Bản án số 215/2026/DS-PT ngày 06/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 215/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 215/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 215/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 215/2026/DS-PT ngày 06/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 215/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 06/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp đất đai |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 215/2026/DS-PT
Ngày: 06 - 4 - 2026
V/v tranh chấp đòi đất bị lấn chiếm
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Huyền
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thái Lan, ông Phạm Cao Gia .
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Lương Thị Diệu Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 625/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 12
năm 2025 về việc: “Tranh chấp đòi đất bị lấn chiếm”. Do Bản án dân sự sơ thẩm
số 125/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk bị
kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2026/QĐ-PT ngày 23/02/2026 và
Quyết định hoãn phiên toà số: 219/QĐ-PT ngày 23/3/2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số nhà B, Tổ A,
thôn T, phường E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Đặng Thanh Q, sinh năm 1991; Địa chỉ: C
Khu N đường T, phường T, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Tấn H1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Số nhà A N, phường
B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phan Minh H2, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số
A đường Y, phường E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số B Tổ A, thôn T, phường E,
tỉnh Đắk Lắk (Có đề nghị xét xử vắng mặt).
3.2. Bà Hồ Thị H3, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số nhà A N, phường B, tỉnh Đắk
Lắk (Vắng mặt).
4. Người làm chứng:
2
4.1. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số C N, phường T, tỉnh Đắk Lắk
(Có đề nghị xét xử vắng mặt).
4.2. Bà Văn Thị L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số nhà F L, tổ dân phố H, phường
E, tỉnh Đắk Lắk (Có đề nghị xét xử vắng mặt).
* Người kháng cáo: Bị đơn ông Huỳnh Tấn H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn và người đại
diện theo ủy quyền trình bày:
Vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Phạm Thị T là chủ sử dụng thửa đất số 366,
tờ bản đồ số 65 tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk),
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất số CM 735767 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 13/9/2018.
Nguồn gốc quyền sử dụng đất nêu trên được tách ra từ thửa đất số 2, tờ bản đồ
65, diện tích 690m
2
của vợ chồng ông H. Ngày 02/10/2018, vợ chồng ông H chuyển
nhượng cho ông Kim Văn S và bà Mai Thị M một phần thửa đất số 2, diện tích
chuyển nhượng 328m
2
(thửa 367), phần diện tích đất còn lại sau khi chuyển nhượng
là 362m
2
(thửa 366). Sau khi nhận chuyển nhượng từ ông H, ông S và bà M tách
thửa đất số 367 thành các thửa đất 379, 399 và 398, tờ bản đồ 65 và chuyển nhượng
cho người khác. Hiện tại, ông Huỳnh Tấn H1 và bà Hồ Thị H3 là chủ sử dụng thửa
đất số 398 do nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị T1, thửa 398 giáp ranh với thửa
đất số 366 của ông H.
Năm 2024, vợ chồng ông H1 xây dựng nhà ở trên thửa đất số 398, tờ bản đồ số
65, đã lấn sang thửa đất số 366 của ông H, diện tích lấn chiếm 6,3m
2
, có vị trí tứ cận:
Phía bắc giáp phần đất còn lại của thửa đất số 366 của ông H, cạnh dài (19,39 + 5,88
+ 0,12)m; Phía nam giáp thửa đất 398 của ông H1, cạnh dài (20,76 + 4,35 + 0,15)m;
Phía đông giáp đường Y, cạnh dài 0,3m; Phía tây giáp thửa đất số 03, cạnh dài 0,3m.
Ông H đã làm đơn gửi Ủy ban nhân dân phường E, tỉnh Đắk Lắk để giải quyết
tranh chấp đất đai nhưng các bên không hòa giải thành. Vì vậy, nguyên đơn khởi
kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc vợ chồng ông Huỳnh Tấn H1, bà Hồ Thị H3
phải trả lại diện tích đất lấn chiếm 6,3m
2
và tháo dỡ tài sản xây dựng trên phần đất
tranh chấp (một phần của căn nhà xây 02 tầng), thuộc thửa đất số 366, tờ bản đồ số
65 cho ông Nguyễn Văn H.
* Bị đơn ông Huỳnh Tấn H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ
Thị H3 trình bày:
Ông Huỳnh Tấn H1 và bà Hồ Thị H3 là vợ chồng, ông bà là chủ sử dụng thửa
đất số 398, tờ bản đồ số 65, diện tích 124,3m
2
, tại phường E, tỉnh Đắk Lắk, theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 075414 cấp ngày 13/5/2021, (chỉnh lý
biến động chuyển nhượng cho ông H1, bà H3 vào ngày 31/5/2024).
Nguồn gốc quyền sử dụng đất do nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị T1 (em
họ của ông H1) vào năm 2024. Vợ chồng ông H1 đã giao đủ tiền và nhận bàn giao
đất, khi tiến hành giao đất thì bên chuyển nhượng ra chỉ vào lô đất trống (không có
3
vật kiến trúc, cây trồng trên đất). Vị trí thửa đất của ông H1 nằm giữa nhà ông H4
và nhà ông H. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng, trên đất đã có móng xây gạch cũ
do chủ cũ xây dựng để xác định ranh giới với đất của ông H.
Đến tháng 8/2024, vợ chồng ông H1 bắt đầu khởi công xây dựng nhà ở. Thời
điểm đó, ông H có mặt chứng kiến và cùng với thợ xây dựng công trình kéo thước
dây để xác định ranh giới giữa thửa đất của ông H1 và thửa đất của ông H như sau:
Ông H kéo thước dây tính từ móng gạch (giáp đất ông H) đến bức tường nhà ông
H4, ông H xác định chiều ngang đủ 05m và không có ý kiến gì. Khi thi công, gia
đình ông H1 đã đo đạc lại và xác định diện tích nhận chuyển nhượng bằng với diện
tích được công nhận. Đến khi gia đình ông H1 gần hoàn thiện công trình xây dựng
thì ông H tiến hành đo đạc lại thửa đất của mình và cho rằng đất của ông H bị thiếu
6,3m
2
(có kích thước tứ cận như kết quả đo đạc kỹ thuật), yêu cầu gia đình ông H1
phải trả lại diện tích đất này là không có căn cứ. Vì vậy, ông H1 không đồng ý với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sau khi nhận chuyển nhượng đất ông H1 đã xây
dựng nhà ở theo đúng vị trí, diện tích của thửa đất số 398 thể hiện tại GCNQSD đất,
không lấn chiếm đất của ông H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T trình bày:
Bà T là vợ của ông H, vợ chồng bà T là chủ sử dụng quyền sử dụng đất thửa
366, tờ bản đồ 65, tại phường E, tỉnh Đắk Lắk. Năm 2024, gia đình ông H1 xây dựng
nhà ở trên thửa đất số 398 đã lấn chiếm diện tích đất 6,3m
2
thuộc thửa đất 366 của
vợ chồng bà T. Bà T đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, bà T
thống nhất với các ý kiến, yêu cầu của ông H và không bổ sung gì thêm.
* Người làm chứng bà Trần Thị T1 trình bày:
Bà T1 là họ hàng với gia đình ông H1. Năm 2022, bà T1 nhận chuyển nhượng
của ông Nguyễn Thanh H5, bà Văn Thị L thửa đất số 398, tờ bản đồ số 65, diện tích
124,3m
2
tại thôn T, phường E, tỉnh Đắk Lắk. Khi bà nhận chuyển nhượng thì trên
đất không có tài sản gì, giáp phía nam của thửa đất đã có nhà xây kiên cố, còn cạnh
phía bắc giáp đất ông H thì đã thấy có bờ gạch xây làm ranh giới giữa hai thửa đất,
bà không biết do ai xây dựng. Bà và chủ cũ có kéo thước đo đạc lại thì thấy diện tích
đủ so với GCNQSD đất được cấp, chiều rộng mặt đường là 5m. Quá trình sử dụng
bà không tạo lập tài sản gì trên đất, không làm thay đổi hiện trạng. Đến năm 2024,
bà chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng ông H1. Sau khi biết hiện nay hai gia
đình có tranh chấp về đất đai thì bà có đến đất để xem lại và thấy ông H1 xây nhà
trên thửa đất bà đã chuyển nhượng, bờ gạch làm ranh giới vẫn còn nguyên không bị
xê dịch.
* Người làm chứng bà Văn Thị L trình bày:
Ngày 22/4/2021, vợ chồng bà Văn Thị L, ông Nguyễn Thanh H5 nhận chuyển
nhượng thửa đất số 398, tờ bản đồ 65, diện tích 124,3m
2
tại xã E (nay là phường E,
tỉnh Đắk Lắk) của ông Võ Quang T2, bà Nguyễn Thị Thu H6. Thời điểm nhận bàn
giao thực địa, thửa đất 398 chưa có tài sản gì trên đất, còn hai thửa đất bên cạnh đã
xây nhà ở ổn định. Vợ chồng bà L và ông T2 có mời hai hộ này ra kiểm tra đo đạc
lại thì thấy diện tích đất đủ như trong giấy chứng nhận được cấp, bà L nhớ chiều dài
4
mặt đường đo từ tường nhà thửa 339 sang là 5m. Ranh giới với thửa đất 399 là tường
nhà đã xây, còn ranh giới với thửa đất 366 (của ông H) hai bên có đóng cọc làm mốc
giới, bà L không nhớ là có giáp với móng gạch hay hàng rào của gia đình ông H hay
không, nhưng khi đó ông H có ra xem đo đất và không có ý kiến gì.
Bà L đã được Tòa án cho xem các hình ảnh chụp thửa đất 398 do ông H1 cung
cấp. Bà xác định đúng vị trí thửa đất bà nhận chuyển nhượng từ ông T2, còn móng
gạch và hàng rào của gia đình ông H giáp với thửa đất của bà thì bà không để ý là
đã có hay chưa.
Vợ chồng bà L không tạo lập tài sản gì trên đất, cũng không có tranh chấp gì
với các hộ xung quanh. Đến tháng 10/2021, vợ chồng bà L chuyển nhượng thửa đất
trên cho bà Trần Thị T1. Nay các bên tranh chấp đất thì bà L đề nghị Tòa án giải
quyết theo quy định pháp luật.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 125/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk đã quyết định:
Áp dụng Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 3, Điều 31, Điều 134, Điều
235 và Điều 236 Luật đất đai.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Văn H.
Buộc vợ chồng ông Huỳnh Tấn H1 và bà Hồ Thị H3 phải trả cho ông Nguyễn
Văn H số tiền 97.253.000 đồng, là trị giá quyền sử dụng đất tranh chấp diện tích
6,3m
2
.
Giao cho vợ chồng ông Huỳnh Tấn H1 và bà Hồ Thị H3 được quyền quản lý,
sử dụng diện tích đất 6,3m
2
, là một phần của thửa đất số 366, tờ bản đồ 65, tại phường
E, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 735767, do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 13/9/2018 cho hộ ông Nguyễn Văn H, có tứ
cận như sau:
+ Phía bắc giáp phần còn lại của thửa đất số 366, tờ bản đồ 65 của ông Nguyễn
Văn H, cạnh dài (19,39 + 5,88 + 0,12)m;
+ Phía nam giáp thửa đất số 398, tờ bản đồ 65 của ông Huỳnh Tấn H1, cạnh
dài (20,76 + 4,35 + 0,15)m;
+ Phía đông giáp đường Y, cạnh dài 0,3m;
+ Phía tây giáp thửa đất số 03, cạnh dài 0,3m.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo theo quy định pháp luật.
* Ngày 02/10/2025, bị đơn ông Huỳnh Tấn H1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án theo hướng không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ
nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án.
5
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm tại
phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, các
đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét thấy ranh giới hiện trạng thửa đất đã có trước khi ông H1
nhận chuyển nhượng, hiện nay diện tích đất bị đơn quản lý thiếu, nguyên đơn quản
lý thực tế nhiều hơn GCNQSD đất đã cấp. Do đó cần chấp nhận đơn kháng cáo của
ông Huỳnh Tấn H1, sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem
xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, quan
điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Huỳnh Tấn H1 nộp trong hạn luật định
và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được xem xét giải quyết theo
trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
Theo các tài liệu chứng cứ do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh
khu vực Buôn Ma T3 cung cấp thể hiện:
Ngày 23/11/1995, hộ ông Nguyễn Văn H được cấp GCNQSD đất số G 998329
đối với thửa đất số 54, tờ bản đồ số 30, diện tích 750m
2
tại xã E, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk).
Đến ngày 13/9/2018, hộ ông H cấp đổi GCNQSD đất số CM 735767, thửa đất
số 2 (cũ 54), tờ bản đồ 65 (cũ 30), diện tích 690m
2
. Lý do giảm diện tích là do sai
sót trong đo đạc cấp GCN trước đây. Gia đình ông H không có ý kiến gì đối với diện
tích được công nhận. Trong sơ đồ thửa đất thể hiện cạnh phía đông giáp mặt đường
Y W có chiều dài 28,26m, cạnh phía tây dài 28m (BL 126).
Đến ngày 02/10/2018, ông H, bà T chuyển nhượng cho ông Kim Văn S và bà
Mai Thị M một phần thửa đất số 2 có diện tích 328m
2
. Ngày 31/10/2018 ông S và
bà M được cấp GCNQSD đất số CP 067385, thửa đất số 367, tờ bản đồ 65, diện tích
328m
2
thể hiện cạnh phía đông giáp đường Y có chiều dài 14,7m, cạnh phía tây có
chiều dài 16,03m (BL 127).
Như vậy, phần diện tích đất còn lại sau khi chuyển nhượng của ông H là 362m
2
thuộc thửa đất số 366, trong đó cạnh phía đông tiếp giáp đường Y có chiều dài
13,56m, cạnh phía tây có chiều dài 11,97m.
Năm 2019, ông S và bà M chuyển nhượng thửa đất số 367 cho ông Võ Quang
T2. Ông T2 chuyển nhượng một phần thửa đất số 367 có diện tích 92,8m
2
có cạnh
phía đông tiếp giáp mặt đường dài 4,7m, cạnh phía tây dài 5,18m thuộc thửa 379
6
cho bà Mai Phụng N. Diện tích còn lại 235,2m
2
thuộc thửa 378. Năm 2020, ông T2
chuyển nhượng cho ông Hoàng Văn H7 diện tích 110,9m
2
có cạnh phía đông tiếp
giáp mặt đường dài 5,0m, cạnh phía tây dài 5,42m thuộc thửa 399. Diện tích còn lại
124,3m
2
có cạnh phía đông tiếp giáp mặt đường dài 5,0m, cạnh phía tây dài 5,42m
thuộc thửa 398 (BL 143, 158).
Đến tháng 4/2021 ông T2 chuyển nhượng thửa đất số 398 cho ông Nguyễn
Thanh H5, bà Văn Thị L. Tháng 11/2021, ông H5 và bà L tiếp tục chuyển nhượng
cho bà Trần Thị T1. Tháng 5/2024, bà T1 chuyển nhượng cho ông H7 và bà H3 thửa
đất số 398 giáp ranh với thửa đất số 366 của ông H.
Như vậy, các thửa đất đều có nguồn gốc rõ ràng, tuy có sự biến động về chủ sử
dụng đất nhưng diện tích đất và chiều dài các cạnh không thay đổi.
[2.2] Xét ranh giới giữa thửa đất số 398 và 366:
Theo ông H trình bày, gia đình ông đã làm nhà ở sinh sống ổn định trên thửa
đất số 54 từ khoảng năm 1987, có mốc giới rõ ràng, không tranh chấp với ai; thời
điểm tách thửa năm 2018, ông có đóng cọc sắt ở hai đầu để làm ranh giới giữa hai
thửa 366 và 367. Quá trình sử dụng thì ông thấy thửa đất giáp ranh với gia đình ông
vẫn để trống cho đến khi ông H7 nhận chuyển nhượng, còn hai thửa đất bên cạnh
ông H7 (thuộc thửa đất 367) đã xây nhà ở kiên cố trước đó. Khi ông H7 dọn mặt
bằng để chuẩn bị làm nhà thì có gọi ông H ra đo đạc, ông H7 kéo đủ 5m tính từ
tường nhà thửa 399 sang nhưng lấn qua đất của ông H nên ông H không đồng ý, hai
bên phát sinh tranh chấp. Đối với móng gạch nằm giữa thửa đất của ông và ông H7
thì ông không biết do ai xây dựng và xây thời gian nào nhưng có từ trước khi ông
H7 xây nhà, thời điểm đó ông về quê, lúc vào đã thấy có hàng gạch, ông thắc mắc
thì ít ngày sau thấy ông H7 vào dọn mặt bằng và làm móng nhà.
Các chủ cũ của thửa đất số 398 trong đó có bà Văn Thị L xác định: Thời điểm
bà nhận chuyển nhượng đất thì giáp ranh hai bên đều đã làm nhà ở ổn định, chỉ còn
thửa 398 là đất trống có chiều rộng mặt đường 5m, khi chuyển nhượng có đo đạc
hiện trạng, ranh giới với thửa đất của ông H bà nhớ có đóng cọc, không để ý là đã
có hàng gạch xây hay hàng rào của gia đình ông H hay chưa. Còn bà Trần Thị T1
nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng bà L từ tháng 10/2021, thời điểm đó xung
quanh đã có nhà, ranh giới với gia đình ông H là hàng gạch xây từ trước ra sau đến
hết thửa đất, do ai xây thì bà không biết, bà không làm thay đổi hiện trạng gì cho
đến khi chuyển nhượng cho vợ chồng ông H7.
Theo ông H7, khi ông nhận chuyển nhượng thửa đất 398 thì ranh giới là móng
gạch xây đã có từ trước, ông chỉ tháo dỡ phần hàng rào lưới B40 có khung sắt được
dựng lên phía trên bờ gạch (do không xây gắn với bờ gạch) của gia đình ông H và
ông H không có ý kiến gì, ông H7 chỉ xây nhà trên phần đất của mình, đến nay bờ
gạch này vẫn còn nguyên, không có sự xê dịch.
Tại cấp phúc thẩm, ông H7 có cung cấp một số hình ảnh thửa đất số 398 trước
thời điểm xây dựng nhà thì thấy ranh giới với thửa đất 399 là tường nhà do chủ sử
dụng thửa đất 399 xây, còn ranh giới với thửa 366 có một móng gạch xây từ trước
ra sau đến hết phần nhà của ông H, bên trên hàng gạch là hàng rào lưới B40 khung
7
sắt có thể tháo dỡ, hàng gạch này để phân biệt nền đất thửa 399 cao hơn so với thửa
366.
Như vậy, khẳng định trước khi ông H7 nhận chuyển nhượng đất thì ranh giới
giữa thửa đất số 398 và 366 là móng gạch xây từ trước ra sau đã có sẵn, ông H đã
biết nhưng không có ý kiến gì. Sau đó ông H7 tiến hành xây nhà trong phần đất của
mình, không vượt qua ranh giới này, theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện
nay móng gạch đó vẫn còn, không bị xê dịch.
[2.3] Xét kết quả đo đạc kỹ thuật thể hiện:
Thửa đất số 366 gia đình ông H đang sử dụng, diện tích đo đạc thực tế là 374m
2
,
trong đó cạnh phía đông giáp đường Y là 13,21m, cạnh phía tây 11,84m; so với diện
tích được cấp GCNQSD đất là 362m
2
, trong đó cạnh phía đông có chiều dài 13,56m,
cạnh phía tây có chiều dài 11,97m. Như vậy chênh lệch giữa thực tế đo đạc và diện
tích trong GCNQSD đất của thửa 366 dư 12m
2
, cạnh phía đông thiếu 13,56m -
13,21m = 0,35m, cạnh phía tây thiếu 11,97m - 11,84m = 0,13m.
Thửa đất số 379, diện tích đo đạc thực tế là 90,7m
2
, có cạnh phía đông tiếp giáp
mặt đường dài 4,65m, cạnh phía tây dài 5,09m; so với GCNQSD đất được cấp diện
tích là 92,8m
2
, cạnh phía đông dài 4,7m, cạnh phía tây dài 5,18m. Như vậy chênh
lệch giữa thực tế đo đạc và diện tích trong GCNQSD đất của thửa 379 thiếu 2,1m
2
,
cạnh phía đông thiếu 4,7m – 4,65m = 0,05m, cạnh phía tây thiếu 5,18m – 5,09m =
0,09m.
Thửa đất số 399, diện tích đo đạc thực tế là 109,4m
2
có cạnh phía đông tiếp
giáp mặt đường dài 4,99m, cạnh phía tây 5,42m; so với GCNQSD đất được cấp diện
tích là 110,9m
2
, cạnh phía đông dài 5,0m, cạnh phía tây dài 5,42m. Như vậy chênh
lệch giữa thực tế đo đạc và diện tích trong GCNQSD đất của thửa 399 thiếu 1,5m
2
,
cạnh phía đông thiếu 5,0m – 4,99m = 0,01m, cạnh phía tây đủ.
Thửa đất số 398 gia đình ông H7 đang sử dụng, bao gồm cả phần đất tranh chấp
có diện tích đo đạc thực tế là 120,6m
2
, trong đó cạnh phía đông tiếp giáp mặt đường
dài 4,93m, cạnh phía tây dài 5,5m; so với GCNQSD đất được cấp diện tích là
124,3m
2
, cạnh phía đông dài 5,0m, cạnh phía tây dài 5,42m. Như vậy chênh lệch
giữa thực tế đo đạc và diện tích trong GCNQSD đất của thửa 398 thiếu 3,7m
2
, cạnh
phía đông thiếu 5m - 4,93m = 0,07m, cạnh phía tây dư 5,5m – 5,42m = 0,08m. Còn
phần móng gạch phía trước giáp mặt đường có chiều dài 0,1m ông H7 không sử
dụng.
Cộng các số đo thửa đất số 398 + 399 + 379 (tương đương thửa 367) thì thực
tế chiều dài cạnh phía đông tiếp giáp mặt đường là 14,57m, so với GCNQSD đất
được cấp thiếu 14,7m - 14,57m = 0,13m, cạnh phía tây dài 16,01m so với GCNQSD
đất được cấp thiếu 16,03m - 16,01m = 0,02m.
Như vậy, hiện trạng sử dụng của tất cả các thửa đất so với GCNQSD đất được
cấp đều bị thiếu ở cạnh phía đông tiếp giáp mặt đường Y Wang, không riêng gì thửa
đất của ông H, trong khi các hộ đã sử dụng đất ổn định và không có tranh chấp cho
đến thời điểm ông H7 xây dựng nhà. Do đó có cơ sở xác định GCN đã cấp chưa
đúng thực tế sử dụng đất của các hộ. Ông H cho rằng ông H7 lấn chiếm 0,3m mặt
8
đường Y nhưng kết quả đo đạc cho thấy đất của ông H cũng đang bị thiếu, ông H
không có hành vi lấn chiếm, không xê dịch ranh giới là hàng gạch.
[2.4] Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào số đo các cạnh của thửa đất số 366 bị thiếu
so với GCNQSD đất được cấp và kết quả lồng ghép bản đồ địa chính thể hiện các
thửa đất 379, 399, 398 sử dụng không trùng khớp với vị trí được cấp GCN, tịnh tiến
về phía thửa đất số 366 của ông H với khoảng cách sai lệch từ 0,2-0,3m để khẳng
định diện tích đất tranh chấp 6,3m
2
thuộc thửa đất số 366 là thiếu cơ sở. Bởi lẽ, sơ
đồ lồng ghép địa chính chỉ mang tính chất tham khảo, hiện trạng sử dụng đất nguyên
thửa đất số 54 (sau này là thửa số 2) theo ông H xác định đã ổn định từ năm 1987,
sau đó ông H tách thửa và chuyển nhượng cho người khác, khi các chủ sử dụng đất
của thửa 379, 399 xây dựng nhà thì ông H tuy ở gần đó nhưng không có ý kiến gì;
còn thửa 398 của ông H tạo lập sau cùng khi ranh giới hai bên đã có sẵn, trường hợp
có việc sử dụng đất không khớp với vị trí cấp GCN thì cũng không phải do lỗi của
ông H7, các bên chỉ sử dụng theo thực tế.
Xét thấy, ông H không đưa ra được chứng cứ chứng minh ông H7 có hành vi
lấn chiếm đất nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, buộc
ông H7 trả lại giá trị phần diện tích 6,3m
2
là không có căn cứ.
[3] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên nguyên
đơn phải chịu 3.236.000 đồng chi phí đo đạc kỹ thuật, 2.200.000 đồng chi phí xem
xét thẩm định tại chỗ, 3.700.000 đồng chi phí thẩm định giá tài sản và 300.000 đồng
chi phí sao lục hồ sơ đất đai. Tổng cộng 9.436.000 đồng, được khấu trừ số tiền
nguyên đơn đã nộp tạm ứng và chi phí xong.
[4] Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch
đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, tuy nhiên ông H là người cao tuổi
và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí. Ông H7 không phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông H7 không
phải chịu án phí.
[5] Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm chỉ yêu cầu nguyên
đơn cung cấp thông tin của các chủ sử dụng đất thửa 379 và 399 mà không yêu cầu
bị đơn là hộ sử dụng đất liền kề cung cấp là thiếu sót, dẫn đến việc không có thông
tin đầy đủ để triệu tập tham gia tố tụng; đồng thời không thu thập địa chỉ của các
chủ sử dụng đất thửa 398 qua các thời kỳ để làm rõ ranh giới sử dụng đất cũng là
thiếu sót. Các nội dung này tại cấp phúc thẩm đã được bổ sung, nhưng do đương sự
không tham gia tố tụng mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Toà án cấp sơ thẩm cần rút
kinh nghiệm.
[6] Từ những phân tích và lập luận trên, xét thấy cần chấp nhận toàn bộ kháng
cáo của ông H7, sửa bản án sơ thẩm theo hướng như đã phân tích.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
9
Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Tấn H1. Sửa Bản án dân sự sơ
thẩm số 125/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk.
Áp dụng Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 31, Điều 134, Điều 235 và
Điều 236 Luật đất đai năm 2024; khoản 1 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản
2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H về
việc: Buộc vợ chồng ông Huỳnh Tấn H1, bà Hồ Thị H3 phải trả lại diện tích đất lấn
chiếm 6,3m
2
và tháo dỡ tài sản xây dựng trên phần đất tranh chấp (một phần của căn
nhà xây 02 tầng), thuộc thửa đất số 366, tờ bản đồ số 65, tại phường E, tỉnh Đắk Lắk
cho ông Nguyễn Văn H có tứ cận:
+ Phía bắc giáp phần còn lại của thửa đất số 366, tờ bản đồ 65 của ông Nguyễn
Văn H, cạnh dài (19,39 + 5,88 + 0,12)m;
+ Phía nam giáp thửa đất số 398, tờ bản đồ 65 của ông Huỳnh Tấn H1, cạnh
dài (20,76 + 4,35 + 0,15)m;
+ Phía đông giáp đường Y, cạnh dài 0,3m;
+ Phía tây giáp thửa đất số 03, cạnh dài 0,3m.
2. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H phải chịu 9.436.000
đồng (Chín triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn đồng) chi phí đo đạc kỹ thuật, xem
xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản và chi phí sao lục hồ sơ đất đai, được
khấu trừ số tiền ông H đã nộp tạm ứng và chi phí xong.
3. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H được miễn tiền án
phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Huỳnh Tấn H1 được trả lại số tiền
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số
0002946 ngày 21/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa PT TANDTC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Đương sự;
- Cổng thông tin điện tử TA;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
10
Lê Thị Thanh Huyền
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm