
án giải thích nhưng các đương sự vẫn không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả
của hợp đồng vô hiệu nên Tòa án không xem xét.
10
[11] Từ những nhận định trên thấy rằng, kháng cáo của L không căn
cứ để chấp nhận.
[12] Chi phí tố tụng án phí dân sự thẩm: Toà án cấp thẩm buộc b
đơn bà L người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan C phải chịu là phù hợp.
[13] Án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của L không được chấp
nhận nên phải chịu 300.000 đồng nhưng miễn án phí cho L do người
cao tuổi và có yêu cầu được miễn.
[14] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà căn cứ, được
Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trần Thị Phi L; Giữ nguyên Bản
án dân sự thẩm số 73/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 (kèm theo Quyết định sửa
đổi, bổ sung Bản án số 01/2026/QĐ-SCBSBA ngày 09/01/2026) của Toà án nhân
dân khu vực 8-Đồng Nai.
Căn cứ các khoản 2, 3, 5 Điều 26; Điều 147; Điều 157; khoản 1 Điều 165,
Điều 166; khoản 2 Điều 184; khoản 1 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 122; Điều 124, 697, 698, 699, 700, 701,
702, 703, 704, 705, 706, 707, 708, 713 của Bộ luật dân sự 2005; Điều 133, Điều
166, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 106; khoản 1 Điều 127 Luật Đất đai
năm 2003; Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; các điều 26, 29 của Ngh quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 ca Ủy ban Thường v Quc
Hội quy đnh mc thu, min, gim, thu, np, qun s dng án phí và l phí
Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thanh T;
Buộc bị đơn Trần Thị Phi L những người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Trần Thị Bích P1, bà Trần Thị Bích C, bà Trần Thị Nữ L1, ông Trần Hữu
P2, chị Trần Thị Tuyết T1, cháu Trần Triệu N, chị Ka S anh Nguyễn Ngọc T2
phải trả lại cho Thị Thanh T quyền sử dụng đất toàn bộ tài sản gắn liền
trên đất diện tích 499,5m
2
thuộc thửa 110 tờ bản đồ số 10 toạ lạc tại thị trấn T,
huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T, thành phố Đ) được giới hạn bởi các mốc 1, a,
b, 2, 3, 4, c, e, 9, d, 8, 1 thể hiện tại Phiếu đo đạc chỉnh thửa đất số 706/2025
ngày 23/10/2025 của VPĐKĐĐ tỉnh Đồng Nai – Chi nhánh T6.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của Trần Thị Bích C, về việc: Yêu cầu
hủy văn bản phân chia di sản thừa kế số 48 được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện
T, tỉnh Đồng Nai chứng thực ngày 15/4/2009 Hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số 96 do y ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai
chứng thực ngày 13/5/2010 giữa bà Trần Thị Phi L và bà Thị Thanh T.
Chi ptố tụng: tổng số tiền 41.278.000 đồng gồm: chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ, đo đạc 6.278.000 đồng chi phí thẩm định giá tài sản 35.000.000
đồng, bị đơn Trần ThPhi L phải chịu. Do Thị Thanh T đã nộp nên
11
Trần Thị Phi L phải trách nhiệm thanh toán lại cho T số tiền 41.278.000đ
(Bốn mươi mốt triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn đồng) này;
Trần Thị Bích C phải chịu 3.350.000 đồng (Ba triệu ba trăm năm mươi
nghìn đồng), bà C đã nộp đủ.
Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh T không phải chịu; Trả
lại Thị Thanh T 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp
theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 008057 ngày 14/11/2017 tại
Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (nay là: Phòng thi hành
án dân sự khu vực 8-Đồng Nai);
Trần Thị Phi L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng;
Trần Thị Bích C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, khấu trừ số
tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí bà C đã nộp theo biên lai thu số
0001387 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh
Đồng Nai (nay là: Phòng thi hành án dân sự khu vực 8-Đồng Nai) thì C đã np
đủ.
Án phí dân sự phúc thẩm: Trần Thị Phi L được miễn do người cao
tuổi và có yêu cầu được miễn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án
dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đồng Nai;
- TAND khu vực 8 - Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 8 - Đồng
Nai;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ vụ án, Tổ HCTP, Tòa
DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Quý Chi
12
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 545/2026/DS-PT Bản án số 545/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 545/2026/DS-PT Bản án số 545/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất