Bản án số 222/2026/DS-PT ngày 09/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 222/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 222/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 222/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 222/2026/DS-PT ngày 09/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 222/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | H Ma R Buôn Krông Tranh chấp quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 222 /2026/DS-PT
Ngày: 09 - 4 - 2026
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Ly;
Các Thẩm phán: Ông Trương Công Bình và Ông Nguyễn Duy
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Chi - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Lương Thị Diệu Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 567/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng
12 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ
thẩm số: 153/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk
Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2026/QĐ-PT
ngày 26/01/2026, Quyết định hoãn phiên toà số 143/QĐ-PT ngày 10/02/2026 và
Thông báo chuyển thời gian xét xử vụ án số: 13/TB-TA ngày 09/3/2026 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà H Ma Ri Buôn Krông, sinh năm 1968; Địa chỉ: Buôn C,
phường E, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đỗ Anh T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số
F, tổ C, Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk (theo văn bản uỷ quyền ngày 12/12/2022);
Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phùng Xuân H, sinh năm 1972 và bà Phan Thị T1, sinh năm
1976; Địa chỉ: Thôn C, phường E, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Bà Đỗ Thị Hằng N, sinh năm 1983; Địa chỉ: C Khu N đường T, phường T,
tỉnh Đắk Lắk (theo văn bản uỷ quyền ngày 05/3/2026); Có mặt.
- Bà Đinh Thị Thu T2, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số A N, phường B, tỉnh Đắk
Lắk (theo văn bản uỷ quyền ngày 13/3/2024); Vắng mặt.

2
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Cao Anh S thuộc
Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: C Khu N đường T, phường T, tỉnh
Đắk Lắk; Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đinh Sỹ T3, sinh năm 1954; Địa chỉ: N, Tổ dân phố C, phường E, tỉnh
Đắk Lắk; Có mặt.
- Bà H Yin B, sinh năm 1957; Địa chỉ: Buôn C, phường E, tỉnh Đắk Lắk; Có
mặt.
- Bà H Lê Dê B1, sinh năm 1960; Địa chỉ: Buôn C, phường E, tỉnh Đắk Lắk;
Có mặt.
- Ông Đặng Quang T4, sinh năm 1989 và bà Lê Thị Thu H1, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Số A N nối dài, phường B, tỉnh Đắk Lắk – Có đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Phùng Xuân Đ, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn C, phường E, tỉnh Đắk
Lắk; Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ: Bà Đinh Thị Thu T2, sinh năm
1995; Địa chỉ: Số A N, phường B, tỉnh Đắk Lắk (theo văn bản uỷ quyền ngày
20/12/2024); Vắng mặt.
4. Người làm chứng:
- Ông Y Brắk M (Ama H B), sinh năm 1947. Địa chỉ: Buôn C, phường E,
tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
- Ông Y Nguyên B2 (A), sinh năm 1969. Địa chỉ: Buôn C, phường E, tỉnh
Đắk Lắk; Vắng mặt.
5. Người phiên dịch tiếng Ê đê sang tiếng phổ thông và ngược lại: Ông Y
Phi K; Địa chỉ: Buôn B, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
Do có kháng cáo của: Bị đơn ông Phùng Xuân H và bà Phan Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà H Ma
R Buôn Krông và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Năm 2013, bà H Ma R Buôn Krông được cụ ông Y Bhul B3 (là bố đẻ của
nguyên đơn) tặng cho thửa đất số 60, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.010m
2
tại
phường E, tỉnh Đắk Lắk, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây viết tắt là GCNQSD đất) số
BB 783912 ngày 20/9/2010 cho hộ ông Y Bhul B3, chỉnh lý biến động tặng cho
nguyên đơn ngày 27/9/2013. Thửa đất có vị trí: Phía Đông giáp đường bê tông,
phía Tây giáp thửa đất số 60b của nguyên đơn, phía Nam giáp thửa đất số 59 của
ông Phùng Xuân H, bà Phan Thị T1 (bị đơn), phía Bắc giáp thửa đất số 257a của
bị đơn. Nguyên trước đây, cụ ông Y Bhul B3 cho ông Đinh Sỹ T3 mượn thửa đất
số 60 này để canh tác, trồng cây hàng năm. Khi cho mượn hai bên không lập văn
bản giấy tờ gì. Sau này ông T3 bán hay cho bị đơn mượn thì nguyên đơn không

3
biết. Thời gian gần đây nguyên đơn mới phát hiện ông T3 không còn sử dụng
thửa đất này mà bị đơn là người đang quản lý, sử dụng. Do vậy, nguyên đơn khởi
kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn thửa đất số 60, tờ bản đồ số 3,
diện tích 1.010m
2
, địa chỉ tại phường E, tỉnh Đắk Lắk.
Ranh giới giữa thửa đất số 60 và thửa đất số 60b, tờ bản đồ số 3 là hàng rào
trụ bê tông đúc sẵn 100 x 100 (trong đó có 17 trụ bê tông, 01 trụ gỗ), hàng rào
xây gạch cao bình quân 0,3m, trên rào lưới B40, dài 21,4m. Trong đó có 09 trụ bê
tông, 01 trụ gỗ, lưới B40 do bà H Lê Dê B1 tạo dựng vì bà H Lê Dê B1 đang sử
dụng thửa đất số 60b liền kề. Còn lại móng hàng rào xây gạch dài 21,4m và 08
trụ bê tông do bị đơn tự tạo dựng nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải di dời.
Ngoài ra trên đất còn có các tài sản gồm giếng khoan, hàng rào, cây trồng do bị
đơn tự tạo dựng và trồng nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải di dời để trả lại đất
cho nguyên đơn.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phùng Xuân H, bà Phan Thị T1
và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Năm
1998 bị đơn nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Y G và bà H Yin Bkrông
4.000m
2
đất, tiếp giáp với thửa đất 257a mà bị đơn nhận chuyển nhượng của ông
Đinh Sỹ T3. Diện tích đất nhận chuyển nhượng vợ chồng ông Y G và bà H Yin
B đã được cấp GCNQSD đất. Việc chuyển nhượng đất hai bên viết giấy tay, hiện
bị đơn đã làm thất lạc, đo đất áng chừng bằng cây sào và bàn giao trên thực địa
đúng như hiện trạng đất mà bị đơn đang sử dụng. Kể từ khi nhận chuyển nhượng
đến nay, bị đơn sử dụng đất ổn định, trồng cây và canh tác trên đất, không ai có ý
kiến hay tranh chấp gì. Đến năm 2022 bị đơn cấp đổi GCNQSD đất thì phát hiện
diện tích được cấp trong GCNQSD đất không đủ diện tích đất đã nhận chuyển
nhượng trên thực tế (thiếu khoảng 1.000m
2
) nên đã làm thủ tục cấp đổi cho đủ
diện tích. Lúc này, bị đơn được biết diện tích đất thiếu khoảng 1.000m
2
đã được
cấp GCNQSD đất cho nguyên đơn nên bị đơn có đến trao đổi để nguyên đơn hỗ
trợ làm thủ tục cho đúng diện tích đất thì nguyên đơn không đồng ý và yêu cầu bị
đơn phải mua lại diện tích đất này nên hai bên xảy ra tranh chấp.
Bị đơn khẳng định phần diện tích đất tranh chấp là thửa đất số 60, tờ bản đồ
số 3, tại phường E, tỉnh Đắk Lắk thuộc quyền sử dụng đất của bị đơn, bị đơn sử
dụng ổn định từ năm 1998 đến nay, nguyên đơn sinh sống trên lô đất liền kề
không có ý kiến gì. Đối với giấy sang nhượng đất phô tô do nguyên đơn giao nộp
và được bà H Yin B, người làm chứng là ông Y Brắk M (Ama H B) và ông Y
Nguyên B2 (A) thừa nhận thì bị đơn không đồng ý vì thực tế không có giấy sang
nhượng này.
Nay nguyên đơn khởi kiện thì bị đơn không đồng ý. Đồng thời bị đơn đề
nghị Tòa án xem xét hủy GCNQSD đất số BB 783912 ngày 20/9/2010 cấp cho
hộ ông Y Bhul B3, được chỉnh lý biến động tặng cho bà H Ma Ri Buôn Krông
ngày 27/9/2013 đối với thửa đất số 60, tờ bản số 3 nêu trên.
Ranh giới giữa thửa đất số 60 và thửa đất số 60b, tờ bản đồ số 3 là hàng rào
trụ bê tông đúc sẵn 100 x 100 (trong đó có 17 trụ bê tông, 01 trụ gỗ), móng hàng

4
rào xây gạch cao bình quân 0,3m, trên rào lưới B40, dài 21,4m. Trong đó móng
hàng rào xây gạch dài 21,4m và 08 trụ bê tông do bị đơn tự tạo dựng. Đối với
toàn bộ tài sản trên đất gồm giếng khoan, hàng rào và cây trồng do bị đơn tạo
dựng và trồng thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Phùng Xuân Đ là bà Đinh Thị
Thu T2 trình bày:
Ông Phùng Xuân Đ là con của bị đơn. Ông Đ được biết, năm 1998 bị đơn
có nhận chuyển nhượng thửa đất số 257a, tờ bản đồ số 3, có diện tích khoảng
6.000m
2
của ông Đinh Sỹ T3, bà Trần Thị X, đã được Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đ cấp GCNQSD đất. Năm 1999, bị đơn tiếp tục nhận chuyển nhượng
thêm phần diện tích đất khoảng 4.000m
2
của ông Y G và bà H Yin Bkrông liền
kề với thửa đất số 257a, tờ bản đồ số 3. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng, ông
Y G và bà H Yin B giao đủ đất cho bị đơn. Sau đó bị đơn đã tiến hành làm hàng
rào kiên cố, canh tác và không tranh chấp với ai. Tuy nhiên tại thời điểm nhận
chuyển nhượng, ông Y G và bà H Y mới chỉ được cấp GCNQSD đất đối với
phần diện tích đất là 2.400m
2
nên đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng đối
với phần diện tích đã được cấp bìa. Tổng diện tích của hai thửa đất bị đơn nhận
chuyển nhượng liền kề với nhau và trên thực tế khoảng 10.000m
2
, tuy nhiên mới
chỉ được cấp GCNQSD đất khoảng 8.600m
2
. Thời điểm chuyển nhượng các bên
đã nhận bàn giao, cắm mốc ranh giới, xây dựng hàng rào kiên cố và sử dụng ổn
ðịnh 20 nãm nay. Nãm 2024, bị ðõn ðã tặng cho ông Đ thửa đất số 257a, tờ bản
đồ số 3, tại địa chỉ phường E, tỉnh Đắk Lắk. Đối với thửa đất các bên hiện nay
đang tranh chấp thì ông Đ không liên quan vì nguồn gốc do bị đơn nhận chuyển
nhượng. Ông Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo hướng không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
- Ông Đinh Sỹ T3 trình bày:
Ông Thao cư T5 tại xã E (nay là phường E) từ năm 1984 và làm thôn trưởng
thôn 3, xã E từ khoảng năm 1984 đến năm 2019. Năm 1986 ông T3 có nhận
chuyển nhượng của cụ ông Y Bhul B3 khoảng 9.000m
2
đất tại buôn C, xã E,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk). Khi mua bán hai bên
chỉ nói bằng lời nói, ông T3 đã thanh toán đủ tiền cho cụ ông Y Bhul B3 và nhận
đất canh tác từ năm 1986. Đến khoảng năm 1998 ông T3 chuyển nhượng cho bị
đơn phần đất có diện tích khoảng 6.000m
2
, thửa đất số 257a, tờ bản đồ số 3, có tứ
cận: một phía giáp đất ông T6, một phía giáp đất ông D, một phía giáp đất còn lại
của ông T3, một phía giáp đất của bị đơn nhận chuyển nhượng của ông Y Gem
K1 ông T3 chuyển nhượng cho bị đơn có viết giấy tay với nhau, bị đơn đã thanh
toán đủ tiền và ông T3 cũng đã giao đất cho bị đơn nhận sử dụng.
Ông T3 được biết phần diện tích đất tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn
nằm trong diện tích đất mà vợ chồng ông Y G bà H Yin B chuyển nhượng cho bị
đơn; Bị đơn nhận chuyển nhượng của gia đình ông Y G khoảng 4.000m
2
. Trước
đây ông T3 cũng có hỏi cụ ông Y Bhul B3 để mua nên ông T3 biết rõ diện tích và
nguồn gốc nhưng ông Y Bhul B3 nói đã cho gia đình ông Y G từ năm 1984 nên

5
không bán cho ông T3 nữa. Năm 1984, vợ chồng ông Y G chuyển nhượng cho bị
đơn diện tích đất khoảng 4.000m
2
nêu trên, trên đất có một căn nhà tạm và cây
ngắn ngày. Sau khi nhận chuyển nhượng của gia đình ông Y G, bị đơn đã quản lý
sử dụng từ năm 1998 đến nay, không ai có ý kiến hay tranh chấp gì.
Ông T3 không đồng ý với ý kiến của nguyên đơn về việc cụ ông Y B4 cho
ông T3 mượn thửa đất số 60, tờ bản đồ số 3 đang tranh chấp vì thời điểm đó ông
T3 nhiều đất, không có khả năng canh tác. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị
đơn trả lại thửa đất số 60 là không đúng.
- Bà H Yin B trình bày:
Bà H Yin Bkrông là vợ của ông Y G (chết năm 2008), là chị em họ của
nguyên đơn. Khoảng năm 1986 cụ ông Y Bhul B3 cho vợ chồng bà H Yin
Bkrông thửa đất có vị trí tứ cận cụ thể thì bà H Y không nhớ, chỉ nhớ thửa đất có
một phía giáp đường đi, còn lại ba phía đều giáp đất của cụ ông Y Bhul B3. Đến
khoảng năm 1999 thì vợ chồng bà H chuyển nhượng lại cho bị đơn.
Khi ông Y B4 cho vợ chồng bà H Yin đất cũng như khi vợ chồng bà H Y
chuyển nhượng cho bị đơn thì không đo đạc đất trên thực tế mà vợ chồng bà H
Yin chỉ giao đất cho bị đơn đúng theo như hiện trạng gia đình bà H Y đang sử
dụng. Tại thời điểm chuyển nhượng, đất của cụ ông Y B4 trồng cây cà phê còn
đất của gia đình bà H Yin trồng cây hàng năm (cây chuối, bắp, đậu… các hộ chỉ
có hàng rào là những cây nhỏ. Sau khi chuyển nhượng thửa đất cho bị đơn và
nhận đủ tiền thì vợ chồng bà H Y đã chuyển đi nơi khác nên không biết việc bị
đơn sử dụng diện tích đất trên như thế nào.
Bà H Y xác định gia đình bà chỉ bán đất cho bị đơn và giao GCNQSD đất,
trong GCNQSD đất thể hiện diện tích đất là 2.400m
2
còn hiện trạng diện tích đất
và vị trí tứ cận thì bà H Yin không xác định được vì khi cụ ông Y B4 cho vợ
chồng bà H Yin đất và sau đó vợ chồng bà H Y chuyển nhượng đất cho bị đơn
không đo đạc chính xác, thời gian đã lâu, ranh giới cũng không còn như trước.
Đối với giấy sang nhượng đất photo do nguyên đơn giao nộp có người làm
chứng là ông Y Brắk M (Ama H B), ông Y Nguyên B2 (A) thì bà H Y xác định
đúng là giấy sang nhượng đất giữa gia đình bà H Y với bị đơn. Giấy này bị đơn
nhờ thôn trưởng xác nhận sau đó đã photo đưa cho gia đình bà H Yin cất giữ nên
gia đình bà H Y không có bản chính. Bà đã chuyển nhượng đất cho bị đơn xong
nên không còn liên quan gì, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp
luật.
- Bà H L trình bày:
Bà H Lê Dê B1 là chủ sử dụng thửa đất số 28a, tờ bản đồ số 3, diện tích
2080m
2
, tại phường E, tỉnh Đắk Lắk. Nguồn gốc được bố là cụ ông Y Bhul B3
tặng cho, đến năm 1995 được Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố B cấp
GCNQSD đất. Thửa đất số 28a có vị trí như sau: Phía Tây giáp Trường Tiểu học
L2, phía Đông giáp với đất của bị đơn, Phía Nam và phía Bắc giáp đất của
nguyên đơn. Về phía Bắc của thửa đất giáp thửa đất số 60b của nguyên đơn, hiện

6
nay bà H Lê D1 đang sử dụng thửa đất số 60b của nguyên đơn do bà H Lê D1 và
nguyên đơn sống cùng nhà nên cùng nhau sử dụng và canh tác.
Về nội dung liên quan đến tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn, bà H Lê
có ý kiến như sau: Thửa đất số 60, tờ bản đồ số 3, có nguồn gốc do cụ ông Y B4
khai hoang và được cấp GCNQSD đất; Thửa đất này cụ ông Y B4 không chuyển
nhượng cho ai, đến năm 2013 thì tặng cho nguyên đơn. Việc bị đơn đang sử dụng
thửa đất số 60 bà H Lê Dê không hề hay biết, chỉ đến thời gian gần đây mới phát
hiện ra. Do đó, nguyên đơn khởi kiện và đề nghị giải quyết buộc bị đơn trả lại
thửa đất số 60, tờ bản đồ số 3, diện tích khoảng 1.010m
2
là đúng.
Đối với tài sản trên phần đất là ranh giới giữa thửa đất số 60 và thửa đất số
60b là hàng rào trụ bê tông đúc sẵn (có 17 trụ bê tông, 01 trụ gỗ), móng hàng rào
xây gạch cao bình quân 0,3m, trên rào lưới B40, dài 21,4m. Trong đó có 09 trụ bê
tông, 01 trụ gỗ, lưới B40 do bà H Lê Dê B1 tạo dựng vì bà H Lê Dê là người
đang sử dụng thửa đất số 60b liền kề; Đối với các tài sản này bà H Lê D1 không
có yêu cầu gì.
- Ông Đặng Quang T4 và bà Lê Thị Thu H1 trình bày:
Ông bà là chủ sử dụng thửa đất số 57 (cũ 60A), tờ bản đồ số 85 (cũ 3), địa
chỉ thửa đất tại phường E, tỉnh Đắk Lắk. Nguồn gốc thửa đất trên là do ông bà
nhận chuyển nhượng của gia đình ông Đinh Sỹ T3 và bà Trần Thị X. Hiện nay
ông bà đang quản lý, sử dụng đất, ranh giới với các thửa đất liền kề không có
tranh chấp. Ông bà không có yêu cầu gì trong vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết
theo quy định pháp luật.
* Những người làm chứng:
- Ông Y Brắk M (A) trình bày:
Ông Y B5 là Buôn trưởng buôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk từ
khoảng năm 1978 đến khoảng năm 2001. Sau khi ông Y B5 được Tòa án cho
xem lại “Giấy sang nhượng đất”, bản photo (theo bút lục số 13) thì ông Y B5 xác
định “Giấy sang nhượng đất” này là đúng chữ ký của ông Y B5 tại mục xác nhận
của Ban tự quản. Nguồn gốc là do ngày 27/02/1999 bà H Yin Bkrông có đến nhà
và đưa cho ông Y B5 “Giấy sang nhượng đất” này để ông Y B5 xác nhận. Nội
dung gia đình bà H Y, ông Y G có chuyển nhượng cho gia đình bị đơn thửa đất
mà gia đình bà H Y đã được cấp GCNQSD đất. Thửa đất chuyển nhượng có diện
tích khoảng 2.400m
2
; nội dung chuyển nhượng, giá chuyển nhượng, vị trí cụ thể
của thửa đất chuyển nhượng như thế nào thì ông Y B5 không biết.
- Ông Y Nguyên B2 (A) trình bày:
Ông Y N1 là em ruột của bà H Yin B. Sau khi ông Y N1 được Tòa án cho
xem lại “Giấy sang nhượng đất”, bản photo (theo bút lục số 13) thì ông xác định
“Giấy sang nhượng đất” là đúng chữ kư của ông Y N1 tại mục người làm chứng
ký. Nguồn gốc vào ngày 27/02/1999, do bà H Y không biết chữ nên có nhờ ông
Y N1 viết hộ bà và ông Y G giấy sang nhượng đất cho vợ chồng bị đơn. Nội
dung giấy sang nhượng là gia đình bà H Y, ông Y G có chuyển nhượng cho gia

7
đình bị đơn thửa đất mà gia đình bà H Y đã được cấp GCNQSD đất. Thửa đất
chuyển nhượng tại buôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk có diện tích khoảng
2.400m
2
, giá chuyển nhượng là 01 cây vàng 97/sào. Vào ngày các bên ký giấy tờ
chuyển nhượng thì bị đơn đã trả cho vợ chồng bà H Y và ông Y G 2,4 cây vàng
97. “Giấy sang nhượng đất” là do ông Y N1 viết. Chữ ký người làm chứng Ama
Tung là chữ ký của ông Y N1. “Giấy sang nhượng đất” được lập 01 bản chính
giao cho người nhận chuyển nhượng là bị đơn cất giữ, còn bản photo do gia đình
bà H Y và ông Y Gem G1.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 153/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ các Điều 164, 165, 166, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các
Điều 100, 166, 167, 168, 169, 170, 188, 202, 203 của Luật Đất đai năm 2013;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H Ma R Buôn Krông .
1.1. Buộc ông Phùng Xuân H và bà Phan Thị T1 phải trả cho bà H Ma Ri
Buôn Krông thửa đất số 60 (mới 409), tờ bản đồ số 3 (mới 31), tại phường E, tỉnh
Đắk Lắk, đã được cấp GCNQSD đất số BB 783912 ngày 20/9/2010 cho hộ ông Y
Bhul B3, được chỉnh lý biến động tặng cho bà H Mari Buôn Krông ngày
27/9/2013. Thửa đất có vị trí: Phía Đông giáp đường bê tông, phía Tây giáp thửa
đất số 60B (mới 61), phía Nam giáp thửa đất số 59 (mới 208), phía Bắc giáp thửa
đất số 257A (mới 160).
1.2. Buộc ông Phùng Xuân H và bà Phan Thị T1 phải tháo dỡ, di dời các tài
sản đã tạo dựng để trả lại đất cho bà H Ma Ri Buôn Krông, gồm:
- Về phía Tây của thửa đất số 60 (mới 409), tờ bản đồ số 3 (mới 31), tại
phường E, tỉnh Đắk Lắk là: Móng xây gạch cao 30cm, dài 21,4m, 8 trụ bê tông.
- Về phía Đông của thửa đất số 60 (mới 409), tờ bản đồ số 3 (mới 31), tại
phường E, tỉnh Đắk Lắk là: Hàng rào cọc bê tông, lưới B40, móng xây gạch cao
30cm, dài 18,4m và Cổng: cửa cổng bằng tôn (3mx2m), cọc bê tông.
1.3. Bà H Ma R Buôn Krông được nhận quản lý, sử dụng: 01 giếng khoan
sâu khoảng 50m, cây trồng trên đất gồm 15 cây tiêu, 83 cây cà phê và có nghĩa
vụ thanh toán giá trị tài sản cây trồng trên diện tích đất tranh chấp cho ông Phùng
Xuân H và bà Phan Thị T1 số tiền là 41.437.800 đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 03/10/2025, bị đơn ông Phùng Xuân H, bà Phan Thị T1 kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát
biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,

8
Thư ký và những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng các quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309
Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H Ma Ri Buôn Krông về
việc buộc ông Phùng Xuân H và bà Phan Thị T1 phải di dời tài sản trên đất để trả
lại cho bà H Ma Ri Buôn Krông thửa đất số 60 (mới 409), tờ bản đồ số 3 (mới
31), diện tích thực tế 1.010,7m
2
tại phường E, tỉnh Đắk Lắk, đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số BB 783912 ngày 20/9/2010 cho hộ ông Y Bhul B3, được chỉnh lý biến
động tặng cho bà H Mari Buôn Krông ngày 27/9/2013.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ
sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của các đương
sự, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Phùng Xuân H và bà Phan Thị T1 có đơn kháng
cáo và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định là kháng cáo
hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về nguồn gốc thửa đất số 60, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.010m
2
, tại
phường E, tỉnh Đắk Lắk:
Tại hồ sơ cấp GCNQSD đất lần đầu do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai thành phố B cung cấp thể hiện, năm 1995 cụ Y B4 Byă kê khai đăng ký cấp
GCNQSD đất đối với thửa đất số 28, diện tích 4.080m
2
, thửa đất số 60, diện tích
1.010m
2
, thửa đất số 60a, diện tích 5.120m
2
, tờ bản đồ số 3, địa chỉ tại xã E,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đến ngày 23/11/1995, UBND thành phố B cấp
GCNQSD đất số H 114856 đứng tên hộ cụ Y Bhul B3 đối với thửa đất số 60 và
60a.
Ngày 22/01/2008, UBND xã E có Tờ trình số 11/-UBND về việc thu hồi 02
GCNQSD đất số V 450046 của hộ ông Phùng Xuân H và số H 114856 của hộ
ông Y Bhul B3 đồng thời đề nghị cấp lại GCNQSD đất cho 02 hộ ông Đinh Sỹ
T3 và ông Phùng Xuân H với lý do thửa đất số 60a đã cấp cho hộ ông Y B4 có
một phần diện tích đất của ông H, bà T1 và một phần diện tích đất của ông T3
đang quản lý, sử dụng.
Ngày 20/9/2010, UBND thành phố B cấp lại GCNQSD đất số BB783912
cho hộ ông Y Bhul B3 đối với thửa đất số 60; 60B, tờ bản đồ số 3, diện tích
1.843m
2
. Ngày 13/9/2013, hộ ông Y Bhul T7 cho quyền sử dụng đất thửa 60;
60B cho bà H Ma Ri B
[2.2] Xét lời khai của các đương sự về quá trình sử dụng thửa đất số 60:

9
Theo bà H Ma Ri, sau khi được cấp GCNQSD đất, cụ Y B4 đã cho ông
Đinh Sỹ T3 mượn thửa đất số 60 để canh tác nhưng không lập giấy tờ, đến năm
2022 sau khi phát hiện người sử dụng đất là ông Phùng Xuân H, bà Phan Thị T1
thì bà H Ma Ri mới khởi kiện yêu cầu ông H, bà T1 trả lại đất.
Lời khai của ông T3 không thừa nhận việc mượn đất của cụ Y B4 mà cho
rằng thửa đất tranh chấp nằm trong diện tích đất ông Y G và bà H Yin Bkrông
chuyển nhượng cho ông H, bà T1, thửa đất có nguồn gốc do cụ Y B4 cho vợ
chồng ông Y G khoảng năm 1984, sau khi nhận chuyển nhượng đất thì vợ chồng
ông H, bà T1 đã quản lý, sử dụng từ năm 1998 đến nay.
Bà H Y xác nhận, năm 1986 vợ chồng bà được cụ Y B4 cho một thửa đất có
một phần giáp đường đi, xung quanh đều là đất của cụ Y B4, khoảng năm 1999,
vợ chồng bà chuyển nhượng lại nguyên hiện trạng thửa đất trên và giao
GCNQSD đất cho ông H, bà T1, trong GCNQSD đất thể hiện diện tích thửa đất
là 2.400m
2
còn thực tế bao nhiêu thì bà không biết vì khi cụ Y B4 cho đất cũng
như khi ông bà chuyển nhượng đất cho ông H, bà T1 thì đều không đo đạc, bà
không xác định được vị trí, tứ cận, ranh giới hiện nay.
Còn theo ý kiến của ông H, bà T1, thửa đất số 60 nằm trong tổng diện tích
4.000m
2
mà ông H, bà T1 đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Y G và bà
H Y vào năm 1998, tiếp giáp với thửa đất số 257a mà ông H, bà Thu nhận chuyển
nhượng của ông T3. Tuy nhiên vì ông Y G và bà H Y mới được cấp GCNQSD
đất một phần thửa đất nên các bên chỉ làm thủ tục chuyển nhượng theo diện tích
được công nhận là 2.400m
2
. Năm 2022 khi cấp đổi GCN thì ông H, bà T1 mới
biết còn một phần đất nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Y G (chính là thửa
60) đã bị cấp nhầm cho ông Y B4, sau này là bà H Ma R. Khi phát hiện sự việc,
ông H, bà T1 qua trao đổi thì bà H Ma Ri không đồng ý và làm đơn khởi kiện đòi
lại đất. Ông H, bà T1 không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn vì ông H, bà T1
đã sử dụng đất ổn định, làm hàng rào kiên cố và trồng cây lâu năm từ năm 1998
đến nay nhưng nguyên đơn đều không có ý kiến gì.
[2.3] Xét các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, thấy rằng:
Theo Biên bản xác minh ngày 27/4/2023 (BL 37) tại U, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk) thể hiện nguồn gốc thửa đất tranh chấp
trước đây là của ông Y Bhul B3 khai hoang, sau đó ông Y B4 cho bà H Yin thửa
đất số 59 và bà H Y chuyển nhượng lại cho ông H. Thửa 322 (cũ là 257a) do ông
Y B4 chuyển nhượng cho ông T3 và ông T3 chuyển nhượng lại cho ông H. Đối
với thửa đất số 60 thì không rõ ông Y B4 cho ông T3 mượn hay bán và ông T3
bán hay cho ông H mượn nhưng ông H đã quản lý và canh tác trên đất từ năm
1998 đến nay.
Ông H, bà T1 cho rằng diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc nhận chuyển
nhượng của ông Y G, bà H Y từ năm 1998 cùng với thửa đất số 59 nhưng lại
không có giấy tờ chứng minh. Trên thực tế, thời điểm này thì hộ ông Y Bhul B3
đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất đang tranh
chấp. Còn thửa đất số 59 do ông Y G kê khai cấp GCN với diện tích 2.400m
2
,
được cấp GCNQSD đất ngày 23/11/1995, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

10
dụng đất ngày 23/6/2002 giữa ông Y G và ông H, bà T1, GCNQSD cấp ngày
05/4/2013 cho hộ ông H đối với thửa đất số 59 đều ghi nhận diện tích đất là
2.400m
2
.
Quá trình khởi kiện, nguyên đơn cung cấp bản photo “Giấy sang nhượng
đất” (BL 13) có nội dung: ông Y G, bà H Y đồng ý sang nhượng cho ông H, bà
T1 2.400m
2
theo GCNQSD đất số H 114748 cấp ngày 23/11/1995 với giá 1 cây
vàng/1 sào đất, giấy có ông Ama T8 ký làm chứng và xác nhận của Ban tự quản
buôn Cư Blim ngày 27/02/1999. Bà H Y và những người làm chứng thừa nhận
chứng cứ này là giấy tờ sang nhượng đất của vợ chồng bà với ông H, bà T1. Tại
mặt sau của giấy này có ghi tứ cận thửa đất chuyển nhượng: bắc giáp Phùng
Xuân H, nam giáp Ama Juh, giáp tây giáp Juh, kèm theo đó là sơ đồ thửa đất.
Như vậy, phía bắc của thửa đất mà vợ chồng ông Y G, bà H Y chuyển nhượng
cho ông H, bà T1 có phía bắc giáp đất ông H (do lúc này ông H, bà T1 đã nhận
chuyển nhượng thửa đất số 257a của ông T3), không phải giáp đất ông Y B4 như
lời khai của bà H Yin B.
Tại Biên bản xác minh hiện trạng sử dụng đất ngày 18/3/2009 (BL 52) của
UBND xã E ghi nhận thực tế sử dụng đất các hộ như sau: Hộ ông Y Bhul B3
được cấp GCNQSD đất thửa 60 + 60a, diện tích 6.130m
2
nhưng thực tế đang sử
dụng thửa đất số 60, diện tích 1010m
2
và một phần diện tích nằm trong thửa đất
60a với diện tích là 533m
2
, số diện tích đất còn lại ông T3 đang sử dụng ổn định,
không tranh chấp về ranh giới; Diện tích đất 5.800m
2
của ông H đang sử dụng là
nhận chuyển nhượng của ông T3, theo GCNQSD đất là thửa 257a, diện tích
4.635m
2
là cấp sai về hình thể và vị trí thửa đất nên diện tích cấp nhỏ hơn diện
tích sử dụng nhưng thực tế ông H nhận sang nhượng từ ông T3 là 5.800m
2
. Biên
bản có mặt và chữ ký xác nhận của ông Y Bhul B3, ông Đinh Sỹ T3, ông Phùng
Xuân H.
Ông H và ông T3 cho rằng, vì ông T3 có đơn kiến nghị gửi UBND xã yêu
cầu xác minh hiện trạng sử dụng thửa đất số 60a đã cấp nhầm cho ông Y B4 để
trả lại một phần cho ông T3 và một phần cho ông H nên các nội dung liên quan
đến thửa đất số 60 các ông không để ý.
Hội đồng xét xử thấy: Tại thời điểm lập biên bản trên, theo lời khai của
nguyên đơn thì ông Y B4 không sử dụng thửa đất số 60 mà cho ông T3 mượn,
còn kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện ông H, bà T1 đã sử
dụng đất từ năm 1998 ổn định, liên tục, công khai. Như vậy, nội dung ghi nhận
thực tế ông Y B4 đang sử dụng thửa đất số 60 là chưa phù hợp.
Hộ ông Y B4 sinh sống tại buôn C gần với khu vực đất tranh chấp từ trước
đến nay, bản thân ông Y B4 trong thời gian còn sống (ông Y B4 chết năm 2019)
đều không có ý kiến gì về việc sử dụng đất của hộ ông H. Bà H Ma Ri nhận tặng
cho thửa đất số 60 từ năm 2013 nhưng chỉ thực hiện trên giấy tờ chứ chưa nhận
bàn giao đất thực địa, không biết vị trí, ranh giới đất ở đâu nên khi xem xét thẩm
định tại chỗ lần thứ nhất bà H Ma Ri không xác định được vị trí, ranh giới của
thửa đất số 60. Trong khi đó hộ ông H, bà T1 đã tiến hành khoan giếng, trồng cây
công nghiệp như tiêu, cà phê... thu hoạch nhiều năm, sử dụng đất liền mạch,

11
thống nhất không phân chia ranh giới với thửa đất số 59 và thửa đất số 257a, đã
làm hàng rào cọc bê tông, móng xây gạch kiên cố giữa thửa đất số 60 với thửa đất
60b, còn bà H Lê D1 (chị gái sống cùng nhà với bà H Ma R) là người sử dụng
thửa đất số 60b cũng đồng thuận kéo lưới B40 ở bên trên hàng rào này của ông
H, bà T1 nhưng bà H Ma R và bà H Lê D1 khai đến năm 2022 mới biết bị đơn sử
dụng đất là không có căn cứ.
[2.4] Xét thấy, mặc dù hộ ông Y B4 được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất
số 60 nhưng ông Y B4 không quản lý, sử dụng trên thực tế, cho đến thời điểm
tặng cho bà H Ma Ri cũng không kiểm tra, bàn giao đất thực địa mà chỉ thực hiện
trên giấy tờ; trong khi đó hộ ông H đã sử dụng đất ổn định, liên tục, công khai từ
năm 1998 đến nay và không có ai tranh chấp, nguồn gốc do nhận chuyển nhượng
của ông Y G, bà H Y. Nay nguyên đơn cho rằng ông Y B4 cho ông T3 mượn
thửa đất số 60 để canh tác sau đó ông T3 đã chuyển quyền sử dụng cho ông H, bà
T1 nhưng không có chứng cứ chứng minh, không được các đương sự thừa nhận,
bị đơn không có hành vi lấn chiếm nên việc nguyên đơn yêu cầu ông H, bà T1
phải di dời tài sản, trả lại đất cho nguyên đơn là không có căn cứ. Do đó kháng
cáo của bị đơn đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng bác đơn khởi kiện của nguyên
đơn là có cơ sở chấp nhận.
Ngoài ra, việc UBND thành phố B cấp GCNQSD đất số BB 783912 ngày
20/9/2010 cho hộ ông Y Bhul B3 đối với thửa đất số 60, được cập nhật biến động
tặng cho bà H Ma Ri Buôn Krông là không đúng đối tượng sử dụng đất nên cần
kiến nghị thu hồi GCNQSD đất nêu trên. Ông Phùng Xuân H và bà Phan Thị T1
có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, cấp GCNQSD đất
theo quy định của pháp luật đất đai.
[3] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được
chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí đo vẽ kỹ thuật, xem xét thẩm
định tại chỗ và định giá tài sản cụ thể: chi phí đo vẽ kỹ thuật, xem xét thẩm định
và định giá tài sản lần 1 là 10.608.000 đồng; chi phí đo vẽ kỹ thuật, xem xét thẩm
định và định giá tài sản lần 2 là 8.606.000 đồng, tổng cộng 19.214.000 đồng,
được khấu trừ toàn bộ số tiền nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi phí xong.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí không có giá
ngạch đối với yêu cầu tranh chấp về quyền sử dụng đất không được chấp nhận. Bị
đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phùng Xuân H và bà Phan Thị T1. Sửa
Bản án dân sự sơ thẩm số 153/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 1 – Đắk Lắk.

12
Căn cứ các Điều 165, 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 166,
167, 168, 170, 188, 202, 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 152 Luật Đất đai
năm 2024; Điều 147, 148, 157, 158, 165, 166 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H Ma Ri Buôn
Krông về việc buộc ông Phùng Xuân H và bà Phan Thị T1 phải di dời tài sản trên
đất để trả lại cho bà H Ma Ri Buôn Krông thửa đất số 60 (mới 409), tờ bản đồ số
3 (mới 31), diện tích thực tế 1.010,7m
2
tại phường E, tỉnh Đắk Lắk, đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số BB 783912 ngày 20/9/2010 cho hộ ông Y Bhul B3, được chỉnh lý biến
động tặng cho bà H Ma Ri Buôn Krông ngày 27/9/2013.
2. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi một phần giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB
783912 ngày 20/9/2010 do UBND thành phố B cấp cho hộ ông Y Bhul B3, được
chỉnh lý biến động tặng cho bà H Ma Ri Buôn Krông ngày 27/9/2013 đối với
thửa đất số 60 (mới 409), tờ bản đồ số 3 (mới 31) tại phường E, tỉnh Đắk Lắk do
cấp không đúng đối tượng sử dụng đất.
Ông Phùng Xuân H, bà Phan Thị T1 có quyền liên hệ cơ quan có thẩm
quyền để kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa
thửa đất số 60 (mới 409), tờ bản đồ số 3 (mới 31) tại phường E, tỉnh Đắk Lắk
theo quy định của pháp luật đất đai.
3. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà H Ma R Buôn Krông phải chịu các chi
phí đo vẽ kỹ thuật, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp, tổng
cộng 19.214.000 đồng (Mười chín triệu hai trăm mười bốn nghìn đồng), được
khấu trừ số tiền nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi phí xong.
4. Về án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà H Ma R Buôn Krông phải chịu
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ trong
số tiền tạm ứng án phí 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) đã nộp theo biên
lai thu tiền số AA/2021/0022616 ngày 14/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu
vực 1 – Đắk Lắk). Hoàn trả lại cho bà H Ma R Buôn Krông số tiền 11.700.000
đồng (Mười một triệu bảy trăm nghìn đồng).
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả lại cho ông Phùng Xuân H và bà
Phan Thị T1 mỗi người được trả lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm
ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002019 và 0002020 ngày 10/10/2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

13
Nơi nhận:
- Vụ giám đốc, kiểm tra II-TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1 - Đắk Lắk (2);
- Phòng THADS khu vực 1 - Đắk Lắk
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lê Quốc Ly
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm